Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém – 3 kỳ

  • Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém
  • Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém – Kỳ 2: Ngành chăn nuôi lao đao
  • Thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém – Kỳ 3: Trái cây khó xuất, dễ nhập

***

Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém

09:00 AM – 19/01/2015 TN

Trong khi các nước thực hiện rất gắt gao hàng rào phi thuế quan để bảo hộ hàng hóa trong nước sau hội nhập thì VN lại chưa làm được việc này. Doanh nghiệp và cả nền sản xuất nội địa thiệt thòi trong cả việc xuất khẩu lẫn giữ thị phần ở sân nhà.

Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém
Nguy cơ phá sản ngành thép nội nếu không được bảo vệ – Ảnh: Ng.Nga

Thống kê từ Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) cho thấy, trong gần 20 năm qua, giai đoạn 1994 – 2012, VN bị kiện chống bán phá giá lên đến 52 vụ, trong đó riêng sản phẩm thép chiếm 29%, cao nhất trong các nhóm ngành bị điều tra. Điều đáng nói, VN hiện là một trong những nước có nhiều nhóm sản phẩm bị điều tra chống bán phá giá nhất.

Xuất khẩu bị làm khó

Thông tin từ Hiệp hội Thép VN (VAS), trong hiệp định thương mại tự do với liên minh hải quan Nga – Belarus – Kazakhstan, VAS đã nhận định, Nga là quốc gia sản xuất thép lớn thứ 5 thế giới với sản lượng trên 63 triệu tấn/ năm, khả năng cạnh tranh thép của VN với Nga lớn hơn nhiều so với Trung Quốc, nên đã đề xuất đưa mặt hàng thép xây dựng VN vào mặt hàng được bảo hộ, có lộ trình trong đàm phán. VN cần bảo hộ có chọn lọc 25/167 mặt hàng thép được sản xuất trong nước với lộ trình giảm thuế kéo dài từ 5 – 10 năm.

Đương nhiên, việc phải đối mặt với nhiều vụ kiện phòng vệ thương mại từ các nước đã ảnh hưởng không ít đến hoạt động sản xuất xuất khẩu của doanh nghiệp (DN).

Riêng trong hai năm 2011 – 2013, có ít nhất 8 vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp sản phẩm liên quan đến thép Việt tại các thị trường xuất khẩu. Ông Nguyễn Văn Sưa, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép VN (VAS), cho rằng hiện đang có xu hướng thép Việt bị kiện theo “chùm”, nghĩa là cùng một lúc, các nước đều kiện hoặc “kiện kép”, vừa chống bán phá giá, vừa chống trợ cấp. Đơn cử, trong cùng một ngày, mặt hàng đinh thép, ống thép dẫn dầu của VN bị Mỹ ra quyết định áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp, thép mạ kẽm VN bị điều tra chống bán phá giá tại Úc… “Những kiểu kiện thế này gây thiệt hại lớn về tài chính của DN, kim ngạch xuất khẩu giảm và quan trọng hơn là nguy cơ mất thị trường”, ông Sưa nhận định.

Bị kiện nhiều nhưng các DN sản xuất trong nước luôn tỏ ra lúng túng, bất ngờ hoặc chuẩn bị đối diện với vụ kiện rất sơ sài. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thua tại các vụ kiện chống bán phá giá ở các nước. Ông Đỗ Duy Thái, Tổng giám đốc Công ty thép Việt, thông tin thêm, sản phẩm thép của VN khi xuất khẩu sang các nước khu vực ASEAN gặp phải rào cản rất lớn về thủ tục hành chính. “Nhiều nước đưa ra các quy định phức tạp, lòng vòng bởi liên quan của nhiều ban ngành khác nhau. Có khi mất gần cả tháng mới xong được thủ tục và điều này làm chậm việc nhập khẩu hàng hóa vào nước sở tại. Hầu như lô hàng nhập khẩu nào cũng phải làm các thủ tục như nhau. Đây cũng là một cách để hạn chế nhập khẩu của các nước. Bên cạnh đó việc kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm cũng được quy định chặt chẽ nên để xuất khẩu được, hàng hóa VN phải đảm bảo về chất lượng và đúng theo tiêu chí kỹ thuật”, ông Thái thông tin.

Trong nước bị thép Trung Quốc lũng đoạn

Trong khi xuất khẩu thép bị làm khó ở nhiều thị trường thì ngay tại nội địa, thép ngoại đang tràn ngập và lũng đoạn thị trường. Đặc biệt là thép chứa Bo chủ yếu từ Trung Quốc tràn vào nội địa, chiếm mất thị phần của các nhà sản xuất trong nước, làm thất thu thuế của nhà nước.

Thép chứa Bo khi nhập vào VN được xác định là thép hợp kim, cho nên thuế nhập khẩu giảm từ 5% xuống 0%. Thực tế loại thép này không phải là thép hợp kim mà nhà sản xuất chỉ cho thêm một lượng Bo nhất định nhưng khai man để trốn thuế. Dù đã có nhiều quy định để kiểm tra song số lượng nhập khẩu hầu như không giảm. “Làm như vậy khiến cho DN sản xuất trong nước bị mất thị phần, người tiêu dùng bị mua phải hàng kém chất lượng và nhà nước bị thất thu thuế”, ông Đỗ Duy Thái nói.

Chuyên gia tư vấn chiến lược Robert Trần nhận định: Hiện nhiều quốc gia đã sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp một cách hiệu quả. Song có nhiều quốc gia chưa khai thác lợi thế của các biện pháp này để bảo vệ sản xuất trong nước, trong đó có VN. “Đối với các mặt hàng thép trong nước, nếu VN biết sử dụng phòng vệ để giải quyết được vấn đề nhập khẩu hàng giả, giá rẻ, kém chất lượng sẽ tạo nhiều cơ hội, giữ được thị trường cho DN sản xuất nội địa”.

Ông Nguyễn Văn Sưa cũng cho biết, các nước đều có quyền áp dụng các biện pháp tự vệ chính đáng theo luật WTO. Tuy nhiên, thời gian qua VN hầu như chưa áp dụng nhiều các giải pháp kỹ thuật. Điều đó khiến DN bị cạnh tranh gay gắt ngay từ thị trường nội địa đến thị trường xuất khẩu. Theo ông, bản thân các DN phải tự thân vận động để nghiên cứu và tìm cách né hàng rào phi thuế quan khi xuất khẩu. Nhưng quan trọng nhất là ở thị trường nội địa nhà nước phải xây dựng hàng rào để ngăn chặn các loại hàng hóa kém chất lượng, hàng hóa gây độc hại cho người dùng. Từ đó tạo môi trường cạnh tranh hơn cho DN trong nước.

Nguyên Nga – Mai Phương

***

Doanh nghiệp thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém: Ngành chăn nuôi lao đao

04:38 AM – 20/01/2015 Thanh Niên

Thị trường nội địa tràn lan thực phẩm nhập khẩu có nguồn gốc động vật, trong khi sản phẩm tương tự của VN lại hết sức nhọc nhằn tìm đường xuất khẩu ra nước ngoài.

Sản phẩm chăn nuôi VN đang rất khó xuất khẩu trong khi hàng ngoại thì nhập tràn lan
Sản phẩm chăn nuôi VN đang rất khó xuất khẩu trong khi hàng ngoại thì nhập tràn lan – Ảnh: Q.T

Muốn xuất hàng vào, phải qua 3 bộ

Tháng 11.2014, Cơ quan Kinh tế Đài Loan ban hành quy định tăng cường quản lý 89 mặt hàng dầu mỡ do sự cố về dầu mỡ dùng làm thực phẩm bị ô nhiễm tại lãnh thổ này. Trường hợp này chỉ liên quan đến một doanh nghiệp (DN) nhỏ của VN, nhưng Đài Loan đã tạm ngưng nhập khẩu toàn bộ mỡ động vật, mỡ heo và magarine dùng làm thực phẩm từ VN. Sau quyết định này, để có thể xuất khẩu (XK) vào Đài Loan, DN VN phải được sự đồng ý của Cơ quan Kinh tế, Cơ quan Y tế và Phúc lợi, Ủy ban Nông nghiệp Đài Loan. Bộ Y tế VN đã có công văn gửi cơ quan thẩm quyền Đài Loan để phản đối quyết định tạm ngưng nhập khẩu này, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Đây là trường hợp gần nhất mà sản phẩm động vật của VN bị vấp rào cản kỹ thuật ở thị trường XK.

“VN xuất khẩu luôn bị các rào cản kỹ thuật, thuế chống bán phá giá gây khó dễ, thậm chí không thể xuất đi được. Trong khi thị trường nội địa lại hết sức dễ dãi, hoàn toàn không có một rào cản nào để bảo hộ ngành chăn nuôi trong nước.

Đây chính là cái chết của ngành chăn nuôi VN”

Ông Âu Thanh Long, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ

Mặc dù là một nước nông nghiệp với tỷ trọng chăn nuôi ngày càng tăng nhưng đến nay mới chỉ có 5 loại sản phẩm có nguồn gốc động vật của VN XK tương đối ổn định là mật ong (trung bình mỗi năm xuất 30.000 – 35.000 tấn), các sản phẩm sữa chế biến của Vinamilk, TH milk; trứng muối, trứng tươi và thịt (chủ yếu xuất tiểu ngạch thịt heo sang Trung Quốc).

Ông Đàm Văn Hoạt, Giám đốc Công ty TNHH Trại Việt (Vietfarm), kể: “Chúng tôi có tiếp xúc một số khách hàng tại Hồng Kông nhưng tiêu chuẩn rất gắt gao. Chẳng hạn trứng XK phải lấy từ các trang trại được kiểm soát dịch bệnh, phải có hàm lượng kim loại nặng dưới ngưỡng cho phép và hàng loạt tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn dịch bệnh và thực phẩm khác”.

Ông Trần Nguyễn Hồ, chủ trang trại Nguyễn Hồ tại Tiền Giang, cũng cho biết: “Năm qua tôi XK thành công nhiều lô hàng trứng cút đi Nhật. Yêu cầu của Nhật hết sức khó khăn. Cụ thể, việc nuôi chim cút phải đảm bảo các yêu cầu an toàn sinh học, không có dư lượng kháng sinh trong trứng. Trứng cút sau khi luộc xong lòng đỏ phải nằm giữa trứng (không được nằm lệch một bên), trứng đóng lon sau khi mở ra sử dụng lòng đỏ không được có màng màu đen… Trước khi container đưa sang Nhật còn phải có người kiểm tra, gửi mẫu, đạt các tiêu chuẩn mới cho nhập khẩu vào”.

Sản phẩm thịt của VN hoàn toàn không XK được chính ngạch mà chủ yếu chỉ xuất tiểu ngạch qua Trung Quốc với số lượng hạn chế, không ổn định. Cuối năm 2014, thị trường Nga gặp biến động và nước này ngỏ ý muốn nhập 500.000 tấn thịt heo của VN. Tuy nhiên, do giá thành thịt heo VN cao, DN trong nước cũng không đáp ứng được những yêu cầu rất cao từ Nga nên cuối cùng Nga quay sang mua của Thái Lan.

Tự “cột chân”

Hầu như không XK được, ngành chăn nuôi VN còn rất chật vật ngay trên sân nhà vì phải cạnh tranh với nguồn thịt ngoại nhập tràn về. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, năm 2014 VN nhập chính ngạch 250.000 con trâu bò sống, nếu tính luôn lượng nhập qua biên giới 50.000 con thì tổng cộng trâu bò sống nhập khẩu lên đến 300.000 con. Bên cạnh đó, VN còn nhập hơn 3.200 tấn thịt heo đông lạnh, 90.000 tấn thịt gia cầm, dê, cừu.

Ông Âu Thanh Long, Phó chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ, nhận định: “VN XK đi luôn bị các rào cản kỹ thuật, thuế chống bán phá giá gây khó dễ, thậm chí không thể xuất đi được. Trong khi thị trường nội địa lại hết sức dễ dãi, hoàn toàn không có một rào cản nào để bảo hộ ngành chăn nuôi trong nước. Đây chính là cái chết của ngành chăn nuôi VN. Dễ thấy nhất là sản phẩm thịt gà. Nước ngoài họ không sử dụng đùi, cánh gà nên chúng được coi là phụ phẩm, nhưng nó lại được nhập về VN thoải mái. Ngay cả thịt gà đẻ quá lứa cũng được nhập về. Chính vì chúng ta quản lý không chặt nên thịt ngoại mặc nhiên tung hoành khiến chăn nuôi trong nước thua lỗ”.

Cũng theo Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ, trong khi bỏ lỏng các giải pháp bảo hộ thì quy định mới của cơ quan quản lý lại đang gây khó cho chính người chăn nuôi. Cụ thể là quy định nước thải từ trại chăn nuôi có quy mô 1.000 con heo trở lên bắt buộc phải đạt loại A, nghĩa là con người có thể uống được. Tại các tỉnh Đông Nam Bộ, quy định này đang kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi trang trại quy mô lớn. Đầu tư mỗi hệ thống xử lý như thế tốn khoảng 5 tỉ đồng. Chính vì thế, nhiều chủ trang trại ở Đông Nam bộ chỉ dám đầu tư nuôi dưới 1.000 con, không dám tăng đàn.

Ông Âu Thanh Long kiến nghị: “Thịt ngoại đang tràn về gây thiệt hại cho chăn nuôi trong nước, nếu tiếp tục cứng nhắc áp dụng quy định xử lý chất thải đạt loại A thì chi phí sản xuất đội lên thêm nữa, sản phẩm chăn nuôi sẽ không cạnh tranh nổi với thịt ngoại tại nội địa, nói gì đến XK ra nước ngoài. Hiện nay, Thái Lan và nhiều nước tiên tiến khác quy định nước thải chỉ cần ủ và lọc qua hầm biogas là có thể tưới cho cây công nghiệp, nông sản… trong khi VN lại không cho phép. Tại sao chúng ta lại tự làm khó DN của mình khi đặt ra quy định bất hợp lý này?”.

Đối mặt “người khổng lồ”

Đáng lo là theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN, đến năm 2018, thuế suất thuế nhập khẩu nông sản từ ASEAN sẽ giảm xuống 0% (hiện nay là 5%). Ngành chăn nuôi sẽ phải cạnh tranh trực tiếp với Thái Lan, một nước rất mạnh trong lĩnh vực này.  Ông Sooksunt Jiumjaiswanglerg, Tổng giám đốc Công ty chăn nuôi C.P VN, cho biết: “Thái Lan đã định hướng ngành chăn nuôi hướng về XK từ cách đây rất lâu. Một trong những điều kiện tiên quyết để XK vào các thị trường khó tính như EU là vùng nuôi phải an toàn dịch bệnh, không tiêm vắc xin trên sản phẩm chăn nuôi. Chính vì lấy tiêu chuẩn xuất vào châu Âu để áp dụng cho ngành chăn nuôi trong nước nên đến nay Thái Lan xuất khá nhiều thịt vào các thị trường khó tính. Đồng thời, hàng rào kỹ thuật này đã ngăn thịt đông lạnh từ các nước không thể thâm nhập thị trường Thái Lan. Khi dỡ bỏ hàng rào thuế quan thì nguồn thịt từ Thái có thể sẽ gây áp lực đến thị trường VN”.

Quang Thuần

***

Thua thiệt vì hàng rào bảo vệ kém – Kỳ 3: Trái cây khó xuất, dễ nhập

05:11 AM – 21/01/2015 TN

Phải tốn nhiều năm, vượt qua nhiều thủ tục kiểm dịch, chứng nhận phức tạp, trái cây VN mới có thể xuất khẩu ra nước ngoài trong khi trái cây ngoại nhập vô tư tràn ngập thị trường nội địa.

Nhọc nhằn tìm thị trường xuất khẩu cho trái cây VN - Ảnh : Hà An
Nhọc nhằn tìm thị trường xuất khẩu cho trái cây VN – Ảnh : Hà An

Cho đến thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp (DN) VN vẫn chưa được cấp phép trở lại để xuất khẩu rau quả sang EU. Thời hạn “treo” sẽ còn kéo dài đến hết tháng 1 năm nay vì trước đó EU đã phát đi cảnh báo lần thứ 3 liên tiếp đối với 3 chuyến hàng nhập khẩu từ VN bị phát hiện vi khuẩn gây hại sức khỏe người tiêu dùng bị cấm trên cây húng quế và mướp đắng. Nếu trong thời hạn 1 năm mà vẫn phát hiện trường hợp vi phạm thì EU sẽ cấm cửa luôn. Đó là lý do trong suốt gần 1 năm qua, rau quả VN gần như bị tắc đường vào thị trường EU.

4 năm đàm phán mới đưa được thanh long sang Mỹ

Anh L., chủ một cơ sở xuất khẩu rau quả đi EU cho biết: “Hàng hóa VN nhiễm khuẩn, họ cảnh báo là đúng. Nhưng đây cũng chính là rào cản kỹ thuật để bảo hộ ngành nông nghiệp trong nước họ. Trong những trường hợp cần thiết hoặc nhu cầu lên cao, họ vẫn mở cửa cho nhập vào, còn khi không cần thì họ sẽ áp dụng tiêu chuẩn cao để hạn chế”.

TS Nguyễn Hữu Đạt – Giám đốc Trung tâm kiểm dịch thực vật sau nhập khẩu 2 (Cục Bảo vệ thực vật) kể: “Quá trình đàm phán để nhập trái cây vào Mỹ phải trải qua nhiều công đoạn như nộp đơn yêu cầu, nộp danh sách dịch hại cho nước nhập khẩu, phân tích nguy cơ dịch hại, đưa ra giải pháp. Trước khi chính thức xuất khẩu vải và nhãn sang Mỹ, Cục phải phối hợp với kiểm dịch viên Mỹ tại VN xây dựng danh sách mã vùng trồng vải, nhãn; các nhà máy phải xây dựng xong bản đồ liều lượng. Trái cây xuất đi phải có xuất xứ từ những vùng trồng đã được đăng ký, mỗi lô hàng phải kèm theo chứng chỉ của Cục Bảo vệ thực vật xác định sản phẩm phù hợp với quy định, khi xuất phải được chiếu xạ để loại bỏ vi khuẩn dịch hại, phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm”.

Tương tự, để thanh long VN được xuất sang Mỹ, chúng ta phải trải qua 4 năm đàm phán, từ 2004. Thời gian đàm phán cho việc xuất trái chôm chôm cũng kéo dài nhiều năm và mãi đến năm 2011 mới được chấp nhận. Hiện Cục Bảo vệ thực vật còn đang hoàn tất 6 bộ hồ sơ kỹ thuật đối với các loại quả tươi: thanh long, vải, nhãn, xoài, chôm chôm và vú sữa để gửi các nước đề nghị mở cửa thị trường.

Nỗ lực đa dạng hóa thị trường nhưng lãnh đạo cục này cũng phải thừa nhận hiện nay hoạt động xuất khẩu rau, củ, trái cây của VN vẫn chỉ chủ yếu dựa vào thị trường chính là Trung Quốc (TQ). Trong năm 2014, VN đã xuất hơn 400 triệu USD rau quả sang TQ và tăng hơn 34% so với năm trước vì đây là thị trường khá dễ tính.

Buông lỏng nội địa

Xuất đi thì gian nan, nhọc nhằn như vậy nhưng VN lại đang khá dễ dãi với hàng nhập khẩu. Theo quy trình hiện nay hầu như cơ quan chức năng chỉ kiểm soát phần ngọn, các DN nhập trái cây vào nội địa chỉ phải làm thủ tục khai báo kiểm dịch thực vật. Nếu đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch thực vật nhập khẩu của VN thì sẽ được cấp giấy chứng nhận và được thông quan nhập khẩu.

Các cơ quan chức năng đều thừa nhận tình trạng trái cây, rau củ TQ nghi chứa hóa chất độc hại đã diễn ra lâu nay, cơ quan y tế đã nhiều lần lấy mẫu để kiểm tra nhưng hầu như không phát hiện được gì vì không đủ phương tiện để truy tìm tận gốc những loại hóa chất đó. “Hiện chỉ có thể kiểm tra dư lượng hóa chất trên rau quả có vượt ngưỡng cho phép hay không và việc kiểm tra này cũng đòi hỏi nhiều thời gian. Còn biết chính xác đó là chất gì, độc hại đến mức nào thì gần như không thể vì không có thông tin về nguồn gốc của loại thuốc mà nông dân/thương lái TQ sử dụng” – một cán bộ Cục Bảo vệ thực vật cho biết.

Một thực tế khác là phần lớn rau củ, trái cây TQ chủ yếu vào VN theo đường tiểu ngạch nên hầu như không kiểm soát được chất lượng. Chỉ cần dán tem, nhãn mác đầy đủ theo quy định của hải quan là có thể nhập khẩu vào thị trường nội địa mà không cơ quan nào kiểm tra sau đó. Theo PGS-TS Phạm Xuân Đà, Viện trưởng Viện Kiểm nghiệm an toàn thực phẩm quốc gia, trên thị trường có khoảng 2.000 loại chất bảo quản nhưng mới chỉ kiểm nghiệm được 600 loại. Đối với rào cản kiểm dịch thực vật, TS Nguyễn Hữu Đạt cho biết: “Khi đã hội nhập thì điều kiện, quy chuẩn kiểm dịch là như nhau, nước ngoài có các quy định an toàn dịch bệnh của họ và VN cũng vậy. Đơn cử khi Úc có dịch ruồi đục quả thì VN không cho nhập, hay như táo của Nhật Bản nổi tiếng thế giới nhưng một khi chưa hoàn thành đánh giá dịch hại tại VN thì cũng chưa cho nhập. Tuy nhiên, do nền sản xuất của ta còn thấp, các quy chuẩn đưa ra cũng không thể cao được. Ví dụ như nhiều dịch bệnh ở nước chúng ta cũng có thì làm sao cấm họ? Do đó hiện nay chúng ta không thể dựa vào lý do an toàn dịch bệnh để dựng rào cản với TQ, Thái Lan”.

GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, cho rằng: “Để bảo vệ người tiêu dùng cũng như sản xuất trong nước, ngành nông nghiệp cần có hàng rào kỹ thuật, hạn chế việc nhập khẩu tràn lan vào VN. Các chợ nông sản lớn ở TP.HCM có lượng trái cây nhập khẩu nhiều phải có những phòng phân tích hay kiểm tra nhanh chất lượng sản phẩm ngoại nhập cũng như dư lượng chất bảo quản, thuốc bảo vệ thực vật”.

Lo ngại “hàng xóm”

Thái Lan đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu rau quả nhiều nhất vào VN, tăng 52% so với cùng kỳ năm trước và chiếm hơn 29% thị phần và chưa có trường hợp nào phát hiện rau quả của Thái Lan có dư lượng chất cấm vượt quá mức cho phép. TS Nguyễn Quốc Hùng – Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả T.Ư (Bộ NN-PTNT) nhận định: “Khi chúng ta ký Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế chung ASEAN (AFTA) được thiết lập, sẽ có nhiều sản phẩm quả của Thái Lan được bán tại VN hơn. Mặt khác, Thái Lan cũng có thể sử dụng đường bộ của VN để xuất khẩu quả sang TQ. Khi đó, các sản phẩm quả của VN sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn so với thời điểm này”.

Táo bị thu hồi đã được xuất khẩu sang VN

Ngày 20.1, Cục An toàn thực phẩm (ATTP), Bộ Y tế cho biết đã nhận được cảnh báo từ Mạng lưới cơ quan an toàn thực phẩm quốc tế (INFOSAN) hôm 19.1 về việc thu hồi quốc tế đối với táo và các sản phẩm táo caramel chế biến và đóng gói sẵn nhập khẩu từ Mỹ do bị nhiễm vi khuẩn Listeria monocytogenes.

Trước đó, ngày 6.1, Công ty Bidart Bros ở Bakerfield, California đã tự nguyện thu hồi sản phẩm táo Granny Smith và táo Gala do kết quả kiểm tra môi trường đã kết luận thiết bị đóng gói táo bị nhiễm vi khuẩn Listeria monocytogenes. Các sản phẩm thu hồi là toàn bộ táo Granny Smith và táo Gala được chuyển từ cơ sở đóng gói ở Shafter, California trong năm 2014. Ngoài ra, có 3 công ty khác cũng đã tiến hành tự nguyện thu hồi sản phẩm táo caramel do có nguy cơ nhiễm vi khuẩn Listeria monocytogenes: Công ty Lochirco Fruit & Produce (Happy Apple ở Washington, Missouri); Công ty California Snack Foods (ở El Monte, California); Công ty Sugar Daddy LTD (Merb’s Candies ở St. Louis, Missouri).

Cục ATTP cho biết thêm, theo báo cáo từ Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (US CDC), tính tới ngày 9.1 đã có 32 người bị nhiễm Listeria monocytogenes trong vụ này, được ghi nhận trên 11 bang. Trong số những người bị nhiễm, có 31 ca phải nhập viện và ít nhất 3 người đã tử vong; 10 ca trong số đó đang mang thai và 1 ca bị sẩy thai. 25/28 người mắc được phỏng vấn có ăn sản phẩm táo caramel chế biến và đóng gói sẵn.

Theo thông tin từ Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA), sản phẩm bị thu hồi đã được xuất khẩu sang VN và một số quốc gia và vùng lãnh thổ.

Cục ATTP đã khẩn cấp rà soát các sản phẩm bị cảnh báo và thông báo với doanh nghiệp nhập khẩu để kịp thời thu hồi sản phẩm liên quan (nếu có).

Liên Châu

Quang Thuần

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s