What matters in global education: Big Questions for the New Year


Photo by Rachael Ren
Photo by Rachael Ren

It’s been a bumpy few years for international education — and 2022 could bring more of the same. Later in this newsletter, I’ve got predictions from readers about what this year holds for the field.

Here are three big questions I expect to be asking in my reporting. Will a hybrid approach to international education stick? 
Even more than the rest of higher education, international ed prioritizes the experiential. Global mobility, both inbound and outbound, has prized immersion in culture and place. Covid-19 disrupted that: Many international students were forced to study remotely from their home countries. Virtual education abroad and internships replaced semesters in Barcelona and Rome.Let’s be blunt: Many of these experiences were not ideal. But as the pandemic has worn on, we’ve all become better at virtual. It also offers opportunity: Virtual exchange can open international study to the 90 percent of U.S. undergraduates who don’t go abroad. Transnational education may bring an American education to students who can’t spend four years here. At the same time, concerns about sustainability have led students and educators alike to approach international travel more deliberately. In the post-pandemic future, will virtual and hybrid compliment the in-person? Or will they continue to be viewed, and resourced, as second class?

Can international education diversify? For a field that is global, it can sometimes look homogenous: U.S. colleges draw students predominantly from a handful of countries and send them out to a relatively small number of nations. Partnerships are clustered in certain parts of the world. Some institutions are deeply global, while many others have minimal international programming. We want to diversify participation in international experiences, but those of us drawn to this work don’t necessarily look like the students we hope to attract. (And yes, I include myself among the “we.”)Change has been coming, but it’s been incremental. Will the pandemic jumpstart diversification and transformation? Or, under pressure to do more with less, will the status quo be reinforced?

Will the pandemic help make the case for internationalization? Back in 2019, I wrote about whether the “golden era” for international education was over — if there had ever been one. The pandemic may offer even more of an inflection point. On one hand, it underscores the importance of the global connections made on campus — the swift development of Covid vaccines simply would not have been possible without multinational teams of researchers, many of them former international students. As international enrollments tumbled, the absence of foreign students made visible their critical importance to campus diversity and to college budgets. Even the Biden administration has recognized the value of international education and pledged to take a more proactive and consistent approach to sustaining it.Still, there will undoubtedly be college leaders who see the disruption to international mobility as a litmus test and decide that it is a discretionary activity that their students can do without. Belt-tightening and burnout has forced thousand of international educators from the field, and many won’t be back. Even some veterans have told me how discouraged they are by Washington policies that work as cross-purposes with attracting international students as well as their struggles to make the case to administrators. Which vision will win out?Your forecasts for the year ahead are below. But first some news…

Tiếp tục đọc “What matters in global education: Big Questions for the New Year”

What’s behind the decision to close Yale-NUS College?(Singapore’s first liberal-arts college)

NUS said the best elements of Yale-NUS and its own University Scholars Programme will form the basis of a yet-to-be-named new college.NUS said the best elements of Yale-NUS and its own University Scholars Programme will form the basis of a yet-to-be-named new college.ST PHOTO: CHONG JUN LIANG


Sandra DavieAng Qing and Ng Wei Kai PUBLISHEDSEP 5, 2021, 5:00 AM SGT

SINGAPORE – More than a week since the shock announcement that Yale-NUS College will close its doors in 2025, students and alumni are still wondering if they will get a more detailed explanation of the decision.

Tiếp tục đọc “What’s behind the decision to close Yale-NUS College?(Singapore’s first liberal-arts college)”

Đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam: Vẫn còn hình thức

tia sáng – 21/07/2021 07:00 – Châu Dương Quang

Gần đây, giáo dục Việt Nam liên tục ghi nhận những trường được cấp phép và hoạt động phi lợi nhuận, mô hình đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học tại một số nước tiên tiến. Tuy nhiên, dường như sự khác biệt giữa mô hình đại học tư thục không vì lợi nhuận và vì lợi nhuận ngày càng mang tính hình thức hơn là thực chất, và điều này tạo ra các kẽ hở pháp lý mà một số bên có thể lợi dụng.

Everglades College từng là trường tư vì lợi nhuận được Arthur Keiser mua lại, xin được cơ chế trở thành trường tư không vì lợi nhuận. Nhưng một thời gian sau Everglades lại mua trường Keiser vì lợi nhuận của chính Arthur Keiser. Tờ Nytimes đã có bình luận “Một số nhà đầu tư của đại học tư nhân đã thu lợi bẩn nhờ vào quá trình phi lợi nhuận”. Nguồn ảnh: Nytimes.

Tiếp tục đọc “Đại học tư thục không vì lợi nhuận tại Việt Nam: Vẫn còn hình thức”

Đạo văn ở Việt Nam – 3 bài


Chống đạo văn: “Có ai nói cho các em đâu!”

12/03/2018    07:33 GMT+7

 – Bao nhiêu phần trăm sinh viên đại học, học viên cao học ở các cơ sở đào tạo của Việt Nam biết cách viết một bài tiểu luận đảm bảo tiêu chuẩn về đạo đức học thuật? Bao nhiêu phần trăm biết cách trích dẫn đúng trong một luận văn, luận án tốt nghiệp?

Con số đó là cực kỳ thấp, kể cả ở những trường đại học tốp đầu Việt Nam. Đó là nhận định của chính các giảng viên đang giảng dạy trong trường đại học. Thậm chí, một bộ phận lớn vẫn còn rất xa lạ với khái niệm “đạo văn” và mới chỉ dừng lại ở những hiểu biết sơ khai về vấn đề này. 

Chống đạo văn: 'Có ai nói cho các em đâu!'

Sinh viên Việt Nam: Ý thức chống đạo văn gần như bằng 0

Tiếp tục đọc “Đạo văn ở Việt Nam – 3 bài”

Why some researchers struggle to escape the ivory tower


Academics are increasingly expected to share their research widely beyond academia. However, our recent study of academics in Australia and Japan suggests Australian universities are still very much focused on supporting the production of scholarly outputs. They offer relatively limited support for researchers’ efforts to engage with the many non-academics who can benefit from our research.

One reason engagement is expected is that government, industry and philanthropic sources fund research. And when academics share their research with the public, industry and policymakers, this engagement is good for the university’s reputation. It can also lead to other benefits such as research funding.

Tiếp tục đọc “Why some researchers struggle to escape the ivory tower”

Professors need to know What Students Want from online learning during the pandemic


In recent months there’s been no shortage of surveys in which students describe the challenges they faced during the pivot to remote education in the spring and summer. Many struggled to secure consistent Wi-Fi access and a quiet place to learn. They felt overwhelmed, not just by the pandemic, but in trying to keep track of assignments, deadlines, and communication with their professors. They missed the routines and relationships of campus life. Motivation was a real challenge.

So what do they want their professors to know, in order to make the experience better this fall? I put that question to a panel of experts — students and faculty members — this week in a Chronicle webinar. I encourage you to watch it here because they had many great ideas and insights. But if you’re short on time, here are a few key takeaways.

Connections are crucial to learning. To prime students to learn, ensure that they feel connected to you and to the class. That’s not easy to do online, but consistent outreach, regular office hours, and a wise use of synchronous class time will help.

One panelist in the webinar, Vikki Katz, an associate professor in Rutgers University’s School of Communication and Information, surveyed 3,000 undergraduates across the country about their remote-learning experiences last spring. A crucial factor in students’ developing a sense of confidence and competence in a remote-learning environment, she and her co-author found, was whether they felt faculty members were accessible to them. Tiếp tục đọc “Professors need to know What Students Want from online learning during the pandemic”

Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa

  • LOAN PHƯƠNG, 23.11.2019, 08:00

TTCT – Trong khi tám đại học lớn được chính quyền tài trợ ở Hong Kong có lịch sử đấu tranh chính trị đã lâu đời, những cuộc biểu tình do sinh viên khởi phát và đóng vai trò trụ cột khắp vùng lãnh thổ này suốt 5 tháng qua là chưa có tiền lệ. Những trận chiến âm thầm khác diễn ra ngay trong khuôn viên xanh mát của các trường đại học cũng vậy.

Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa
Sinh viên Đại học Bách khoa Hong Kong đeo mặt nạ trong lễ tốt nghiệp. Ảnh: Nikkei

Tiếp tục đọc “Hong Kong: Học đường biến thành chiến trường và cội rễ sâu xa”

Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam


Đề nghị sau đây là một khung tư duy gồm những nguyên tắc chính để đổi mới hệ thống giáo dục Đại học VN. Mỗi nguyên tắc chính đều có nhiều chi tiết cần thực hành khi khai triển thành hành động cụ thể.

1. Cạnh tranh trong thị trường tự do: Khi có cạnh tranh tự do thì sản phẩm (giáo dục) tăng chất lượng và giá cả thấp xuống.

2. Đại học tự trị: Đại học là nơi dạy người ta suy nghĩ và sáng tạo, và nơi sản xuất chất xám cho đất nước. Đại học phải được tự trị, để có thể tự do dạy bất kì môn gì, dạy bất kì kiểu nào, nghiên cứu bất kì đề tài nào, tự do tuyển chọn và quản lý giáo chức và sinh viên, và độc lập tài chính, để tự do phát triển tri thức. Tiếp tục đọc “Đề nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam”

Dạy môn Đạo đức ngành kỹ thuật và công nghệ ở bậc đại học – Những vấn đề tồn tại

English: Continuing and Emerging Issues in Engineering Ethics Education

Trong bài viết này, tác giả thảo luận những ưu và nhược điểm của xu hướng giảng dạy và mô hình của chương trình học khi dạy môn Đạo đức trong ngành công nghệ và kỹ thuật ở các trường đại học tại Mỹ.

Hai thập kỷ qua, giáo dục đại học ngành kĩ thuật đã có nhiều thay đổi, gồm có nhận thức ngày càng tang về tầm quan trọng của đạo đức và trách nhiệm xã hội đối của ngành công nghệ kỹ thuật. Một phần do tranh cãi chính trị về ý nghĩa về xã hội của công nghệ và việc thay đổi các tiêu chuẩn giáo dục được phát triển bởi Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ (Accreditation Board for Engineering and Technology – ABET), các nhà giáo dục trong ngành kỹ thuật đã bắt đầu nghiêm túc đón nhận và hành động cho những thử thách khi chuẩn đào tạo những người lành nghệ có năng lực kỹ thuật và nhạy cảm về đạo đức.
Điều này không có nghĩa là các khóa học về đạo đức ngành kỹ thuật đã trở thành chuẩn mực. Stephan năm 1999 xác định rằng gần 70 phần trăm các tổ chức được ABET – Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ công nhận không hề có các khóa học liên quan đến đạo đức cho tất cả sinh viên kỹ thuật. Mặc dù 17% các viện trường đại học có một hoặc nhiều khóa học bắt buộc có nội dung liên quan đến đạo đức, những khóa học này thường không hẳn dạy về đạo đức ngành kỹ thuật, mà dạy các môn liên quan tới đạo đức như: triết học, tôn giáo hoặc các môn học khác. Tuy nhiên, vấn đề đạo đức ngành công nghệ kỹ thuật đã bắt đầu ghi nhận những dấu ấn nhất định khi trở thành môn học bắt buộc cũng như nhiều khóa học tự chọn trong chương trình tại một số trường đại học. Tiếp tục đọc “Dạy môn Đạo đức ngành kỹ thuật và công nghệ ở bậc đại học – Những vấn đề tồn tại”

Giáo dục nhân văn ở đại học

tiasang – 26/03/2018 08:00 – Neal Koblitz

Một đại học tốt không phải là một cơ sở đào tạo nghề. Nếu như trong đào tạo nghề, một sinh viên chỉ học các kĩ năng liên quan đến kĩ thuật để kiếm một việc làm đủ tốt, thi thoảng có thể học thêm một vài thứ gọi là “kỹ năng mềm”, bao gồm tâm lý học và quản trị, để phục vụ cho việc giám sát nhân viên và giao tiếp với khách hàng. Nhưng, “đại học”, xuất phát từ khái niệm “tri thức toàn cầu” (universal knowledge) và hơn hết, nó có nghĩa là giáo dục nhân văn. Lịch sử, văn học, ngoại ngữ và các môn nghệ thuật là cốt lõi của giáo dục đại học chất lượng cao.

Kết quả hình ảnh cho firestone library princeton nj
Thư viện Firestone của Đại học Princeton, Mỹ dành cho các sách trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.

Khái niệm “khai phóng” (liberal arts), xuất phát từ gốc Latin liberalis trong thời kì cổ đại, nhằm chỉ những kiến thức tổng quát mà một con người tự do cần nắm được để tham gia vào đời sống dân sự. Trong thời hiện đại, thuật ngữ này thường chỉ chung những môn học nằm ngoài các môn chuyên ngành, kỹ thuật, dạy nghề. “Khai phóng” có thể bao gồm những môn khoa học xã hội và khoa học cơ bản nhưng trọng tâm của giáo dục khai phóng là các ngành nhân văn.

Giáo dục khai phóng đem lại lợi ích to lớn hơn nhiều so với việc dạy nghề một cách hạn hẹp. Trước hết, chất lượng đời sống dân sự của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết của công dân. Điều đó bây giờ còn thiết thực hơn so với trước kia. Chúng ta đang đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp trong thế kỉ 21 – biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, sự bất bình đẳng ngày càng gia tăng giữa người giàu và người nghèo, căng thẳng trên trường quốc tế và nguy cơ xảy ra chiến tranh. Trước những thách thức đó, một chính phủ có thể sẽ nhận được sự ủng hộ to lớn của công chúng khi đưa ra những chính sách dài hạn và khéo léo nếu như người dân được giáo dục tốt. Ngược lại, những người dân không có hiểu biết về lịch sử và văn hóa thường có xu hướng ủng hộ những quan điểm cực đoan và hiếu chiến mà họ thu nhận được từ internet hoặc mạng xã hội.

Thứ hai, trong khi dạy nghề chỉ chuẩn bị cho sinh viên trở thành một mắt xích trong một cỗ máy sản xuất hoặc một bộ máy hành chính, giáo dục khai phóng bồi đắp tri thức cho con người một cách toàn diện, chuẩn bị cho họ đối diện với nhiều khía cạnh của đời sống.

Lý do thứ ba – thường không mấy được chú ý, đó là phông kiến thức rộng về các lĩnh vực nhân văn đem lại những lợi ích to lớn cho những chuyên gia trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Chỉ trừ một số rất ít ngoại lệ, nếu muốn tạo ra ảnh hưởng xã hội, những người trong lĩnh vực STEM phải có kĩ năng viết hiệu quả và sáng tạo. Chẳng hạn như trong lĩnh vực của chính tôi, về ứng dụng của toán học trong bảo mật thông tin. Bốn mươi năm trước, vào thuở bình minh của kỷ nguyên máy tính, Hiệp hội Kỹ sư điện và điện tử (IEEE) đã xuất bản một bài báo với nhan đề “Những phương hướng mới trong ngành mật mã học”, được coi là bài báo quan trọng nhất trong lịch sử lĩnh vực này. Viết bởi hai nhà khoa học máy tính được đào tạo một cách toàn diện, Wit Diffie và Martin Hellman, tác động của bài báo không phải bởi những kiến thức chuyên ngành (Phím biến hoán Diffe- Hellman), dù rất ấn tượng mà bởi hai tác giả có khả năng vẽ ra một tương lai của internet mà cho đến bây giờ vẫn đóng vai trò dẫn dắt cho sự phát triển những định luật cơ bản của mật mã học.

Xã hội luôn cần những con người có thể diễn dịch ngôn ngữ khoa học công nghệ thành ngôn ngữ mà công chúng và những nhà hoạch định chính sách có thể hiểu được. Chẳng hạn, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo mật dữ liệu, ở mức độ nào đó, phải khuyến cáo chính phủ trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. Hơn nữa, những người có khả năng giao tiếp hiệu quả luôn là thành viên chủ chốt trong một nhóm nghiên cứu liên ngành.

Những nhà khoa học muốn trình bày công trình của họ ở một hội thảo lớn hoặc trên những tạp chí hàng đầu nên học cách viết tốt. Những phần quan trọng nhất của một công bố là phần tóm tắt (Abstract) và mở đầu (introduction), bởi vì đây là phần mà tất cả mọi người sẽ đọc và dựa vào đó để đánh giá người viết. Một phần mở đầu tốt cần phải rõ ràng và hấp dẫn đối với cả những người ngoài ngành, nó kể một câu chuyện đi từ nhận định về vấn đề, tính cấp thiết, tổng quan những nghiên cứu trước đó cho đến khái quát về đóng góp của bài báo và thách thức cho những nghiên cứu và phát triển sau này. Tương tự như vậy, một đơn xin tài trợ hoặc một báo cáo chính về một dự án có thành công hay không phụ thuộc vào khả năng truyền tải những thành tựu khoa học trong một ngôn ngữ đưa ra bối cảnh, lịch sử và phương hướng mà không bị mắc lỗi “thấy cây mà không thấy rừng”.

Điểm chung trong những lý do trên là khả năng kể câu chuyện. Trái ngược với những quan điểm sai lầm về khoa học và công nghệ, một công trình kỹ thuật tốt không phải là những công thức hay phép tính rời rạc mà nó phải thể hiện mình là một phần của câu chuyện dài kì với một dàn nhân vật đông đảo.

Kể chuyện cũng là hoạt động trải dài suốt một đời người, từ khi chúng ta còn thơ bé. Nó cũng là cốt lõi của nhiều truyền thống văn hóa.

Vậy làm sao để một sinh viên kể chuyện giỏi? Đầu tiên và quan trọng nhất, bằng cách đọc những tác phẩm văn học lớn. Tôi có một sự biết ơn sâu sắc, đầu tiên là với tất cả những người thầy dạy Văn học Anh xuất sắc thời phổ thông và thứ hai là với Dostoevsky, tác giả của những tác phẩm mà tôi say mê khi còn trẻ. Một cách khác để sinh viên có thể học cách phân tích bối cảnh và theo dõi sự hình thành và phát triển của một ý tưởng đó là học lịch sử. Thứ ba, một trong những cách hiệu quả nhất để mở rộng quan điểm và trân trọng những sắc thái trong giao tiếp là qua việc học ngoại ngữ và văn học (Tôi học bằng kép là Toán học và Văn học, ngôn ngữ Nga khi tôi còn là sinh viên đại học).

Các trường đại học Mỹ có truyền thống lâu đời về giáo dục khai phóng. Tuy nhiên, mặt bằng chung giáo dục đại học của Mỹ đang bị giảm sút, vì nhiều lý do. Yêu cầu về ngoại ngữ bị hạ thấp hoặc loại bỏ – ở mức mà hầu hết các sinh viên ở đại học Mỹ chỉ biết mỗi tiếng Anh. Hơn nữa, họ cũng không hiểu rõ ngôn ngữ viết của mình đủ tốt, do kĩ năng viết được dạy qua loa ở cả trường phổ thông và đại học.

Nhiều giáo sư phàn nàn về sự “kinh doanh hóa” trong trường đại học của họ. Khái niệm “Kinh doanh hóa” nghĩa là những người điều hành trường đại học đặt ưu tiên tài chính lên hàng đầu. Những khoa có nhiều hợp đồng với khối chính phủ và khối công nghiệp – thường sẽ không bao gồm các khoa liên quan đến các môn khai phóng – mới được hỗ trợ. Sự cắt giảm ngân sách đặc biệt nhắm vào những lĩnh vực trong trường đại học mà không đem lại những lợi ích kinh tế ngay lập tức. Một tỉ lệ lớn ngân sách của đại học giờ đây được dùng để chi trả cho bộ máy hành chính và các chương trình thể thao hơn là những nhu cầu học thuật căn bản. Những người điều hành trường đại học luôn tìm kiếm cách thức để “giáo dục với giá rẻ” qua hình thức các khóa học online, sử dụng những học sinh cao học và các giáo sư danh dự để giảng dạy hơn là những người trong biên chế, và cấp cho sinh viên miễn phí các chứng chỉ cho các môn ở đại học nếu sinh viên đó đã học các khóa tương tự (nhưng với chất lượng rất thấp) ở phổ thông hoặc các trường cao đẳng cộng đồng. Hơn nữa, các giáo sư thì lúc nào cũng bị áp lực phải chấm điểm cao hơn và thiết kế khóa học dễ hơn. Tuy vậy, mặc dù với những xu hướng tiêu cực này, các sinh viên tốt nhất ở những trường đại học hằng đầu ở Mỹ vẫn được giáo dục tốt trong các môn nhân văn.

Điều gì tạo nên đẳng cấp cao của giáo dục đại học? Những sinh viên được giáo dục tốt ở Việt Nam, ngoài tiếng Anh và tiếng Việt, nên biết ít nhất thêm một ngoại ngữ và nền văn học khác – có thể là tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nga, tiếng Trung hoặc Ả Rập (cùng với tiếng Anh là một trong sáu ngôn ngữ trong Liên Hợp Quốc). Họ cũng cần phải có kiến thức về truyền thống văn hóa và lịch sử, cả thời cổ và hiện đại và biết trân trọng vị trí của Việt Nam trong lịch sử thế giới.

Những kiến thức lịch sử hết sức cấp thiết đối với những công dân được đào tạo bài bản. Tôi cảm thấy hết sức khó chịu khi nghe thấy những người Mỹ và vài người Việt Nam nói rằng Việt Nam “chỉ nên nghĩ về tương lai thay vì ngoái lại quá khứ”. Sự thiếu hiểu biết về quá khứ không phải là điều đáng tự hào hay đáng khuyến khích. Những sự kiện và truyền thống lịch sử đem lại những bài học giá trị và chỉ dẫn cho tương lai. Trong nhiều trường hợp, nó còn truyền cảm hứng cho thế hệ sau.

Ví dụ, trận Điện Biên Phủ huy hoàng 64 năm về trước là một sự kiện chấn động của thế kỷ 20 – đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân châu Âu. Trong Kháng chiến chống Mỹ, việc sơ tán trường đại học lên những cánh rừng của Thái Nguyên là một thành tựu chưa từng xuất hiện trong lịch sử thế giới. Trước đấy, chưa bao giờ có một nước đang phát triển trong giai đoạn nghèo khó có đủ khả năng duy trì giáo dục đại học chất lượng cao lúc sơ tán trong khi thủ đô thì bị đánh bom bởi một lực lượng quân đội có sức mạnh khủng khiếp. Theo ý kiến của tôi, sẽ là hợp lý nếu ngày nào đó, những địa điểm lịch sử này, Điện Biên Phủ và địa điểm sơ tán của Đại học Hà Nội được công nhận là di sản thế giới của UNESCO.

Những người trẻ được đào tạo bài bản về nghệ thuật, lịch sử , văn học và ngoại ngữ sẽ có khả năng bảo tồn truyền thống văn hóa của đất nước họ. Họ sẽ không dễ dàng bị dụ dỗ bởi những giá trị giả tạo của chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa tiêu dùng bành trướng đang được du nhập từ các quốc gia khác. Họ có thể dẫn dắt đất nước của họ theo một con đường độc lập.

Hãy để tôi kết luận với một lời cảnh báo. Khái niệm “khai phóng” đang trở thành một từ thời thượng để quảng cáo của những tổ chức gọi là đại học đang mọc lên như nấm ở rất nhiều nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam. Nhận định này đặc biệt phổ biến ở những “đại học” mà Mỹ tài trợ, chẳng hạn như Đại học Fulbright Việt Nam. Đừng bị lầm tưởng bởi những bong bóng quảng cáo. Trước khi đồng tình với những tuyên bố “chúng tôi theo đuổi giáo dục khai phóng”, hãy hỏi vài câu sau đây: Có bao nhiêu khoa cung cấp bằng Tiến sĩ ở các môn học như lịch sử, văn học và nghệ thuật? Họ có thư viện kiểu gì? Những khoa học về lịch sử và văn học là về Việt Nam hay các quốc gia khác? Họ có những cơ sở vật chất nào cho các studio về nghệ thuật? Những người điều hành cấp cao là những trí thức thực sự với những công bố khoa học, hay chẳng qua họ chỉ là doanh nhân và các chính trị gia? Trong hầu hết các trường hợp, những câu trả lời cho những câu hỏi này là đủ để tiết lộ tổ chức đấy không phải là những đại học thực sự và không đủ khả năng để theo đuổi giáo dục khai phóng.

Chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục đại học cho những người trẻ ở Việt Nam không nằm trong những đại học nước ngoài hay đại học tư nhân mà nằm ở sự tiến bộ của những đại học quốc gia và đại học vùng của Việt Nam. Với sự hỗ trợ của chính phủ, những trường đại học này có thể không chỉ đào tạo để cho sinh viên có việc làm mà còn có thể cung cấp một nền giáo dục khai phóng.

Hảo Linh dịch

Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai

  Linh Hương

(GDVN) – Việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới.

LTS: Sự tách rời giữa hệ thống các trường đại học và các viện nghiên cứu lớn, và việc vắng mặt các trường đại học đa lĩnh vực là hai tàn tích của mô hình Liên Xô cũ. Đây chính là hai cản trở lớn làm cho khối các nước kinh tế chuyển đổi có rất ít trường đại học đẳng cấp thế giới.

Nhận thấy rõ điều này, chia sẻ với Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư Lâm Quang Thiệp (Đại học Thăng Long) cho rằng, Việt Nam muốn sớm có các trường đại học đẳng cấp thì cần quyết tâm cao trong việc khắc phục các cản trở nói trên.

Theo giáo sư Lâm Quang Thiệp,  việc hai đại học lớn nhất ở nước ta không được xây dựng theo mô hình “university” thật sự là một cản trở lớn để phấn đấu trở thành đại học đẳng cấp thế giới. (Ảnh: Thùy Linh)

Tiếp tục đọc “Mô hình đại học trong đại học của Việt Nam chẳng giống ai”

Báo cáo về tình trạng giáo dục đại học ngành kỹ thuật công nghệ trên toàn cầu

Tóm tắt

Nghiên cứu này xem xét tình trạng mới nhất của giáo dục đại học các ngành kỹ thuật trên toàn cầu. Nghiên cứu được thực hiện nhằm báo cáo cho Khoa Chuyển đổi giáo dục các ngành kỹ thuật mới (NEET) thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), sáng kiến này ​​có nhiệm vụ phát triển và cung cấp một chương trình giáo dục kỹ thuật đại học hàng đầu thế giới tại trường đại học.

Nghiên cứu được cấu trúc thành hai giai đoạn, cả hai đều sử dụng các phương pháp phỏng vấn trực tiếp một-một làm công cụ thu thập bằng chứng chính:

Giai đoạn 1 được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2016, Giai đoạn 1 đã cung cấp một bức tranh khái quát về đột phá tiên tiến của giáo dục kỹ thuật toàn cầu và cách thức phát triển mới nhất trong tương lai. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện các cuộc phỏng vấn với 50 nhà lãnh đạo về tư tưởng toàn cầu trong giáo dục kỹ thuật và xác định các trường đại học hiện tại và mới nổi được đánh giá cao trong lĩnh vực này.

Giai đoạn 2 được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2017, Giai đoạn 2 liên quan đến nghiên cứu của bốn tổ chức được chọn và xác định trong Giai đoạn 1 là ‘tổ chức đi đầu mới nổi’ trong giáo dục kỹ thuật: Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore (Singapore), Đại học College London (Anh), Đại học Charles Sturt (Úc) và TU Delft (Hà Lan).
Tiếp tục đọc “Báo cáo về tình trạng giáo dục đại học ngành kỹ thuật công nghệ trên toàn cầu”

The High School Course Beijing Accuses of Radicalizing Hong Kong

From left, Jessie Cheung, Jerming Zhang, Clary Yeung and Maggie Ho with a protest banner at their school in Lai Chi Kok, Hong Kong, in July.
CreditCreditLam Yik Fei for The New York Times

By Tiffany May and Sept. 1, 2019

HONG KONG — They are sitting in orderly rows, wearing neatly pressed uniforms. But in this class, as they debate the merits of democracy and civil rights, Hong Kong high school students are prompting Beijing to worry that they are increasingly out of control.

The mandatory civics course known here as liberal studies has been a hallmark of the curriculum in Hong Kong for years, and students and teachers say the point is to make better citizens who are more engaged with society.

But mainland Chinese officials and pro-Beijing supporters say the prominence of the city’s youth at recent mass protests is the clearest sign yet that this tradition of academic freedom has gone too far, giving rise to a generation of rebels.

“The liberal studies curriculum is a failure,” Tung Chee-hwa, a former leader of Hong Kong, said in July. “It is one of the reasons behind the youth’s problems today.”

Continue reading on the New York Times >>

Giáo dục đại cương đại học – Có đáng để học?

English: Gen Eds – Are They Worth It?

**Tại các trường đại học ở Mỹ, General Education hay các môn Giáo dục đại cương là một phần của chương trình giáo dục khai phóng, cung cấp những hiểu biết rộng về các môn khoa học và nghệ thuật khai phóng, và hình thành cơ sở phát triển tri thức, khả năng và hành vi công dân. Giáo dục đại cương có thể ở nhiều dạng, bao gồm cơ sở, nâng cao và kết hợp thực tiễn  (Chú thích của người dịch)

Nhiều người và nhiều sinh viên có thành kiến về giáo dục đại cương hay các môn học đại cương tại đại học. Chúng ta tự nhiên nghĩ rằng nếu là “đại cương” và không có sự chuyên biệt hoặc cụ thể, giáo dục đại cương phần nào đó “thấp hơn”. Thực tế, mọi chương trình học ở giáo dục đại học đều bao gồm việc hoàn thành một loạt khóa học gọi là “giáo dục đại cương” (GenEd). Có nhiều tranh luận về việc liệu các yêu cầu giáo dục phổ thông có nên là yêu cầu bắt buộc hay không, trên thực tế. Vậy câu hỏi sau đó trở thành: nếu các lớp học này là “bắt buộc”, giáo dục đại cương liệu có giá trị gì không?

Với cái nhìn của tôi, giáo dục đại cương có giá trị vượt xa tên gọi của các môn học. Những cơ hội học tập rộng mở duy trì mối quan hệ trực tiếp với sự hiểu biết phân tích và cung cấp cho chúng ta thông tin sâu sắc về ý nghĩa của các sự việc. Tiếp tục đọc “Giáo dục đại cương đại học – Có đáng để học?”