U Minh Hạ: Mảnh đất nhiều huyền thoại, lắm đau thương và khắc khoải (5 kỳ)

  • Kỳ 1: U Minh Hạ – mảnh đất nhiều huyền thoại
  • Kỳ 2: Cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn của những người bám trụ rừng U Minh Hạ
  • Kỳ 3: Những “lãnh chúa” “ăn” đất nơi U Minh Hạ
  • Kỳ 4: Cuộc chiến giành lại quyền mưu sinh tại U Minh Hạ
  • Kỳ 5: U Minh Hạ: Lá rừng thì xanh, còn người héo hon, khắc khoải

***

U Minh Hạ: Mảnh đất nhiều huyền thoại, lắm đau thương và khắc khoải

LĐĐS – 8 (bộ mới) HOÀNG HUY 7:0 AM, 29/05/2016
U Minh huyền thoại.

U Minh Hạ được biết đến là vùng đất nhiều huyền thoại. Những câu chuyện về mảnh đất này cho thấy nó như một vùng đầy chướng khí, tai ương từ thuở đầu ông cha đi mở cõi. Có những câu chuyện thật đến tê tái lòng người. Có những người vào đây sinh cơ lập nghiệp gần cả đời nhưng tay trắng vẫn hoàn trắng tay.

Kỳ 1: U Minh Hạ – mảnh đất nhiều huyền thoại

Có quá nhiều huyền thoại nơi “sơn cùng thủy tận” U Minh. Huyền thoại nào cũng đẹp, cũng hào hùng, minh chứng cho vùng đất oanh liệt, cuộc sống đầy bất trắc, song thiên nhiên bao giờ cũng đùm bọc con người vượt qua muôn vàn gian khó. 

Tôi trở lại U Minh ngập tràn huyền thoại và chợt nao lòng nhận ra, dù được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, nhưng vùng đất này còn đầy rẫy khó khăn.

Huyền thoại “rắn thần”

Năm nay mưa muộn. Gần hết tháng 5 mà những hạt mưa yếu ớt mới lướt trên ngọn tràm xào xạc. Những hạt mưa như sương, như khói rải đều trên cây lá U Minh Hạ. Huyền thoại cũng nương theo gió bay về…

Cách đây lâu lắm, nơi đây là chốn rừng thiêng nước độc, cây cối um tùm, đầy thú dữ. Những người lớn tuổi kể rằng, rừng U Minh rắn nhiều vô kể. Có con đến cả trăm ký. Những bận cháy rừng, rắn, rùa cùng với muôn thú chạy ra bìa rừng tìm nơi ẩn náu. Người dân chẳng dám đi bắt vì sợ chúng làm càn. Trong làn sương mỏng manh ấy, anh thợ săn đã giải nghệ Võ Văn Vinh, 57 tuổi, nay là cán bộ Vườn quốc gia Vồ Dơi mắt dõi theo cánh rừng, nhớ lại: “Tôi vào rừng từ năm 12 tuổi. Đây là nghề cha truyền con nối. Tôi không nhớ mình đã hạ bao nhiêu con heo rừng, nai, rắn, rùa, trăn… Ngày trước, heo rừng nơi đây nhiều lắm, đi sâu vào rừng tràm là gặp ngay. Có ngày, tôi hạ đến 2 con”.

Vinh nổi tiếng “liều mạng” ở cánh rừng này. Thường, đi săn thú phải có bạn, còn Vinh thì không. Một mình anh cùng với cây mác và chiếc balô xuyên dưới tán rừng tràm đầy dây leo và bất trắc. Trong những chuyến đi rừng, anh từng gặp rắn hổ mây dài đến 50m, bò qua con mương, đầu bên kia đuôi còn tận bên này. Kinh nghiệm đi rừng cho anh biết chẳng dại gì đụng chạm đến “thần rắn” U Minh. Hễ nghe phảng phất mùi tanh thì băng qua hướng khác mà đi. Anh bảo: “Mình đừng đụng chạm đến miếng ăn của “thần” thì “thần” cũng chẳng động chạm đến mình”.

Đó là những lần anh em kiểm lâm làm việc tại Vườn quốc gia Vồ Dơi đóng chốt sâu trong rừng vào những ngày nắng hạn, nước trên các kênh rạch khô. Chập choạng tối, muỗi kêu rào rào như mưa, anh em phải vội vào mùng. Cũng lạ, muỗi chỉ dậy lên vào chập tối rồi thôi. Anh Nguyễn Chí Linh còn nhớ như in, vào năm 1992, anh em đi tuần như mọi khi phải hoảng hồn tháo chạy vì gặp con rắn hổ mây bò chắn ngang lối đi. Lúc đầu tưởng cây đổ, nhưng khi nhìn kỹ lại thì thấy nó nhúc nhích, anh em hô to “rắn, rắn” rồi cắm đầu bỏ chạy về chòi canh.

 

Chưa có ai đo được rắn hổ mây dài bao nhiêu, cũng chẳng ai dám bắt nó để cân bao nhiêu ký, nhưng theo tính toán của những người từng gặp, nó phải hơn cả trăm ký. Gần đây thôi, vào đầu năm 2010, những cán bộ của Vườn quốc gia U Minh Hạ phát hiện một con rắn lớn di chuyển từ cánh rừng phía tây sang cánh rừng phía đông, băng ngang con lộ nhựa từ trụ sở vườn quốc gia về đài quan sát. Anh Nguyễn Văn Hoà kể: “Tôi chạy xe máy gần đến đài quan sát thì phát hiện phía trước có một khối to, đen chắn ngang, di chuyển từ từ. Tôi tá hỏa tam tinh, đứng chết trân vài phút mới định thần lại quan sát. Khoảng 15 phút, con rắn mới bò qua hết”. Anh nhận định: “Chắc nó chuẩn bị lột da nên di chuyển rất chậm. Tiếc là không đem máy ảnh theo nên không ghi hình lại được”.

Anh Nguyễn Tấn Truyền – cán bộ Phòng Kỹ thuật của Vườn quốc gia U Minh Hạ, thuộc làu từng nhóm nhỏ động, thực vật – kể: “Tôi đã từng gặp những căn nhà nai khá lớn, bắt gặp những cây tràm cổ thụ dang tay ôm không hết. Tuy nhiên, điều khá lý thú là chúng tôi gặp cả những cơ sở hoạt động cách mạng trước đây trong cánh rừng nguyên sinh này. Anh em đào lên còn thấy băng gạc nguyên vẹn, chứng tỏ đây là nơi làm quân y. Còn “thần rắn” thì chưa gặp bao giờ, nhưng tôi đoan chắc với anh là có. Bởi những lần đi sâu vào cánh rừng nguyên sinh, tôi đã gặp những đường mòn rất rộng, nhẵn, chứng tỏ “thần rắn” đã nhiều lần đi qua đường này”.

Đứng trên đài quan sát, anh chỉ tay ra phía rừng già giải thích, nơi nào có nhiều nai, nhiều tràm cổ thụ, nơi nào rắn nhiều, heo rừng trú ẩn, khỉ khọt nhiều. Anh say sưa kể về những chuyến đi rừng cùng với các anh em đóng chốt phòng cháy. Những chuyến đi lấy mật ong rừng tràm. Những lần giáp mặt với cả đàn heo rừng có con vài trăm kí lô, đàn nai hàng trăm con, đàn khỉ đầy cả nhánh tràm già…

Dù nài nỉ cỡ nào, Truyền cũng không cho tôi vào rừng “mục sở thị” dấu vết của “thần rắn” và những đàn heo rừng. Anh lý giải: “Tôi biết anh không sợ, nhưng đi sâu vào rừng U Minh Hạ này hạn chế nhiều người. Thông thường chỉ hai người để có bề gì còn xoay sở được”.

Cuối cùng, tôi nhận được lời hứa, chừng nào có hình ảnh về nai, heo rừng và đặc biệt “thần rắn”, anh sẽ ưu tiên cung cấp cho tôi.

 

 

Trăm năm còn lại chút này

Trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, rừng U Minh chở che cho cán bộ, chiến sĩ hoạt động cách mạng. Những cơ sở sản xuất vũ khí, những lán trại quân y vẫn còn nằm rải rác dưới tán rừng hùng vĩ này. Giặc Mỹ đã nhiều phen “nhổ cỏ” rừng U Minh, nhưng chính những thảm động thực vật nơi đây đã dang bàn tay huyền thoại chở che bom đạn. Và vì vậy, sau cuộc chiến, U Minh cũng thương tích đầy mình, dẫu chẳng được ai phong… thương binh.

Sau chiến tranh, rừng lại hồi sinh, xanh tươi trở lại, nhưng mảnh đất rừng thiêng nước độc này dường như chưa hết những nỗi đau. Đó là những lần U Minh Thượng, rồi U Minh Hạ lần lượt bị ngọn lửa hung tàn cướp đi hàng trăm hécta rừng nguyên sinh. Muông thú trong rừng tan tác theo từng làn khói trắng mịt mùng. Theo thống kê của 2 tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, những đợt cháy đã cướp đi trên 50.000ha rừng tràm. Tuy nhiên, sau những lần “bà hỏa” lấy đi đáng kể những cây tràm, nhiều vùng đất đã kịp hồi sinh trở lại. Dù vậy, những cánh rừng nguyên sinh còn lại không nhiều. Hiện tại, cả cánh rừng tràm (U Minh Hạ và U Minh Thượng) còn lại đúng 2.593ha rừng nguyên sinh trên đất than bùn.

 

Theo Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ, toàn vườn quốc gia có đến 25.000ha vùng đệm, 8.257ha là diện tích của vườn nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An thuộc huyện U Minh và các xã Khánh Bình Tây Bắc, Trần Hợi thuộc huyện Trần Văn Thời. Hệ sinh thái rừng tràm cả nước duy nhất chỉ còn lại tại Cà Mau với khoảng 3.000ha là chưa bị tác động. Nơi đây có nhiều hệ thực vật, động vật với nhiều cá thể quý hiếm có tên trong sách đỏ.

Nổi tiếng với nhiều sản vật, nhất là cá đồng, ong mật, cây rừng, tham bùn…, giúp U Minh Hạ có sức hút kỳ lạ đối với nhiều người. Thế nhưng, khi vào đây sinh sống, người dân mới giật mình nhận ra rằng, cuộc mưu sinh của họ lắm nhọc nhằn.

 

***

MẢNH ĐẤT NHIỀU HUYỀN THOẠI, LẮM ĐAU THƯƠNG VÀ KHẮC KHOẢI – KỲ 2:

Cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn của những người bám trụ rừng U Minh Hạ

LĐĐS – 9 (bộ mới) HOÀNG HUY 7:0 AM, 04/06/2016
Cây tràm U Minh Hạ nhiều năm nay chưa đem đến ấm no cho người dân.

U Minh Hạ được biết đến là vùng đất nhiều huyền thoại. Những câu chuyện về mảnh đất này cho thấy nó như một vùng đầy chướng khí, tai ương từ thuở đầu ông cha đi mở cõi. Có những câu chuyện thật đến tê tái lòng người. Có những người vào đây sinh cơ lập nghiệp gần cả đời nhưng tay trắng vẫn hoàn trắng tay.

U Minh giàu sản vật là vậy, nhưng cơ chế quản lý một thời đã khiến mảnh đất sơn cùng thủy tận này bỗng chốc âm u, chướng khí. Những người nông dân không đất đến đây nhận khoán, quần quật nhiều năm làm lụng, hy vọng những tưởng được đổi đời, nào ngờ tất cả vụt tắt ngấm.

Vào rừng đánh bạc với… trời

Năm 1986, ông Nguyễn Hồng Trường (ấp 12, xã Khánh Thuận huyện U Minh) rời quê hương ở huyện Giá Rai về đây nhận 2 ha đất do Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm quản lý. Từ một nông dân không đất, do giải thể tập đoàn, ông trở thành người có đất. Nhận được đất, ông không sao ngủ được, cứ ngỡ mình sẽ được đổi đời. Nào dè, đất rừng U Minh phèn dữ quá, cây lúa sống không nổi, năm trúng năm thất, thu hoạch không đủ bù tiền chi phí bỏ ra. Cây tràm sau 15 năm chăm sóc, khai thác, LNT tính hươu tính vượn, ông còn lại đúng 18 triệu đồng. Thẫn thờ trước căn nhà không đủ sức che những đợt mưa đầu mùa, ông chép miệng: “Đất hết hợp đồng mấy năm rồi, đã có thông báo lấy lại, giờ tôi sống qua ngày bằng nghề làm thuê nên nhà cửa nó vậy đó”.

Trong khi Khánh Thuận bị hạn chế bởi diện tích giao khoán chỉ 2 ha thì ở xã Nguyễn Phích, người dân được giao nhiều diện tích hơn để trồng bảo vệ rừng và phát triển sản xuất. Tuy nhiên, hơn 20 năm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, số người giàu đếm trên đầu ngón tay, trong khi số hộ nghèo, hộ khó khăn liên tiếp tăng lên. Cách đây 20 năm, ông Đoàn Văn Ba rời quê nhà ở huyện Đầm Dơi bán hết tài sản về đây mua lại 17 ha đất rừng tràm. Có trong tay một diện tích đất lớn, tưởng đâu cuộc đời của ông sẽ thay đổi, nào ngờ mảnh đất ông mua nằm ngay túi phèn nên sản xuất lúa gặp khó khăn, nhiều năm thu hoạch không đủ chi phí. Sau gần 20 năm bám đất, bám rừng, bây giờ ông chẳng dư được gì và có nguy cơ trở thành người không đất do đã đến hạn giao trả lại cho nhà nước.

Ông Nguyễn Văn Tại – Trưởng ấp 15, xã Nguyễn Phích – nêu thực trạng: “Gần như cả ấp này đều mang nợ, không nợ nhà nước thì nợ ở ngoài. Nợ nhà nước rất khó trả, do vay nợ đến hạn, người dân không có tiền, cán bộ ngân hàng làm giấy đáo hạn với món vay nhiều hơn, cứ thế lần sau vay nhiều hơn lần trước để đến nay không cách nào trả hết”.

 

 

Các tuyến kênh 23, 25, 29, xã Khánh An, huyện U Minh giờ đây có nhiều đổi thay do được nhà nước đầu tư đường nhựa, hệ thống cấp nước sạch. Tuy nhiên, cuộc sống của của người dân cũng chẳng thay đổi gì.

Năm 1997, bà Ngô Thị Nhãn bán hết đất đai tài sản vào đây mua 5 ha vừa đất rừng, vừa đất lúa với hy vọng có cuộc sống khấm khá hơn. Thế nhưng, gần 20 năm bám trụ vào rừng, cuộc sống gia đình chỉ được xem là tạm đủ ăn. Mỗi năm, gia đình chỉ làm 1 vụ lúa, năng suất thấp, phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời, còn rừng thì chưa đến ngày thu hoạch nên cái khó vẫn hoàn cái khó. Bà Nhãn ví von: “Làm ruộng ở đây giống như đánh bạc với ông trời vậy, hên xui. Mà xui nhiều hơn hên, đa phần bị thất do ngập úng và phèn”. Vụ mùa năm vừa qua, do gặp mưa lớn, bà phải cấy đến đợt 3 mới có thu hoạch, làm trên 30 công đất mà chỉ thu về hơn 100 giạ lúa. Tuy vậy, gia đình còn được xếp vào hàng khá, nhiều hộ không còn mạ cấy, phải bỏ đất hoang. “Hiện nay, đất khô nứt nẻ, nhưng vào mùa mưa có khi ruộng ngập sâu hơn 1m nước, chẳng làm ăn được gì”, bà Nhãn bộc bạch.

Gần đó, ông Nguyễn Văn Vinh, 70 tuổi, bám trụ mảnh đất này đã gần 30 năm nhưng tài sản hiện có chỉ là 5 con heo và đám con cháu hơn 10 người đi lao động ở Bình Dương. Ông chép miệng: “Hồi đó, tôi ở huyện Đầm Dơi, ít đất quá, sợ nuôi tôm sau này con cái không sống được nên bán tất cả vào đây, ngỡ được đổi đời nào dè nó như vầy”.

“Cục đất chọi chim, chọi đi rồi”

Trước khi LNT Sông Trẹm giải thể năm 1994, trên 300 hộ dân sinh sống trong tình trạng nhiều không: Không hộ khẩu, không chính quyền quản lý, không khai sinh, không giấy chứng minh nhân dân, không đất sản xuất… LNT quản lý theo từng tuyến kênh. Ông Nguyễn Văn Tư (ấp 12, xã Khánh Thuận) nêu thực tế: “Khi giải thể LNT Sông Trẹm, dân chúng tôi mới thấy mặt chính quyền”.

Trong 15 ấp ở xã Khánh Thuận thì có đến 10 ấp người dân sống trên đất không phải của xã. Nghĩa là đất lâm phần, nay thuộc Cty TNHH MTV U Minh Hạ quản lý, xã không thể đả động gì. Năm 1994, xã có trên 40% hộ nghèo, chủ yếu rơi vào những hộ ở trên đất lâm phần, đến nay, tỉ lệ này giảm xuống còn 25%. Sau khi sắp xếp bố trí, thanh lý hợp đồng với LNT Sông Trẹm, Khánh Thuận có 350 người nghèo “không cục đất chọi chim” giữa cánh rừng mênh mông đất. Ông Nguyễn Minh Lắm – Chủ tịch UBND xã Khánh Thuận – phân trần: “Hầu hết là những hộ nhận giao đất rừng theo QĐ 181 nay đã hết hạn phải trả lại cho Cty TNHH MTV U Minh Hạ để đơn vị này kinh doanh nên tất cả đều rơi vào cảnh nghèo khó, không đất sản xuất”.

Sau 30 năm vào rừng nhận khoán, nay vợ chồng ông Trần Văn Chánh (xã Khánh Thuận, huyện U Minh) không còn đất, hàng ngày hầm than kiếm sống. 

Giấc mơ đổi đời sau bao nhiêu năm gắn bó với rừng xanh nhuốm một màu xám xịt. Họ chẳng biết kêu ai, bởi chính quyền địa phương không quản lý phương thức sản xuất mà khoán trắng cho các LNT. LNT thì trưng ra những bản hợp đồng có chữ ký của người dân, những biên bản đã được người dân thống nhất. Ông Nguyễn Văn Hải (ấp 18, xã Nguyễn Phích), nhận 6 ha tràm sau 20 năm làm lụng vất vả nay còn nợ lại LNT gần 10 triệu đồng, chua chát: “Biết như vầy, dù có ông trời xuống kêu tui vào đây làm kinh tế mới tui cũng không đi”.

Năm 1994, LNT bàn với bà con múc bờ bao để vừa giữ nước vừa thuận tiện giao thông thủy bộ. Bà con trong ấp ai cũng đồng ý, vì cứ ngỡ rằng LNT thương dân. Nào dè khi khai thác tràm, mọi người té ngửa vì LNT buộc họ chia nhau tiền đầu tư vào tuyến đê bao này. Tính ra, mỗi hộ bị LNT trừ trên 10 triệu đồng. Vì vậy, hầu hết người dân tại ấp 15, ấp 14 xã Nguyễn Phích sau khi khai thác tràm số tiền bán tràm và được LNT trừ cấn, có rất nhiều người phải mang nợ LNT.

Ông Nguyễn Văn Hiển (tuyến kênh 25, xã Khánh An) nói như than vãn: “Dân tuyến 25 này giờ chủ yếu sống bằng nghề làm thuê và hầm than trong những tháng mùa khô. Con em ở đây có mấy đứa được học hết cấp 2 đâu, mới lớn một tí là phải đi kiếm công ăn việc làm phụ giúp gia đình”.

Sản xuất khó khăn, thiếu vốn là nguyên nhân chính khiến nhiều thanh niên trong tuổi lao động rời làng quê “tha hương cầu thực”. Giờ đây, không riêng tuyến kênh 23 hay tuyến 25 mà nhiều gia đình khu vực lâm phần rừng U Minh chỉ còn lại người già và trẻ nhỏ.

Không còn đất, chẳng còn quê để mà về, những lưu dân năm nào cương quyết bám trụ lại đất rừng U Minh Hạ để mưu sinh. Và giờ, nghề mưu sinh của họ quẩn quanh ở việc hầm than, vào rừng hái trái, tỉa cây hay đơn giản là ai thuê gì làm nấy để lay lắt qua ngày.

***

U MINH HẠ: MẢNH ĐẤT NHIỀU HUYỀN THOẠI, LẮM ĐAU THƯƠNG VÀ KHẮC KHOẢI – KỲ 3:

Những “lãnh chúa” “ăn” đất nơi U Minh Hạ

LĐĐS – 10 (bộ mới) HOÀNG HUY 6:0 AM, 11/06/2016
U Minh Hạ.

Ông Nguyễn Hoàng Tâm, 59 tuổi, đã có trên 30 năm gắn bó với U Minh Hạ quả quyết: U Minh không phải là vùng đất nghèo. Có nghèo chăng là do cơ chế trói buộc người dân và quyền lợi quá lớn của những cán bộ lâm ngư trường (LNT) thao túng đất đai, tạo “lãnh địa” riêng. Dân không có nổi “cục đất chọi chim” còn cán bộ thì “ăn” mòn gần hết đất lâm trường. Lần theo những hồ sơ đã được thanh tra, phóng viên Báo LĐ&ĐS giật mình phát hiện, tại vùng đất này có quá nhiều “lãnh chúa”.

Giám đốc LNT Sông Trẹm đất nhiều như “địa chủ”

Sau những phản ảnh của các cơ quan báo chí, năm 2012, UBND tỉnh Cà Mau chính thức thành lập đoàn thanh tra toàn diện việc quản lý, cho thuê đất, cấp đất toàn bộ diện tích lâm phần U Minh Hạ. Dù vậy, phải đến hơn 2 năm sau, công tác thanh tra mới hoàn thành. Dù thời gian quá lâu, sổ sách, giấy tờ, hồ sơ lưu không còn, nhưng những gì phát hiện được từ 2008 – 2010 vẫn cho thấy, công tác quản lý đất đai tại các LNT trước đây có nhiều sai phạm nghiêm trọng.

Sau 20 năm, người dân nhận khoán, hợp đồng liên danh liên kết tại các xã Khánh Thuận, Nguyễn Phích không còn “cục đất chọi chim”, trong khi cán bộ thuộc LNT Sông Trẹm – đơn vị trực tiếp quản lý khu vực này – lại có nhiều đất đai đến bất ngờ.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – nguyên Giám đốc LNT Sông Trẹm – khi đương chức đã lợi dụng chức vụ thao túng gần 50 ha đất đứng tên nhiều người, trong đó 3 người con của ông, mỗi người đến 9,1ha. Khu thứ nhất thuốc thửa đất số 10, khoảnh 4, tiểu khu 008, diện tích 17 ha, thuộc đất lâm ngư nghiệp kết hợp – được chính Ban Giám đốc LNT Sông Trẹm ký hợp đồng giao khoán cho “giám đốc” Tuấn vào năm 1995, đến năm 2003 chuyển nhượng lại cho ông Phó giám đốc Phan Văn Nhã. Dù vậy, khi bị phát hiện, ông Tuấn chối bằng cách nói LNT có hợp đồng cho ông Phan Văn Nhã vào năm 1995 nhằm xóa dấu vết. Điều khá nực cười là đến năm 1998 ông Nhã mới được bổ nhiệm làm Phó giám đốc LNT này. Chính vì vậy, thanh tra không chấp nhận lời giải thích của ông Tuấn và khẳng định thửa đất này là của ông Tuấn.

Khu đất thứ 2 thuộc thửa số 05, khoảnh 9, tiểu khu 002, diện tích 5,5 ha là đất sản xuất nông nghiệp có nguồn gốc. Năm 1993, ông Nguyễn Ngọc Tuấn nhận giao khoán đất lâm nghiệp với chính đơn vị do ông làm giám đốc. Tuy nhiên, ông không sản xuất mà chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn Tuấn. Khu đất thứ 3 thuộc các thửa 158, 159, 160, khoảnh 8, tiểu khu 002, có tổng diện tích 27,3 ha, loại đất sản xuất lâm – ngư nghiệp kết hợp.

Khi làm việc với đoàn thanh tra, ông Tuấn cho rằng, các con của ông mua lại của các vị lãnh đạo tỉnh như ông Nguyễn Thiện Thuật – cán bộ Sở GD-ĐT tỉnh, lúc lại nói mua của ông Nguyễn Việt Hồng, Mai Văn Chinh (đều là cán bộ cấp tỉnh lúc bấy giờ). Tuy nhiên, đối chiếu lại thì các ông nói trên không thừa nhận và cũng không có giấy tờ chứng minh. Theo thanh tra, hồ sơ thể hiện rõ các con của ông Tuấn được LNT Sông Trẹm giao khoán 27,3 ha đất.

Theo quy định hiện hành, người dân nhận khoán đất lâm phần, mỗi hộ không quá 5 ha thì cá nhân và gia đình ông giám đốc có đến gần 50 ha. Chiếm phần quá nhiều nên ông Tuấn chuyển nhượng lại cho ông Phan Văn Nhã 17 ha, ông Nguyễn Văn Tuấn 5,5 ha sai quy định để trục lợi.

Ngoài việc thâu tóm đất đai, thời ông Tuấn làm Giám đốc LNT Sông Trẹm còn có “chủ trương” cắt hậu đất của 74 hộ dân thuộc các ấp 17, 19, 20, 21 xã Khánh Thuận, huyện U Minh với diện 100m x 500m đất để giao cho người khác khiến diện tích giao đất, giao rừng của người dân còn lại không đáng kể (theo quy hoạch của UBND tỉnh Minh Hải, mỗi hộ nhận 100m x 1.000m).

Người dân nghèo ở U Minh Hạ. 

Hàng loạt cán bộ “ôm” đất rừng

Học theo lãnh đạo, ông Trần Minh Cảnh – cán bộ Phân trường Sông Trẹm – LNT Sông Trẹm – đưa cả gia đình bên vợ đứng tên giấy tờ để sở hữu đất rừng đến 7 thửa với tổng diện tích lên đến 68,2 ha. Trong đó, ông đứng tên 2 thửa (14,6 ha) tại khoảnh 3 và khoảnh 7, tiểu khu 002, vợ ông là Lê Kiều Nhi có đến 17,5 ha tại khoảnh 10, tiểu khu 002. Các em vợ của ông Cảnh đứng tên 4 thửa tại vị trí rất đẹp ở phân trường. Để có đất nhiều như “địa chủ”, ông Cảnh “tranh thủ” lãnh đạo LNT Sông Trẹm ký các hợp đồng chuyển nhượng lại từ các hợp đồng giao khoán giữa LNT và các cá nhân, dù theo quy định các loại đất này không được chuyển nhượng.

Nguyễn Văn Hoàng – nguyên cán bộ Phân trường Sông Trẹm, thuộc LNT Sông Trẹm – cũng sở hữu đến 17 ha tại vị trí đẹp. Năm 1995, ông Hoàng ký hợp đồng liên doanh với LNT Sông Trẹm và năm 2003 chuyển nhượng cho ông Phan Văn Nhã. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng này không đúng quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Hữu Phước – nguyên cán bộ LNT Sông Trẹm – sở hữu đến 4 thửa đất với gần 36 ha. Năm 2012, ông Phước mua lại của ông Võ Thanh Sinh 5,5 ha. Hợp đồng chuyển nhượng này được phía LNT đồng ý. Thấy đất rừng còn nhiều, ông Phước tiếp tục sở hữu 3 thửa không giấy tờ hợp lệ.

Ngoài ra, thanh tra cũng phát hiện các ông Phạm Chí Đoàn – nguyên Trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng Vồ Dơi, Nguyễn Quốc Khải – nguyên cán bộ kỹ thuật Ban quản lý rừng Vồ Dơi, Dương Thanh Đệ – kiểm lâm viên, Nguyễn Văn Liêm – nguyên Trưởng phòng Kế hoạch – Hợp tác quốc tế vườn quốc gia; Nguyễn Quang Của – nguyên Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; Nguyễn Văn Thế – nguyên Giám đốc Vườn quốc gia; Tạ Vĩnh Thắng – nguyên Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm; Nguyễn Hoàng Đông – nguyên Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm… đều được giao khoán sai quy định từ 2 – 5 ha đất rừng. Một số cán bộ Vườn quốc gia U Minh Hạ được giao khoán đất sai quy định đến 2 lần gồm các ông: Nguyễn Việt Phước, Tạ Vũ Linh, Dương Thanh Đệ, Hồ Văn Ràng, Đoàn Văn Đồng, Nguyễn Văn Liêm để sang nhượng trái phép. Trường hợp ông Lê Văn Hải còn được ưu tiên giao khoán 1 thửa thuộc vùng đệm Vườn quốc gia.

 Lúa chết ở U Minh Hạ.

Thanh tra Nhà nước tỉnh Cà Mau chỉ ra, sở dĩ một số đối tượng nói trên có nhiều diện tích đất rừng như vậy do họ tự hợp đồng nhận khoán cho người thân; nhận khoán đất rừng vượt quy định, tự chuyển nhượng diện tích rừng không đúng quy định. Hầu hết những đối tượng này đều có “quan hệ” thân tình với lãnh đạo LNT.

Sở dĩ những cán bộ LNT dễ dàng thâu tóm đất đai sử dụng, chuyển nhượng trong một thời gian rất dài mà không bị phát hiện là do họ đã quá “khôn khéo” khi cắt đất, ưu tiên đất cho nhiều cán bộ. Thanh tra phát hiện, vào năm 1995-1996, LNT Sông Trẹm (nay là phân trường của Công ty Lâm nghiệp U Minh Hạ) đã cắt 500m phần hậu đất của người dân ở các ấp 19, 20, 21 để giao lại cho người khác. Dân từ chỗ được cấp 7-10 ha đất (30% nông nghiệp, 70% lâm nghiệp), sau khi bị cắt chỉ còn lại 4-5 ha/hộ.

Số đất bị cắt đi được giao cho những người giàu có và chức vụ lớn như, giao cho ông Trần Công Lộc – lúc bấy giờ là Viện trưởng VKSND tỉnh Cà Mau – trên dưới 40 ha, ông Phạm Minh Hồng – lúc ấy là Trưởng phòng NNPTNT huyện Thới Bình – 42 ha, LNT liên danh liên kết với một DN là “sân sau” của nguyên lãnh đạo tỉnh Cà Mau lúc bấy giờ đến 200 ha để trồng rừng, nhưng thực tế DN này không trồng rừng mà lấy 22 ha trồng lúa nhiều năm… Người dân ấm ức đi thưa kiện khắp nơi song không được ai giải quyết dù trong tay họ có hợp đồng thể hiện rõ được giao 1.000m chiều dài đất, nay bị cắt còn 500m. Giám đốc công ty giải thích, hồi cắt hậu đất có họp dân, được dân thống nhất và việc ghi chiều hậu đất 1.000m là do cán bộ ghi nhầm. Tuy nhiên, Thanh tra tỉnh Cà Mau đã bác cách giải thích này vì không có biên bản họp dân và không có hồ sơ thể hiện cải chính việc ghi nhầm của cán bộ.

Lãnh đạo, “quan chức” lắm đất, nhiều tài sản là vậy nhưng những người dân nghèo tại khu vực LNT Sông Trẹm trước đây phải chịu cay đắng đủ điều. Thậm chí, vì không đủ sống, hàng ngày người dân nghèo ra bờ kinh câu cá bán đổi cơm qua ngày. Đến cuối năm, họ buộc phải nộp “thuế sản cá” cho LNT.

***

MẢNH ĐẤT NHIỀU HUYỀN THOẠI, LẮM ĐAU THƯƠNG VÀ KHẮC KHOẢI – KỲ 4:

Cuộc chiến giành lại quyền mưu sinh tại U Minh Hạ

LĐĐS – 11 (bộ mới) HOÀNG HUY 6:0 AM, 20/06/2016
Anh nông dân nghèo bỗng trở thành giám đốc.

Những bất cập trong cách quản lý khiến người dân dưới tán rừng U Minh Hạ (UMH) nghèo đi. Không thể chịu được những bất hợp lý, bất công, bất bình đẳng, người dân UMH vùng lên đấu tranh. Mục đích của cuộc tranh đấu này đơn giản chỉ để giành lại quyền mưu sinh, dẫu rằng họ vác đơn đi xin làm… giám đốc.

Những khoản thu… “trời ơi”

Ông Nguyễn Hoài Tâm – nguyên cán bộ Lâm ngư trường (LNT) Trần Văn Thời, sống và làm việc tại rừng tràm UMH hơn 25 năm nay – quả quyết với tôi: “Dân sống trong vùng rừng tràm UMH, Cà Mau không nghèo. Sở dĩ nghèo là do cơ chế chính sách của các LNT, Cty lâm nghiệp đặt ra khiến cho người dân phải oằn vai gánh vác”.

Ông Tâm phân tích các bất hợp lý khiến người dân nơi đây khánh kiệt cả sức người lẫn sức của: “Người dân nhận khoán đất rừng theo phương thức liên danh liên kết (LDLK), mỗi năm ngoài đóng thuế còn phải nộp hàng loạt loại phí. Bất hợp lý nhất là phí cá, với 10 – 14 kg/ha/năm, thử hỏi dân làm sao sống được”.

Điển hình có ông Phạm Văn Ngọt nhận 58 ha rừng tràm do LNT Trần Văn Thời quản lý theo hình thức LDLK. Ngày 4.5.2006, hai bên lập biên bản thanh lý hợp đồng xác định công nợ sản cá và phân chia khai thác đến hết năm 2005. Trong phần khai thác lâm sản, sau 5 năm quản lý, chăm sóc, 58 ha rừng tràm bán được 219 triệu đồng. Sau nhiều khoản khấu trừ (do LNT Trần Văn Thời đưa ra), lợi nhuận còn là 199.841.000 đồng. Phân chia lợi nhuận, bên B (ông Ngọt) nhận lại 61.647.590 đồng.

Điều bất ngờ là ông Ngọt phải trả cho LNT Trần Văn Thời một khoản tiền lên đến 68 triệu đồng, gọi là tiền khoán sản cá. Không cần biết người dân có nuôi cá được hay không, hằng năm, LNT thu 14 kg cá/ha rừng với đơn giá 18.000 đồng/kg. Như vậy, mỗi năm, ông Ngọt phải trả cho LNT 13.608.000 đồng. Với 5 năm nhận LDLK, ông Ngọt phải trả cho LNT 68.040.000 đồng, gấp 9 lần tiền thuế của nhà nước theo quy định, gấp 9 lần tiền ông Ngọt thực lãnh sau 5 năm nhận chăm sóc 53 ha rừng. Đối trừ với phần lợi nhuận được chia trong phần khai thác lâm sản, ông Ngọt phải trả lại cho LNT Trần Văn Thời gần 7 triệu đồng.

Thấy việc làm của mình có phần “bất nhân”, LNT Trần Văn Thời giảm thu phí sản cá cho ông Ngọt 50%, đồng thời truy thu số nợ sản cá các năm trước trên 16 triệu đồng. Như vậy, sau hơn 5 năm nhận LDLK 53 ha tràm, ông Ngọt chỉ nhận được 11.299.590 đồng. Bức xúc, ông Ngọt không nhận tiền mà quyết định vác đơn đi kiện.

 Ông Hai Huỳnh với giấy chứng nhận đầu tư.

Tương tự như vậy, bà Nguyễn Thị Ngọc Ẩn nhận 56 ha của LNT Trần Văn Thời theo hình thức LDLK, đến khi thanh lý hợp đồng vào năm 2006, tiền phải nộp cho sản cá lên đến 72.576.000 đồng. Trong khi đó, tiền phân chia lợi nhuận khai thác tràm sau khi trừ các loại chi phí chỉ còn hơn 90 triệu đồng. Bà ngậm ngùi: “Có ai vào rừng nhận 56 ha sau hơn 5 năm đầu tư mà chỉ nhận về chưa đến 20 triệu đồng không? Với cách tính như vậy, đố ai sống được tại mảnh đất này!”. Có lẽ tiếng kêu của bà đã “thấu tai” cán bộ LNT Trần Văn Thời lúc bấy giờ nên họ quyết định giảm 50% tiền thu sản cá cho bà. Vì vậy, số tiền thực lĩnh theo biên bản thanh lý hợp đồng là 54.197.458 đồng!

Những người nhận LDLK với LNT bị thu tiền sản cá đã đành, vì dẫu sao trong hợp đồng ký kết có khoản thu này. Nhưng những người dân nghèo ven đất rừng tràm UMH thuộc LNT Sông Trẹm cũng phải nộp khoản phí sản cá do họ hàng ngày đi câu cá dưới kênh do LNT quản lý. Dĩ nhiên, họ không có tiền nộp cho khoản phí vô duyên này. Vậy là đợi đến khi khai thác rừng, LNT cấn trừ ngang.

Ông Trần Ngọc Huỳnh (xã Khánh Thuận, huyện U Minh) cho biết: “LNT Sông Trẹm thu 2 triệu đồng tiền phí câu cá của 10 người dân ở khu vực này. Bà con nơi đây không ai đủ tiền nộp sản cá hằng năm, đợi đến khai thác rừng, LNT mới cấn trừ ngang”.

Vùng lên đòi quyền mưu sinh

Là người gắn bó với rừng UMH suốt cuộc đời mình, nhưng ông Nguyễn Hoài Tâm không thể khá lên được do những quy định bất cập nói trên. Chính vì vậy, khi khai thác tràm vào năm 2010, ông dứt khoát không chịu mức định giá của LNT. Lúc ấy, khoảnh rừng của ông được định giá 200 triệu đồng. Ông khiếu nại, LNT tăng lên 250 triệu đồng. Ông thuyết phục mua lại bằng chính số tiền định giá. Chuyến “vùng lên” này, ông thu đến 400 triệu đồng.

Vào thời điểm này, Cà Mau đã thành lập Cty TNHH MTV U Minh Hạ, trên cơ sở sáp nhập các LNT về một mối. Các khoảnh đất LDLK cũng hết hạn phải bàn giao lại cho Cty U Minh Hạ để đơn vị này tiếp tục có hình thức đầu tư khác. Cùng lúc này, UMH nổi lên trồng keo lai thay cho cây tràm tại những diện tích rừng được quy hoạch rừng kinh tế. Làn sóng các doanh nghiệp (DN) ùn ùn vào đây thuê đất trồng rừng rầm rộ. Nghe nói rừng của ông trước đây được giao cho một DN tận Sài Gòn để trồng keo lai, ông Tâm gom góp những khoản tiền lãi do bán tràm có được đi khiếu nại với mong muốn được tiếp tục LDLK để trồng keo lai như các DN khác.

Dĩ nhiên là Cty U Minh Hạ không cho thì Sở NNPTNT Cà Mau cũng không đồng ý. Thấy ông đi thưa kiện, Cty U Minh Hạ cũng nhượng bộ phần nào cho ông tiếp tục thuê đất rừng để trồng… tràm tại khu vực không được trồng keo lai.

Phiếu thu phí sản cá. 

Sau khi nghiên cứu các hồ sơ, thủ tục, ông nhận thấy chủ yếu là nhà nước liên kết với DN, chứ không giao cho người dân những diện tích lớn. Vậy là ông về xin thủ tục thành lập công ty. Nhắc lại chuyện này, ông cười: “Mình trước giờ là nông dân có biết gì đâu, mục đích lập DN để được tỉnh giao đất trồng rừng chớ có ham muốn gì cái chức giám đốc. Tại tui quá tức chuyện các DN ngoài tỉnh vào đây trồng keo lai được UBND tỉnh và Cty U Minh Hạ cho hưởng nhiều chính sách hơn chúng tôi. Họ được thuê đất đến 49 năm, lại ưu đãi theo chính sách thu hút đầu tư. Cùng đường, chúng tôi buộc phải thành lập DN để được thuê đất bình đẳng như bao người khác”.

Tuy nhiên, sau khi thành lập DN, ông Tâm làm đơn xin được thuê chính mảnh đất mà ông đã LDLK trước đó để trồng rừng sản xuất đúng thủ tục, trình tự nhưng không được UBND tỉnh Cà Mau chấp thuận với lý do là hết quỹ đất và đau đớn hơn, số diện tích đất ông xin thuê lại được UBND tỉnh Cà Mau… cho một DN khác thuê, dù trên giấy tờ, đó vẫn đang là đất của ông.

Xác nhận phí sản cá. 

Cùng cảnh với ông Tâm, ông Trần Ngọc Huỳnh (ấp 12, xã Khánh Thuận) cũng thành lập Cty TNHH Du lịch sinh thái Huỳnh Quốc Sơn. Trụ sở Cty chính là căn nhà lá nằm ở bìa rừng, tuềnh toàng trống trước hở sau, nơi chui ra chui vào của cả gia đình ông suốt 15 năm nay. Hết hạn hợp đồng LDLK, Hai Huỳnh cùng một số hộ dân tại ấp 12, xã Khánh Thuận xin được trồng keo lai trên đất của mình, nhưng không được chấp thuận với lý do từ phía Cty U Minh Hạ: “Chủ trương của tỉnh chỉ cho DN thuê, còn hộ dân không được”. Ức quá, Hai Huỳnh cùng một số hộ dân khác hùn lại để thành lập Cty để xin thuê đất. Hiện ở Khánh Thuận còn có thêm 4 DN khác do những nông dân như Hai Huỳnh thành lập với mục đích tương tự. Dĩ nhiên, Hai Huỳnh và những người nông dân khác không được giao đất như các DN khác mà chỉ được LDLK với Cty U Minh Hạ.

Chính những phản ứng quyết liệt của những người như Hai Huỳnh, Hoàng Tâm… mà phương thức, cách tính ăn chia trong các hợp đồng LDLK đã được xem xét lại. Người chủ rừng hoàn toàn được định đoạt trên phần đất của mình, các khoản thuế, phí, lệ phí đã được bãi bỏ. Phương cách ăn chia cũng đã được tính toán lại hợp lý hơn.

***

MẢNH ĐẤT NHIỀU HUYỀN THOẠI, LẮM ĐAU THƯƠNG VÀ KHẮC KHOẢI – KỲ 5:

U Minh Hạ: Lá rừng thì xanh, còn người héo hon, khắc khoải

LĐĐS – 12 (bộ mới) HOÀNG HUY 6:0 AM, 27/06/2016

Chẳng có chính quyền nào muốn người dân nghèo khó cả. Nhất là những cư dân lưu lạc về mảnh đất U Minh này. Nhiều chủ trương, chính sách để vùng đất này vực dậy, nhưng khi xuống tới địa phương chưa thực hiện được. Vì vậy người dân sống dưới tán rừng nhìn lên thấy cả một màu xanh bao la, nhưng lòng dạ họ lại héo hon vì miếng cơm manh áo không lành, có khi cơm lưng bụng để sống qua ngày.

 

Chính sách chưa thật sự tới dân

Có người ví von rằng, tại mảnh đất này có rất nhiều ưu đãi để người dân sống được với rừng. Nhiều đến mức như những cành cây, ngọn cỏ trên đất rừng này. Tuy vậy, để đến tay người dân nó đã rơi rớt dọc đường đâu đó mà chưa khơi dậy tiềm năng của vùng đất này.

Đó là chính sách giao khoán đất rừng cho các tổ chức, cá nhân. Có giai đoạn rừng U Minh Hạ được chia năm xẻ bảy để giao khoán cho các tổ chức, cá nhân gọi là đất tự túc. Thông báo số 01 của Tỉnh ủy Cà Mau năm 2014 về việc rà soát các đơn vị tổ chức nhận khoán đất rừng trên địa bàn cho thấy hầu hết các tổ chức đều có đất rừng gọi là: Tự túc. Các hội, đoàn thể của huyện U Minh, Trần Văn Thời, các cơ quan cấp tỉnh, hội, đoàn thể của tỉnh Minh Hải (cũ) đều có đất tự túc. Có đơn vị tự sản xuất, nhưng hầu hết đều cho thuê lại để lấy tiền.

Ngoài chính sách giao khoán, có chính sách liên danh liên kết gọi là rừng liên danh liên kết. Nghĩa là người dân có diện tích lớn liên kết với các lâm ngư trường để sản xuất theo phương thức ăn chia như bài trước đã phản ảnh. Rồi chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, chương trình phủ xanh đồi trọc, chương trình trồng rừng phục hồi sau cháy, chương trình hỗ trợ trồng rừng từ các tổ chức phi chính phủ…

Phương thức ăn chia giữa chủ rừng, chủ đất sau một thời gian dài bất cập dẫn đến người dân không sống được bằng nghề rừng. Ông Nguyễn Thành Nam rời quê hương Năm Căn về U Minh nhận 8 ha đất trồng rừng, 30% diện tích trồng lúa để rồi mấy năm nay không khá lên được. Nguyên nhân được minh chứng là do thiếu vốn, không đủ sức để chống chọi lại thiên nhiên hà khắc tại vùng đất này.

Cũng cần phải nói thêm rằng, U Minh Hạ một thời gian dài chỉ biết có tràm. Tràm nhiều đến mức người ta tưởng rằng không còn tràm là không còn U Minh Hạ vậy. Dẫu rằng có thời gian tràm bán chẳng ai mua, phải băm ra thành “dăm” để bán. Cây tràm sau một thời gian trồng theo kiểu tập quán cũ, trên 10 năm mới thu hoạch, lại bán không được bao nhiêu tiền nên đã đẩy người dân vào cảnh ghét tràm. Ở rừng mà chẳng ưa cây nên hàng loạt rừng tràm bị đốn hạ để lấy đất trồng lúa, nuôi tôm. Chính sách giữ rừng, nhưng con người làm trực tiếp với cây rừng không muốn giữ nên rừng cây ngày một thưa dần.

 Khu dân cư, tái định cư Khánh An đầu tư trên 120 tỉ đồng rồi bỏ hoang.

Phá sản dự án tách dân ra khỏi rừng

Để ổn định sản xuất, quản lý rừng một cách hợp lý, năm 2008 Cà Mau chính thức thông qua đề án sắp xếp đổi mới dân cư dưới tán rừng. Người dân quen gọi là đề án tách dân ra khỏi rừng. Đề án có vốn đầu tư rất lớn, tuy nhiên đến đầu năm 2016 chính thức kết thúc mà không đem lại hiệu quả gì. Cụ thể, Nghị quyết số 05/2008/NQ-HĐND ngày 25.7.2008 của HĐND tỉnh Cà Mau về chấp thuận đề án này hướng đến các mục tiêu: Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; quy hoạch các tuyến dân cư tập trung ở những nơi có điều kiện phát triển sản xuất, gắn với đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ việc sắp xếp định canh, định cư cho các hộ dân sống phân tán trong lâm phần rừng tràm; tạo quỹ đất tập trung để đầu tư phát triển vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và thực hiện chính sách đất đai cho hộ nghèo, hộ chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có đất sản xuất theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm từng bước ổn định và phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt đề án và giao Giám đốc Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư, thời gian thực hiện đề án đến năm 2015, tổng kinh phí thực hiện 1.408,087 tỉ đồng (trong đó bố trí lại sản xuất 705,256 tỉ đồng, đầu tư xây dựng tuyến dân cư 702,831 tỉ đồng), cơ cấu vốn bao gồm: Trung ương hỗ trợ, ngân sách địa phương, vốn dân và vốn nhà đầu tư.

Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện, chủ đầu tư gặp không ít khó khăn dẫn đến tiến độ thực hiện đề án chậm, nguyên nhân là do số hộ dân phải sắp xếp, bố trí tái định cư lớn (3.976 hộ). Việc chuyển đổi diện tích đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, theo quy hoạch, diện tích đất rừng phải chuyển đổi là 2.804 ha, trong khi tỉnh không có nguồn đất để trồng rừng thay thế khi chuyển đổi theo quy định. Do diện tích thu hồi đất lớn (đất ở và đất nông nghiệp bị thu hồi 1.790 ha, đất rừng thu hồi 7.919 ha) nên khó thực hiện việc đền bù, di dời theo tiến độ quy hoạch vì nhiều hộ gắn bó với nơi đây trên 20 năm.

Mặt khác, hiện nay, trong vùng quy hoạch có một số khu vực đã giao đất cho dân theo Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 19.10.2004 của Chính phủ và các xã trên địa bàn huyện U Minh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được đầu tư điện, đường, lộ giao thông, nước sạch… nhiều hộ chuyển sang trồng keo lai có giá trị kinh tế cao, các trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã hình thành và phát triển, người dân đã ổn định cuộc sống.

Ngoài ra, còn một số khó khăn khác: Số đối tượng được giao đất tăng lên do tách hộ, trong quy định mỗi hộ gốc được bố trí 2 ha, phần đất dư ra chuyển cho hộ khác, trong khi con cháu họ là những người khai hoang nhưng không được bố trí nên sự đồng thuận không cao; chính sách đền bù khi thu hồi đất và hỗ trợ tái định cư không còn phù hợp; nguồn vốn đầu tư lớn cũng là nguyên nhân làm cho đề án khó thực hiện.

Từ những bất cập và khó khăn trong quá trình thực hiện đề án nói trên, UBND tỉnh đã trình Thường trực HĐND tỉnh xin dừng thực hiện và được Thường trực HĐND tỉnh chấp thuận. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và huy động các nguồn vốn hợp pháp để tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng trong vùng quy hoạch, phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất, đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân.

 

Dân chưa đồng tình

Trao đổi với chúng tôi về việc vì sao đề án phá sản, ông Trần Thanh Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau nhìn nhận: Đây là đề án có từ rất lâu (2008) có nguồn vốn rất lớn trong khi khả năng cân đối của địa phương có hạn.

Theo ông Sử, quá trình thực hiện đề án đã thí điểm di dân ra các khu tái định cư T19, T27, Khánh An… nhưng người dân vẫn không sống được bằng rừng và sản xuất. Lúc thực hiện đề án các chính sách về rừng của Chính phủ và Bộ NN&PTNT chưa ra đời, quá trình thực hiện chính sách có thay đổi nên đề án đã lạc hậu.

Tuy nhiên, có một thực tế là người dân chưa đồng thuận về đề án, bởi mảnh đất dù chẳng phải của họ, nhưng đã gắn bó gần như cả cuộc đời cơ cực của họ. Có rất nhiều hộ, mồ mả ông bà đã chôn trên đất U Minh Hạ này rồi nay phải di dời, biết đi đâu, về đâu?

Đối với các dự án do nhà nước thực hiện, có nơi hoành tráng đến mức khó có thể tưởng tượng được. Đó là dự án tái định cư Khánh An do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tài trợ. Dự án nằm lọt thỏm giữa rừng U Minh Hạ nhưng có đầy đủ điện, đường, trường, trạm, chợ, nhà văn hóa… được đầu tư trên 120 tỉ đồng. Để vào đây ở, nhà nước chỉ lấy tiền giao đất có thu tiền sử dụng đất mỗi nền 5m x 20m với giá 85 triệu đồng! Một khoản tiền đối với người nghèo U Minh Hạ là quá sức đối với họ. Chính vì vậy dự án đã bỏ hoang gần 10 năm nay. Người dân thấy đất nền bỏ hoang uổng nên trồng ngô, trồng mía, thậm chí trồng rừng trên nền đất thổ cư. Ông Nguyễn Văn Thậm, một trong những hộ dân hiếm hoi ở khu dân cư tái định cư Khánh An chua chát: “Tôi vào đây theo diện giải tỏa. Mang tiếng ở rừng mà không có đất đai gì cả. Hàng ngày nhìn vô rừng thấy cây lá xanh um tùm mà lòng dạ héo hon không chịu được”.

Hiện trạng U Minh Hạ là vậy. Những người tâm huyết với mảnh đất này không phải bây giờ mà từ cách đây hơn 10 năm họ đã tìm cách cởi trói cho người dân U Minh Hạ. Họ trăn trở, khắc khoải cùng dân nghèo và đón nhận những điều chưa tốt đối với bản thân.

Advertisements

One thought on “U Minh Hạ: Mảnh đất nhiều huyền thoại, lắm đau thương và khắc khoải (5 kỳ)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s