KỲ 1: Tan nát vì nạn buôn người sang Trung Quốc

Thời gian gần đây, tại các huyện miền núi Nghệ An liên tục xẩy ra các vụ bắt cóc trẻ em, buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc gây hoang mang cho các gia đình. Đầu tháng 5.2016, công an huyện Tương Dương đã giải cứu thành công một vụ bắt cóc trẻ em bán sang Trung Quốc, bắt giữ 3 đối tượng, trao trả bé gái 3 tuổi cho gia đình.
Bà Moong Thị Lợi và cháu bé mòn mỏi đợi mẹ trở về
Cha mẹ bán con
Phụ nữ từ các vùng miền núi Nghệ An sang Trung Quốc, già, trẻ, có chồng hay chưa đều được chấp nhận, nhưng sẽ được trả theo các mức giá khác nhau cho đàn ông lấy về làm vợ, từ 100 đến 200 triệu đồng. “Người mình họ ngã giá như mua rau, mua cỏ”, một cán bộ công an huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) thốt lên chua chát.
Bản Huồi Thợ (xã Hữu Kiệm, Kỳ Sơn) chỉ cách QL7 khoảng 1km, nhưng đường lên dốc đứng, ngoằn ngoèo. Những căn nhà nhỏ của người Khơ Mú quanh co sườn đồi. Nhiều người già ngồi trên nhà sàn nhìn ra. Đàn lợn con chạy loăng quăng tìm thức ăn. Đằng sau khung cảnh yên bình đó là những bi kịch thắt lòng của tệ nạn buôn bán phụ nữ sang Trung Quốc. Được anh Minh, công an viên của bản dẫn đường, đi qua mấy đoạn dốc cheo leo, chúng tôi tới nơi trú ngụ của ông Moong Văn Tà (47 tuổi). Ông Tà đen nhẻm, da mọc đầy mụt cóc sần sùi, đang nhóm bếp. Căn lều ông ở rộng chừng hơn chục mét vuông, phên liếp cũ sờn, trống hơ hoác. Vợ ông vừa mất do đau ốm, hai đứa con trai đều bị tai nạn thành tật, một chột mắt, một chân gãy hai khúc, đi khập khiễng. Con gái ông là Moong Thị Tà (SN 1999), mất tích đã mấy năm, nghi bị đưa sang Trung Quốc lấy chồng. Nhờ anh Minh hỏi hộ bằng tiếng Khơ Mú (ông Tà không nói được tiếng Kinh), ông Tà trả lời “Có, nhớ lắm”, rồi im, ngơ ngác, đôi mắt thất thần.
Ngay chính em gái công an viên Minh là Moong Thị May (SN 1982) cũng bỏ đi khỏi nhà đã ba năm, không có tin tức, để lại hai con nhỏ. Mẹ chị May, bà Lợi ngồi ôm đứa cháu dại gầy gò, tay mân mê tấm thẻ chứng minh nhân dân chị May bỏ lại, mối liên lạc duy nhất đối với con gái. “Ơ, ở bản ni người mất tích nhiều lắm, số thì bị bắt đem đi, số thì đi lâu rồi không liên lạc về nhà”, trưởng bản Xeo Văn Dung nói. Em Moong Thị Ngọ (SN 2000) bị bắt đi đã bốn năm, gia đình không có tin tức. Nhẩm tính, có 14 -15 người đi Trung Quốc từ 5 – 6 năm, không liên lạc với gia đình. Chỉ vào cái lều của gia đình Xeo Văn Phing nay đã bỏ hoang, Minh kể: “Phing lấy vợ là Chanh, đã có ba con, vợ chồng cãi nhau nên Chanh bỏ sang Trung Quốc lấy chồng đã hai năm. Vừa qua, Chanh về tự đưa đứa con gái nhỏ sang Trung Quốc, Phing đóng lều về ở với anh trai”. Bi hài hơn, Moong Văn Huyên vừa mới cưới Moong Thị Khăm khoảng chừng ba, bốn tháng, khi Huyên đi rẫy, Khăm kêu ốm rồi bỏ đi Trung Quốc lấy chồng. Theo phong tục, phía nhà Khăm đã thỏa thuận đền bù cho Huyên 20 triệu để lấy vợ mới, nhưng nay Huyên vẫn chưa lấy. Lại có trường hợp đã lấy chồng bên Trung Quốc, nhưng sau trở về lấy chồng người Việt.
Trưởng bản Xeo Văn Dung bức xúc: “Ở bản này có mấy trường hợp cha mẹ bán con, tôi đã đề nghị lên xã xử lý, nhưng chưa thấy có ý kiến gì”. Ngồi trên nhà sàn, vừa ăn chuối mỏ giang, ông Dung nói oang oang: “Nhà con H. cạnh đây này, vừa rồi bố mẹ nó mới bán con sang Trung Quốc, nói là được trả 120 triệu”. Được biết, H. hoàn cảnh éo le, bố mất, mẹ lấy chồng. H. lớn lên phổng phao như bông hoa giữa núi rừng, được người mối lái đưa sang Trung Quốc lấy chồng, sau khi sang và lấy chồng trót lọt thì tiền mới được đưa về cho gia đình. Một số trường hợp môi giới đến, thỏa thuận với gia đình, sau khi đưa người sang Trung Quốc lấy được chồng thì về đưa cho gia đình khoảng vài chục triệu.
![]() |
Ông Moong Văn Tà, bản Huồi Thợ xã Hữu Kiệm nhớ con gái mất tích đã nhiều năm nhưng bất lực |
Tự bán mình
Danh sách phụ nữ, trẻ em là nạn nhân của tội phạm buôn bán người tại cơ quan chức năng huyện Kỳ Sơn có 25 người, trẻ nhất 15 tuổi, lớn tuổi nhất là 33. Đây chỉ là các nạn nhân được cơ quan chức năng phát hiện, giải cứu từ các chuyên án điều tra. Một số kẻ đem các băng đĩa có quay cảnh đám cưới cô dâu Việt và chú rể Trung Quốc rầm rộ về chiếu cho bà con xem để làm mồi nhử, rồi hứa trả cho gia đình nhiều tiền. “Đối với nhiều người dân ở đây, vài chục, một trăm triệu là số tiền quá lớn”, chị Vũ Thị Huyền, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Kỳ Sơn phân tích. Việc thỏa thuận, trao đổi với gia đình chỉ bằng miệng, phía gia đình đồng thuận, không có đơn từ. Trong thực tế, số nạn nhân còn lớn hơn nhiều, không ít trường hợp tự đi, tự bán mình.
Đến bản Huồi Thợ, tình cờ chúng tôi gặp chị Moong Thị May (SN 1989), vừa từ Trung Quốc về. May cao lớn, da hơi ngăm đen, rất khỏe mạnh. Lấy chồng cách đây 10 năm, đã có 2 con, nhưng chồng nghiện ngập, ly hôn, con đứa theo bố, đứa mẹ nuôi. Năm 2010, có người giới thiệu đi sang Trung Quốc, biết là để lấy chồng, May cũng chấp nhận. Khi May đi, người môi giới có đưa cho bố mẹ 5 triệu. Sang Trung Quốc, không có giấy tờ gì nên phải đi đường mòn. Cưới chồng (cùng tuổi, là trai tân) được một năm, sinh được con trai thì chồng đi lao động tại Malaysia, ba năm không về. Buồn chán, May đưa con trai là bé Thiên Thiên về Việt Nam. May cho biết gia đình chồng ở vùng ngoại ô Bắc Kinh (?), làm rẫy, thu nhập bình thường, cuộc sống cũng không quá vất vả. Bên đó cũng có nhiều người Việt lấy chồng Trung Quốc, chị em thỉnh thoảng liên hệ với nhau, mỗi người mỗi cảnh. May nói, người Trung Quốc lấy vợ Việt vì họ không đủ tiền cưới vợ trong nước. Người may mắn lấy được chồng khá thì đỡ, còn lấy phải chồng nghèo thì cũng vất vả. Hỏi, chồng có biết em đã có chồng mà vẫn lấy à, May cười: “Lúc đầu thì chưa biết, giờ thì biết rồi”. Sau khi lấy chồng, thỉnh thoảng May cũng được cho tiền về thăm nhà, chi phí đi về mỗi lần khoảng 3,5 triệu. May cũng nói chưa quyết định có trở lại Trung Quốc hay không. May nói thạo tiếng Bắc Kinh, nhưng không biết viết chữ, bé Thiên Thiên cũng chưa học được tiếng Việt. Khi tôi hỏi bằng tiếng Trung Quốc: “Thiên Thiên có nhớ bố không?”, bé nhìn mẹ cười, không trả lời.
Bản Lưu Thắng nằm cách trung tâm xã Chiêu Lưu khoảng 10km, 113 hộ thì có đến 83 hộ nghèo, còn lại 30 hộ cận nghèo, có vài chục thanh niên nghiện hút. Dân không có ruộng, mỗi nhà có hai mảnh rẫy, trỉa một yến (10kg) giống, tốt thì thu được 200 kg thóc, xấu thì chỉ được 100 kg; nhà nào giỏi mới đủ gạo ăn, còn thì thiếu đói triền miên. Dân sống du canh, năm nay làm mảnh này, năm sau đi mảnh khác. “Ơ, đừng đưa lên báo, xấu hổ lắm”, trưởng bản Cụt Thanh Sơn nói. Hỏi chuyện phụ nữ lấy chồng Trung Quốc, công an viên xóm Moong Văn Hải cẩn thận giở cuốn sổ ghi chép, rà lại, rồi cho biết từ 2011 đến nay có 62 phụ nữ của bản đang ở Trung Quốc, chủ yếu lấy chồng bên đó. Anh Hải đánh dấu sau mỗi cái tên đi đã lâu không liên lạc, tổng cộng có 11 người. Có người còn đưa cả chồng Trung Quốc về thăm nhà. Ban đầu một vài người đi, rồi về rủ rê, dụ dỗ người nhà sang bên đó, không báo với chính quyền địa phương.
Đang nói chuyện, vừa gặp Trưởng Công an xã Chiêu Lưu Lê Thanh Bình đi vào, ông lắc đầu: “Chúng tôi đã về làm việc với bà con, cảnh báo, răn đe nhiều về việc tự ý bỏ đi làm ăn xa, nhưng dân họ không nghe; vì đi bên ấy có tiền”. Nếu ở bản Huồi Thợ có tình trạng buôn bán người, thì ở bản Lưu Thắng, là việc nạn nhân “tự bán mình”. Cán bộ bản cho hay, họ tự đi một khoảng từ sáu tháng đến một năm, sau gửi tiền về cho gia đình, thấp nhất 20 triệu, cao thì 50 – 60 triệu, chỉ gửi có một lần. Tại Lưu Thắng, sau nghèo đói, là cảnh các gia đình tan nát vì cha mẹ mất con, chồng mất vợ. Ông Cốc Phò Hường vợ bỏ đi năm 2014, con trai là Cốc Văn Nghệ mới cưới vợ, vợ cũng bỏ đi. Nay hai cha con thui thủi đi làm rẫy. Có trường hợp cả gia đình 4 chị em gái rủ nhau đi Trung Quốc, mẹ đi rồi về lén chồng đưa con gái đi.
Họ mua người như mua rau, mua cỏ
Qua công tác điều tra, công an huyện Kỳ Sơn cho biết: Phụ nữ Việt đưa sang Trung Quốc được “định giá” khác nhau, tùy theo độ tuổi, ngoại hình, đã có chồng hay chưa. Mức “giá” dao động từ 45 – 50 nghìn nhân dân tệ (khoảng 150 – 180 triệu VND), số tiền này môi giới đưa cho gia đình một phần, còn lại bỏ túi. “Họ ngã giá, mua người mình như mua rau, mua cỏ”, một cán bộ công an huyện Kỳ Sơn chua chát. Một nguồn tin khác cho biết “giá” phụ nữ Việt kịch trần là 280 triệu, “nhưng xấu quá họ không lấy”, nguồn tin nói.
QUANG ĐẠI
***
NHỨC NHỐI NẠN BUÔN BÁN PHỤ NỮ Ở MIỀN NÚI NGHỆ AN
KỲ CUỐI: Tìm nhiều cách chặn từ gốc

Dù nhà nước đã có nhiều chính sách, cơ chế xóa đói giảm nghèo, nhưng cuộc sống đồng bào vùng núi cao ở Nghệ An ở một số vùng vẫn còn hết sức khó khăn, dân trí thấp, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế. Đây là mảnh đất màu mỡ cho tội phạm buôn bán người tung hoành. Nếu không giải quyết vấn đề từ gốc, thì tệ nạn rất khó diệt trừ.
![]() |
Phụ nữ làm việc tại HTX Hương Sơn (xã Phà Đánh). Ảnh: Vũ Huyền |
Hàng “quay”
Ông N., cán bộ huyện Kỳ Sơn cho biết, tại bản Huồi Thợ, xã Hữu Kiệm phụ nữ làm “hàng quay” rất nhiều. “Trước đây, tôi thấy tay đàn ông tên Thủy (người Hà Tĩnh) lên đây nhiều lần để tuyển các cô gái trẻ đi làm công ty “cave” ở Xuân Thành. Tôi cảnh báo nhiều lần, nên hắn sợ, không dám trở lại nữa”, ông N. kể. Ông Xeo Văn Dung, trưởng bản Huồi Thợ cũng nói toẹt luôn: “Có con gái ở đây đi làm ở Xuân Thành, sau đó về đi Trung Quốc lấy chồng”. Được biết, thủ đoạn của các công ty “cave” này là rủ rê các cô gái trẻ, nhẹ dạ đi làm “việc nhẹ, lương cao”. Tại các động mại dâm, các cô gái này được nuôi ăn và trả “lương” hàng tháng, khoảng 5 – 6 triệu, số tiền lớn có được từ thân xác các cô rơi vào tay chủ chứa. Sau khi làm “công ty” một thời gian, các cô gái về lấy chồng hoặc đi Trung Quốc lấy chồng.
“Phụ nữ giờ họ có nhiều quyền”, anh Moong Văn Hải, công an viên bản Lưu Thắng (Chiêu Lưu) nói ngắn gọn về tình trạng phụ nữ làm “hàng quay”. Chuyện phụ nữ ở đây có chồng con rồi bỏ đi Trung Quốc lấy chồng, sau trở về lấy chồng Việt, hoặc đã có chồng con ở Trung Quốc bỏ về Việt Nam lấy chồng là tương đối bình thường. “Như con Ch., đã có chồng, con ở Trung Quốc, vừa rồi về có một người là trai tân đến ở rể cùng, sống chung nhưng chưa làm lễ cưới”, anh Hải kể. Hỏi, chàng trai kia có biết lai lịch của vợ không, ông Moong Hải Xoài, Bí thư bản nói: “Biết chứ, nhưng vẫn lấy”. Theo điều tra, hiện nay toàn huyện Kỳ Sơn có hàng trăm phụ nữ đi làm ăn xa không rõ địa chỉ, nhiều người không liên lạc với gia đình, trong đó có hiện tượng phụ nữ làm việc tại các khu du lịch, nghỉ mát, nơi có các dịch vụ nhạy cảm. Đến tháng 4.2016, toàn huyện Tương Dương có 1.549 lao động làm việc bất hợp pháp tại Trung Quốc, trong đó có 859 phụ nữ. Trong số đó, không biết bao nhiêu người làm việc tại các công ty, bao nhiêu người đã “yên bề gia thất” với người Trung Quốc.
Điều tra khó khăn
Nhiều tội phạm buôn người trước đây là nạn nhân, sau khi “con ong đã tỏ đường đi lối về” thì quay lại, dụ dỗ hàng xóm, người thân đi Trung Quốc kiếm lời. Chuyện mẹ bán con, chị bán em đã có trong hồ sơ công an. Mối lợi “khủng” đã khiến không ít kẻ bất chấp tất cả, lao vào nghề “buôn thịt bán người”. Tại xã Hữu Kiệm, từ năm 2013 đến 2015, có 22 người (9 phụ nữ) bị truy tố vì buôn bán người, nay vẫn còn 20 người đang ở tù. Có trường hợp cả vợ chồng cùng dắt nhau vào tù. Từ năm 2012 đến 2015, xã Tam Đình (huyện Tương Dương) có 4 đối tượng bị bắt giữ về hành vi buôn bán người. Ngày 6.5 vừa qua, công an huyện Tương Dương phá thành công chuyên án bắt cóc trẻ em, trao trả cháu M.T.M. (4 tuổi) cho gia đình (trú xã Xá Lượng). Cháu M. bị bắt cóc từ tháng 4, được các đối tượng đưa sang Trung Quốc bán với giá 70 triệu đồng.
![]() |
Lều của Xeo Văn Phing bỏ hoang vì vợ đi sang Trung Quốc lấy chồng, đem theo con gái |
Tuy nhiên, đó chỉ là phần nổi của tảng băng. “Điều tra tội phạm này rất khó, do địa hình trải rộng, hiểm trở, công tác thu thập tài liệu khó khăn”, thiếu tá Hạ Bá Lỉa, Đội trưởng Hình sự – Kinh tế – Ma túy Công an huyện Kỳ Sơn cho hay. Các đối tượng lợi dụng hoàn cảnh quá khó khăn, nhận thức kém của người dân, dùng nhiều hình thức dụ dỗ, tuyên truyền để đưa các phụ nữ, trẻ em gái bán cho người Trung Quốc lấy làm vợ. Nhiều gia đình cũng không nhận thức được việc thỏa thuận, nhận tiền từ môi giới rồi cho con đi Trung Quốc lấy chồng là tiếp tay cho nạn buôn người, nên không những không tố cáo, mà còn bất hợp tác với cơ quan điều tra. Không ít trường hợp, các “nạn nhân” được giải cứu đưa về nhà, sau đó lại tự bỏ đi. Và một số không nhỏ phụ nữ được đưa sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp hay lấy chồng cũng không thừa nhận mình là “nạn nhân”.
Theo ông Trần Phúc Tú, Trưởng Công an huyện Tương Dương, việc điều tra án buôn bán người thường gặp trường hợp đối tượng về nước, nhưng nạn nhân đang ở nước ngoài, và ngược lại. Các đối tượng luôn tìm cách thỏa thuận, đền bù tiền cho gia đình nạn nhân để “mua” sự im lặng” là cơ quan điều tra bó tay. “Một số trường hợp biết rõ bản chất đó, nhưng điều tra thành án không dễ”, ông Tú nói.
Tệ buôn người vẫn có thể bùng phát trở lại
Là một trong 63 huyện nghèo của cả nước, đến nay Kỳ Sơn còn hơn 65% hộ nghèo, Tương Dương còn 49,7% hộ nghèo. Cả hai địa phương này số doanh nghiệp lèo tèo trên đầu ngón tay, giải quyết việc làm cho thanh niên là vấn đề bức bách. Đói nghèo, nghiện ngập, bạo lực gia đình là những nguyên nhân khiến phụ nữ ly hương. Ngoài việc lấy chồng Trung Quốc hay làm các dịch vụ nhạy cảm, nhiều chị em còn bán sức lao động với giá hết sức rẻ mạt trong điều kiện nguy hiểm tại các bưởng vàng ở Quảng Nam, thậm chí đi làm về tay trắng. Nhiều gia đình tan nát, phụ nữ thân tàn ma dại. “Tìm hiểu hoàn cảnh chị em, thương lắm, đau lắm”, chị Vũ Thị Huyền, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Kỳ Sơn ngậm ngùi. Ánh mắt chị Huyền lấp lánh niềm vui khi giới thiệu về mô hình HTX Hương Sơn tại bản Phà Khảo, xã Phà Đánh của gia đình chị Nguyễn Thị Long (quê Hà Tĩnh), chuyên sản xuất chăn nuôi giống cây, con, kinh doanh, dịch vụ và sơ chế sản phẩm nông nghiệp. Dù quy mô nhỏ, doanh thu cỡ vài tỉ/năm, nhưng cái lớn lao là doanh nghiệp đã tạo việc làm thường xuyên cho 50 phụ nữ, lương 4 – 6 triệu/tháng. Trong số đó, 18 chị gia đình hoàn cảnh khó khăn, nuôi bố mẹ già, ốm đau, con cái nheo nhóc, nhiều chị chồng nghiện, bị ngược đãi. “Được nhiều mô hình như thế này thì chị em sẽ không bỏ đi xa nữa”, chị Huyền nói. Nhưng điều chưa vui là toàn huyện mới chỉ có duy nhất HTX Hương Sơn giải quyết được nhiều việc làm cho phụ nữ địa phương, còn đa số các doanh nghiệp khác, vốn đã cần ít lao động, lại còn đưa người dưới xuôi lên làm.
Xuất phát từ một điểm nóng của tình trạng buôn bán người, Công an tỉnh, Hội Phụ nữ tỉnh và các cơ quan chức năng huyện Tương Dương đã xây dựng mô hình CLB “Phòng chống buôn bán người” tại bản Tam Bông, xã Tam Đình. Qua hai năm hoạt động, số hội viên tăng lên 72 người. Cứ 3 tháng một lần, chị em lại tập trung sinh hoạt văn nghệ, nghe hướng dẫn các kỹ năng di cư, làm việc an toàn, học tập các mô hình phát triển kinh tế, giúp nhau làm ăn, giáo dục con cái. Từ một điểm “nóng”, Tam Bông trở thành điểm sáng, góp phần làm cho các làng bản bình yên. Nhận thức cần “gieo mầm” cho lớp trẻ, từ năm 2014, Hội Phụ nữ huyện đã phối hợp với Phòng GD – ĐT Kỳ Sơn mở các lớp xóa mù chữ. Đến nay đã mở được 16 lớp với 472 học viên, trong đó 450 nữ. “Chúng tôi vừa dạy văn hóa, vừa tuyên truyền cho các em về pháp luật, đạo đức xã hội, kỹ năng sống, lập nghiệp để giúp các em biết cái đúng cái sai, tự bảo vệ mình, từ đó lan tỏa trong cộng đồng”, chị Huyền, Chủ tịch Hội Phụ nữ huyện Kỳ Sơn tâm đắc.
Giải quyết việc làm bằng con đường xuất khẩu lao động tại các vùng miền núi còn rất nhiều khó khăn. Cả huyện Kỳ Sơn năm 2015 chỉ có khoảng 30 người đi theo các chương trình, chưa bằng một xã dưới xuôi. Huyện Tương Dương năm 2015 chỉ có 24 người, nửa năm 2016 mới chỉ có 10 người xuất khẩu lao động. “Dân xuất khẩu lao động phần thì chờ đơn hàng lâu, phần thì vay tiền không được. Phía doanh nghiệp không muốn đưa dân đi theo chương trình 30a , có lẽ ngại thủ tục, còn dân thì muốn đi theo 30a”, ông Kha Đình Phê, Trưởng Phòng LĐTBXH Tương Dương giải thích. Đa số người muốn xuất khẩu lao động đều không thể vay được tiền ngân hàng, vì tài sản thế chấp không có gì đáng giá. Một số người do hạn chế về nhận thức, kỹ năng nên không thể đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, dân chỉ còn cách đi lao động chui, theo cò mồi vào các con đường của tệ nạn và đầy rủi ro.
Theo các cơ quan chức năng, tình hình tội phạm mua bán người ở Nghệ An năm 2016 so với năm trước đã giảm nhiều. Nhưng, nếu không có những giải pháp căn cơ là tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, nâng cao dân trí, thì tệ nạn này vẫn âm ỉ và có thể bùng phát trở lại bất cứ lúc nào, bởi các gốc của nó vẫn còn đó.
“…nếu không có những giải pháp căn cơ là tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, nâng cao dân trí, thì tệ nạn này vẫn âm ỉ và có thể bùng phát trở lại bất cứ lúc nào, bởi các gốc của nó vẫn còn đó…”
Vâng, tạo việc làm cho bà con, giúp bà con tăng thu nhập là vài việc cấp bách cần làm trước tiên để góp phần chấm dứt nạn buôn bán người.
ThíchThích