Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học – 3 kỳ

***

Nhận thức về tự chủ đại học: Tự chủ khác với tự lo

26/07/2017 00:00 – Trần Đức Viên

Tự chủ đại học đã được thừa nhận và thúc đẩy hơn 20 năm nay nhưng chưa thực sự tạo ra những chuyển biến đáng kể. Tác giả Trần Đức Viên lý giải nguyên nhân của thực trạng này và đề xuất một số khuyến nghị, nội dung cụ thể sẽ được chia sẻ lần lượt trên Tia Sáng. Dưới đây là kỳ 1: “Nhận thức về tự chủ đại học: Tự chủ khác với tự lo”.


Sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng, một trong những đơn vị tự chủ tài chính. Nguồn ảnh: Báo Lao động.

Tự chủ đại học đã được bắt đầu ở nước ta từ đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, và sau đó đã được luật hóa [1]. Để thúc đẩy quá trình tự chủ các trường đại học công lập, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP (NQ77) ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014-2017. Thời gian thực hiện NQ77 đã sắp kết thúc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành thực hiện tổ chức tổng kết thí điểm [2] đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Chúng tôi xin lạm bàn đôi chút về vấn đề tự chủ đại học.

Chuyển đổi từ kiểm soát “đầu vào” sang giám sát “đầu ra”

Tự chủ trong giáo dục đại học là nhà nước giao các hoạt động của giáo dục đại học cho chủ thể của quá trình đào tạo, đó là các cơ sở giáo dục đại học (CSGD), giống như Khoán 10 đã giao ruộng đất cho chủ thể của đồng ruộng là người nông dân, tạo ra xung lực phát triển nông nghiệp trong những năm đầu đổi mới. Chỉ có tự chủ mới giúp các CSGD phát huy tối đa các lợi thế, các nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của xã hội và lợi ích của chính CSGD với hiệu quả cao nhất. Chỉ có tự chủ đại học mới tạo cơ hội và nguồn lực cho phép các trường đại học phát huy giá trị cốt lõi của giáo dục đại học là tự do học thuật và tự do sáng tạo. Các CSGD có quyền tổ chức và vận hành theo những cách riêng, nhưng đều có một mẫu số chung, đó là tạo dựng và phát triển một nền giáo dục đại học dân tộc, nhân bản và khai sáng, trường đại học thực sự là các nôi của những sáng tạo và đổi mới, theo những chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Tự chủ là quyền của các trường đại học được tự quyết định các vấn đề liên quan đến phát triển đại học mà không bị ràng buộc bởi các quy định bên ngoài, điều này khác hoàn toàn với tự lo. Nhưng tự chủ cũng không có nghĩa là tự do. Để tự chủ đại học thành công, ngoài việc xây dựng và thực hành các quy chế quản trị nội bộ, trách nhiệm giải trình của các CSGD, thì vấn đề mang tính quyết định là cơ quan quản lý nhà nước phải hình thành khung pháp lý phù hợp, thiết kế qui tắc giám sát, hình thành cơ chế giám sát chặt chẽ và nghiêm khắc của xã hội và của nhà nước theo các chỉ số ‘đầu ra cơ bản’ (Key Performence Indicators – KPIs) mà CSGD cam kết. Thay vì kiểm soát ‘đầu vào’ như cách chúng ta đang làm, nhà nước chỉ giám sát kết quả ‘đầu ra’ KPIs mà CSGD đã cam kết, và qua đó đánh giá, phân loại và xếp hạng các trường đại học.

Giao quyền tự chủ cho các CSGD không có nghĩa là Nhà nước trao quyền quản trị và quản lý CSGD cho một cá nhân, mà phải trao cho một tập thể, đó là Hội đồng trường (HĐT). HĐT là một thực thể đại diện cho chủ sở hữu cộng đồng, ở đó gồm các thành viên đại diện cho các nhóm lợi ích có liên quan, nên về thiết chế nó là tổ chức có quyền lực cao nhất, đại diện cho nhà nước quản trị trực tiếp CSGD; vì vậy HĐT có nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường, làm việc theo nguyên tắc đưa ra các nghị quyết tập thể.

Tự chủ đại học được phân thành một số hình thức khác nhau, tựu chung lại có 2 hình thức chủ yếu là (1) Tự chủ thủ tục (procedural autonomy), trường đại học có thẩm quyền trong việc thực hiện các quyết định sẵn có nhưng không có quyền đưa ra quyết định của riêng mình, hoặc chỉ có quyền đưa ra các quyết định từng phần (nên còn được hiểu là tự chủ từng phần); và mức cao hơn là (2) Tự chủ thực chất/Tự chủ toàn diện (substantive autonomy), trường đại học có thẩm quyền đầy đủ để đưa ra các quyết định để vận hành nhà trường hướng tới mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi đã được xác định. Trong đó, tự chủ toàn diện với mô hình quyền hạn quản trị tối cao thuộc về Hội đồng trường và bộ máy quản lý đứng đầu là Hiệu trưởng (HT – Chief Executive Officer – thực chất là giám đốc điều hành) là mô hình quản trị đại học hoạt động linh hoạt ‘như’ (chứ không phải ‘là’) một doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đồng thời vẫn mang đậm hương vị ‘cận thị trường’ (quasi market) nhằm thích ứng với kinh tế thị trường nhưng tránh bị thương mại hóa tuyệt đối, với sự hỗ trợ, giám sát và điều tiết của xã hội và của nhà nước, đang được cho là mô hình tối ưu và phù hợp nhất với các trường đại học của các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi hiện nay.

Sự khác biệt chính giữa tự chủ từng phần và tự chủ hoàn toàn là một đại học tự chủ từng phần chỉ có khả năng xác định được mục tiêu phát triển và việc triển khai phụ thuộc vào bên ngoài; còn đại học tự chủ hoàn toàn do thoát ra khỏi các thủ tục quản lý hành chính rườm rà, quan liêu và các rào cản lợi ích và quyền lực, nên có khả năng xác định phương thức và lộ trình để thực hiện sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi của trường đại học; và do đó, các trường đại học chịu trách nhiệm về uy tín và sự phát triển của đại học với xã hội để thực hiện các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể mà đại học theo đuổi. Qua đó có thể thấy tự chịu trách nhiệm gắn liền với tự chủ hoàn toàn, khi không có tự chủ hoàn toàn thì sẽ không có và không thể tự chịu trách nhiệm.

Tự chủ đại học đồng nghĩa với việc không còn khái niệm ‘cơ quan chủ quản’, ở đó lao động sáng tạo và tự do học thuật được tôn trọng và vinh danh, ở đó CSGD – trên cơ sở các nguồn lực và lợi thế so sánh – được tự quyết định ‘thân phận’ của mình, được tự khẳng định vị thế và tầm vóc của mình, thích ứng với cơ chế thị trường. Nhà nước kiến tạo thể hiện ngay trong việc Nhà nước ‘nhường’ bớt việc cho các CSGD, nghĩa là rút khỏi những công việc cụ thể, sự vụ, chuyên môn, học thuật… giao những lĩnh vực, những việc Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ cho CSGD và cho xã hội.

Tự chủ được thể hiện ở hai cấp độ: cấp độ giữa trường đại học với nhà nước và cấp độ trong nội bộ trường. Về cấp độ giữa trường đại học với nhà nước, mức độ tự chủ của các CSGD phụ thuộc vào các chỉ số KPIs mà họ đã cam kết với xã hội; nhà nước không quyết định mức độ tự chủ, mà chính (năng lực) của từng trường quyết định mức độ tự chủ của họ theo các chỉ số KPIs. Điều này tương tự như cách bố mẹ chăm lo cho con cái lúc lọt lòng cho đến khi đủ khôn lớn để ra ở riêng (tự chủ). Vì vậy, tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, điều kiện kinh tế – xã hội ở mỗi quốc gia, đặc thù đào tạo và NCKH của từng CSGD mà các CSGD có thể phát triển thành đại học tự chủ từng phần hay hoàn toàn, không thể áp dụng một mức độ tự chủ chung cho các đại học. Về cách giao quyền tự chủ, cũng có thể cho các CSGD đăng ký các mức, các quyền mà họ muốn được tự chủ, cơ quan quản lý nhà nước dựa vào mong muốn và thực lực (thể hiện qua các chỉ số KPIs) của họ để cùng CSGD quyết định mức độ tự chủ.

Tại sao quá trình tự chủ đại học “chậm chạp”?

Tự chủ đại học có nhiều ưu điểm đã được khẳng định, và trở thành xu thế mang tính toàn cầu của giáo dục đại học. Nhưng ở nước ta, quá trình tự chủ đã diễn ra hết sức chậm chạp, ngay cả khi có NQ77. Cho đến nay mới có một số rất nhỏ trường đại học công lập (20/169 CSGD, chưa đầy 12%) dám bước đi những bước chập chững đầu tiên trên con đường tự chủ, số đông còn lại vẫn đang tiếp tục nghe ngóng với những âu lo, chưa đủ dũng khí bước vào con đường tự chủ. Phải chăng ‘tấm áo’ tự chủ đã bị chật chội ngay từ khi thiết kế? Phải chăng cơ quản quản lý nhà nước về GD&ĐT còn chưa sẵn sàng về tâm và thế cho tiến trình tự chủ giáo dục đại học? Hay tại CSGD vẫn chưa thích ứng kịp với có chế tự chủ, vẫn còn chưa thoát ra được tư duy bao cấp dựa trên cơ chế xin cho, và vì thế, HĐT vẫn chưa thể trở thành một thiết chế có quyền lực cao nhất của các CSGD như luật định?

Người ta cho rằng, nếu như ba ‘điểm nghẽn’ (khung pháp lý, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT, HĐT) được tháo gỡ thì chắc chắn tự chủ đại học sẽ tạo ra những đột phá cho toàn hệ thống GDĐH, tương tự như ‘Khoán 10’ trong nông nghiệp 30 năm trước.

Chúng tôi xin đưa ra ý kiến về 3 ‘điểm nghẽn’ này như sau:

– Nhà nước chưa ban hành quy định cụ thể nào về quyền của các trường đại học trong việc xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của họ, đọc Luật GDĐH 2012 và các văn bản pháp lý liên quan tuyệt nhiên không thấy điều khoản nào như thế (quyền của các trường đại học trong việc xác lập quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm); nhưng lại quy định hàng loạt các quyền tự chủ của các CSGD đều phải ‘theo qui định’. Dường như các điều khoản cụ thể hóa quyền tự chủ đại học trong Luật GDĐH 2012, như tự chủ về chuyên môn, học thuật, về kiểm định và đảm bảo chất lượng, về quản trị và tổ chức nhân sự, về tài chính, v.v… cho thấy trong quan niệm của những người làm luật thì tự chủ đại học chỉ có thể ở mức độ tự chủ thủ tục, và ngay cả ở mức độ này thì quyền tự chủ của các trường vẫn còn khá hạn chế, bị nhà nước, ở đây là Bộ GD&ĐT, kiểm soát và can thiệp sâu, làm cho quyền tự chủ của các trường đại học bị lu mờ.

–  Trong suốt tiến trình thực thi tự chủ đại học, chưa thấy Bộ GD&DT có một văn bản (thông tư, công văn hay chỉ thị) nào để hỗ trợ, hướng dẫn các CSGD đang ‘thí điểm đổi mới’ thực hiện các quyền tự chủ đã được Thủ tướng CP giao; mà chỉ thấy các văn bản duy trì cơ chế tập quyền, hạn chế quyền tự chủ của các CSGD. Mặt khác, khi các CSGD cần được hướng dẫn thực thi một quyền tự chủ nào đó đã được Thủ tướng cho phép ‘thí điểm’ thì đều nhận được câu trả lời trơn tuột ‘các đồng chí thực hiện theo qui định’. Lạ thật, nếu các qui định hiện hành đều đúng, đều tốt cả, thì việc gì chúng ta phải ‘thí điểm đổi mới’ nữa!

– HĐT, trên thực tế, là một thiết chế ‘hữu danh vô thực’, mọi việc to nhỏ của CSGD đã được đảng ủy và Ban Giám hiệu ‘giúp’ làm hết; tổ chức này không quyền không tiền, nói chẳng ai nghe, thân phận ‘vâng vâng dạ dạ’. Quyền lực của một cá nhân, một tổ chức phụ thuộc vào mức độ ai là người có thực quyền đưa ra quyết định cuối cùng về tổ chức, nhân sự và tài chính. HĐT chỉ có thực quyền khi có quyền ra quyết định cuối cùng về các lĩnh vực này. Các qui định pháp luật của ta đều không có chỗ cho sự hiện diện quyền lực của HĐT với cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, trong trái tim, khối óc của CBVC, người học và đối tác; và vì thế, HĐT không có vai trò gì trong việc đưa ra quyết định về công tác tổ chức, nhân sự và tài chính. Ví dụ, trên các loại bằng cấp của người học, nếu ta thử nhìn vào bằng Thạc sĩ, bằng Tiến sĩ của một đại học nào đó ở Hoa kỳ, chẳng hạn như đại học Purdue hay đại học Bắc Carolina, ở đó đều có chữ ký ở vị trí trang trọng nhất của chủ tịch HĐT; thậm chí bằng cấp là do HĐT quyết định, nên trên các bằng cấp này đều có dòng chữ ‘Be it Known that the Trustees of X Universiy…” hay ‘the Trustees of the University have conferred upon Lê Văn A the degree upon PhD…’, v.v… Ở ta, không có chỗ nào cho vị trí ‘quan trọng’ của HĐT trên tấm bằng hay chứng chỉ ngề nghiệp của người học.

(Đón đọc kỳ 2: Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Tổ chức và cơ chế giám sát)

——-

Chú thích:

[1] Bằng Luật giáo dục 2005, Luật giáo dục đại học 2012 và cụ thể hóa hơn trong Điều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ.

[2] Điểm b Mục 1 Điều 4 của Nghị quyết 77/NQ-CP.

***

Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Về tổ chức và cơ chế giám sát

29/07/2017 00:00 – Trần Đức Viên

Tiếp theo kỳ 1 phân tích nguyên nhân chậm triển khai tự chủ đại học ở Việt Nam, tác giả Trần Đức Viên đưa ra một số khuyến nghị nhằm sớm đưa tự chủ đại học bước vào “đời sống thực” hàng ngày của các đại học công lập (ĐHCL), để các cơ sở giáo dục (CSGD) này nhanh chóng trở thành các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các trung tâm đổi mới và sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của đất nước.

Thí sinh xét tuyển vào đại học Quốc gia Hà Nội. Nguồn ảnh: Báo Nhân dân.

Cơ chế giám sát

Nhà nước cần dứt khoát thay kiểm soát ‘đầu vào’ nặng tính xin cho hiện nay bằng cơ chế giám sát kết quả ‘đầu ra’ của CSGD theo các chỉ số đầu ra cơ bản (KPIs) mà CSGD đã cam kết. KPIs thường được chia thành 4 nhóm là:

(i) Thành tựu KHCN, như số sản phẩm KHCN, tiến bộ kĩ thuật, công nghệ mới được áp dụng, số bài báo thuộc hệ thống ISI hoặc Scopus, số lượng giải thưởng quốc gia, quốc tế về KH&CN, số lượt giảng viên tham gia các hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế, tỷ lệ kinh phí hoạt động KHCN/tổng kinh phí, số phát minh sáng chế, số hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp, với địa phương, v.v… ;

(ii) Chất lượng đào tạo như tỷ lệ giảng viên/người học, tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên có chức danh GS/PGS, số chương trình đào tạo được kiểm định, kinh phí đầu tư/đầu sinh viên, mức độ hài lòng của nhà tuyển dụng, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6 tháng, sau 12 tháng tốt nghiệp, lương khởi điểm của sinh viên, v.v… ;

(iii) Mức độ quốc tế hóa, như tỷ lệ chuyên gia người nước ngoài làm việc tại ĐHCL, tỷ lệ giảng viên được mời giảng dạy ở nước ngoài, số bài báo công bố chung với người nước ngoài, số giảng viên, nghiên cứu sinh được đào tạo, tập huấn ở nước ngoài, số sinh viên quốc tế, số hội thảo quốc tế, số chương trình đào tạo giảng dạy bằng tiếng Anh, số lượng hiệp hội hay mạng lưới quốc tế ĐHCL là thành viên, v.v…;

(iv) Cơ sở vật chất, như kinh phí đầu tư thiết bị nghiên cứu và giảng dạy, số phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn ISO, kinh phí đầu tư cho trung tâm học liệu, v.v…

Việc giám sát KPIs nên giao cho một cơ quan, tổ chức độc lập xếp hạng, đánh giá, đó không phải là công việc quản lý nhà nước của Bộ GD&ĐT.

Về tổ chức

Đã đến lúc Nhà nước (ở đây là Bộ GD&ĐT và Bộ chủ quản) từ bỏ cơ chế quản lý kiểu tập quyền (hierarchical), giải phóng các trường khỏi cơ chế ‘cơ quan chủ quản’ và cơ chế ‘xin’ Bộ GD&ĐT ‘cấp phép’ về công tác chuyên môn. Chính điều này làm cho các hội đồng trường (HĐT) trong thời gian qua hoạt động rất khó khăn, mang tính hình thức và buộc phải chuyển dần qua chức năng tư vấn, mất chức năng của một tổ chức quyền lực theo luật định. HĐT chỉ mạnh và phát huy tác dụng tốt nhất khi không bị ràng buộc hay sự chỉ đạo của một cấp trên nào.

Nhưng giao quyền tự chủ, việc xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản cũng cần có lộ trình, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước, của từng ngành nghề và năng lực của từng CSGD, không nên và không thể xóa bỏ cơ chế cơ quan chủ quản đồng loạt cho tất cả các CSGD.

Việc tồn tại HĐT kiểu “bỏ thì thương vương thì tội” thời gian qua gây rất nhiều trở ngại cho tiến trình tự chủ của các trường đại học công lập; vì vậy, nhà nước nên có quyết định dứt khoát: hoặc là (i) cho xóa bỏ thiết chế HĐT, thiết chế này tốt ở Âu Mỹ hay ở đâu đó, chứ chưa hay, chưa tốt, chưa cần ở ta, sự tồn tại HĐT hiện nay chỉ làm rối thêm hệ thống quản trị đại học vốn còn ẩn chứa nhiều bất cập ở Việt Nam; hoặc là (ii) nếu thấy thiết chế này là cần thiết, điều kiện kinh tế – xã hội của ta đã cho phép, thì dứt khoát phải có các quy định chặt chẽ, cụ thể, khả thi để HĐT về đúng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nó theo luật định.

Để quyền lực của HĐT trở thành hiện thực, cần:

(i) HĐT của một CSGD là tổ chức thay mặt nhà nước quản trị trường đại học; vì thế, để tiến tới xóa bỏ cơ chế ‘bộ chủ quản’ theo mô hình quản trị đại học của các nước tiên tiến, thì ngay bây giờ đề nghị Chính phủ cho áp dụng Điều 7 và Điều 8 của Thông tư số 03/2016/TT-BNV ngày 25 tháng 05 năm 2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về thành lập và hoạt động của hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể: HĐT là đại diện của nhà nước (Bộ chủ quản, cơ quan Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) tại cơ sở giáo dục công lập; thay vì hiệu trưởng (HT) phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản và Bộ GD&ĐT thì nay HT chỉ cần báo cáo và xin ý kiến HĐT về các lĩnh vực công tác được Nhà nước giao quyền hoặc được ủy quyền, tránh tình trạng ‘một cổ hai tròng’ của HT: vừa báo cáo xin ý kiến HĐT, vừa báo cáo xin ý kiến cơ quan quản lý nhà nước. Nhà nước cần qui định rõ ‘chỉ giới đường đỏ’: những hạng mục công việc nào HT chỉ cần báo cáo, xin ý kiến HĐT; những hạng mục công việc nào HT nhất thiết phải báo cáo, xin ý kiến Bộ chủ quản, Bộ GD&ĐT…

(ii) HĐT quyết định về chủ trương, phương hướng, kế hoạch hoạt động, tài chính và công tác nhân sự; kiểm tra, giám sát và hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập.

(iii) Cụ thể, nhiệm vụ trung tâm của HĐT là (a) xem xét và phê chuẩn chiến lược, điều lệ, qui chế tổ chức và hoạt động, giám sát tổng thể trường đại học, xem xét đường lối phát triển của nhà trường và phê chuẩn (phê chuẩn chứ không phải ‘thông qua’) việc sử dụng các nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính, của nhà trường, kiểm soát và định hướng mọi chi tiêu từ các quỹ của nhà trường; định ra chính sách học phí và các chinh sách tăng thu, tiết kiệm chi của nhà trường; duyệt và phê chuẩn báo cáo hàng năm của Hiệu trưởng trên cơ sở kết quả của hội nghị cán bộ viên chức; (b) xây dựng qui trình giới thiệu, bầu, chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị, từ HT trở xuống, đảm bảo công khai, minh mạch, hiệu lực quản lý và hiệu suất công tác của cán bộ lãnh đạo, quản lý; (c) Tổ chức giới thiệu, lựa chọn, và bầu ra chủ tịch HĐT và HT, các phó hiệu trưởng, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt như trưởng khoa, trường phòng theo quy trình bổ nhiệm của hội đồng. Đảm bảo các cán bộ được lựa chọn đều nằm trong danh sách qui hoạch của Đảng ủy. Trong đó quan trọng nhất là lựa chọn được hiệu trưởng là người có phẩm chất và năng lực thực sự để trở thành CEO đứng đầu bộ máy điều hành nhà trường; (d) HĐT cũng là tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và các chức danh lãnh đạo, quản lý khác của nhà trường nếu họ không hoàn thanh nhiệm vụ hoặc bị thoái hóa, biến chất; (đ) giám sát, đánh giá và hỗ trợ hoạt động điều hành thực hiện chính sách của bộ máy điều hành (Ban giám hiệu).

(iv) Để hoàn thành các nhiệm vụ, HĐT không thể làm việc hời hợt kiểu ‘chuồn chuồn chấm nước’, mỗi năm họp 2 lần. Trên thực tế, nếu làm tròn vai trò và trách nhiệm, khối lượng công việc của HĐT rất lớn, nhưng lại không thể triệu tập họp thường xuyên tất cả các thành viên nhiều lần/năm. Từ thực tiễn của một CSGD, ở đây HĐT đã thành lập Thường trực HĐT, với số lượng thành viên phù hợp (như ở CSGD này là 7 người, gồm Bí thư Đảng ủy, chủ tịch HĐT, HT, 4 giảng viên đại diện cho 4 lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học chính của CSGD), họ là những người am hiểu nhất về các lĩnh vực hoạt động của nhà trường. Thường trực HĐT họp ít nhất mỗi tháng một lần, và thường sau một quí thì dự họp liên tịch Đảng ủy – Hội đồng trường – Ban giám hiệu một lần, theo sát các hoạt động của nhà trường, làm cơ sở cho việc giám sát, đánh giá và hỗ trợ hoạt động của Ban giám hiệu.

Một thiết chế nữa được quy định trong tất cả các văn bản pháp lý hiện hành về tổ chức hoạt động của trường đại học là Hội đồng Khoa học &Đào tạo (Academic Senate, Academic Council), từ xưa đến nay đều chỉ là tổ chức tư vấn cho hiệu trưởng, chứ không phải tổ chức có thẩm quyền cao nhất về mặt học thuật, chuyên môn như thông lệ quốc tế; tệ hơn, nó còn là tổ chức “tự tư vấn cho chính mình”. Hãy trả lại đúng vị trí, vai trò và trách nhiệm của Hội đồng Khoa học &Đào tạo cho các CSGD.

Về nhân sự

Trường đại học là môt tổ chức học thuật, có đặc thù riêng, không thể và không nên lấy các tiêu chuẩn và thước đo của các cơ quan hành chính nhà nước ‘áp’ vào công tác nhân sự ở đây. Vì vậy, trong quá trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ, lấy hiệu lực quản lý, hiệu quả công tác, năng suất lao động làm thước đo quyết định, các tiêu chuẩn hiện hành khác qui định cho cán bộ quản lý các cơ quan hành chính (trình độ, tuổi tác, nhiệm kỳ, v.v…) chỉ nên xem là các tiêu chí tham khảo quan trọng.

Bộ chủ quản xem xét và phê chuẩn kết quả bầu hai chức danh là chủ tịch HĐT và HT; các chức danh quản lý, lãnh đạo còn lại giao CSGD thực hiện giới thiệu, bầu và bổ nhiệm theo qui trình công khai, rõ ràng, được HĐT thông qua (như cách làm của Bộ NN&PTNT giao quyền cho HVNNVN).

Nhà nước giao CSGD xem xét việc bổ nhiệm lại, cho kéo dài thời gian giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, bổ nhiệm người quá tuổi lao động theo qui định vào các vị trí lãnh đạo, quản lý tùy thuộc vào hiệu lực quản lý, hiệu quả quản trị, hiệu suất công tác của đối tượng xem xét bổ nhiệm. Một người, dù tài giỏi, cũng không nên làm quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp ở cùng một vị trí lãnh đạo, quản lý.

Quyền cũng đi liền với trách nhiệm; vì vậy, cùng với HT, chủ tịch HĐT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhà nước, trước xã hội, trước cán bộ viên chức và người học về tất cả các lĩnh vực hoạt động của CSGD, theo các KPIs CSGD đã cam kết.

Để có thể hoàn thành nhiệm vụ, ngoài các qui định chung, tiêu chuẩn nhân sự chủ tịch HĐT phải cao hơn HT, có uy tín cao với tập thể giáo viên, có uy tín cao với xã hội, được HT nể trọng, vừa giỏi chuyên môn vừa dày dạn kinh nghiệm quản lý hơn HT, có tầm nhìn xa, có tính cách mạnh mẽ, có phẩm chất thẳng thắn và trung thực. Vì vậy, họ cần kinh qua công tác quản lý cấp trường (HT hoặc phó hiệu trưởng) ít nhất một nhiệm kỳ (5 năm). Để có những người như thế, nhà nước cần phải nới độ tuổi của chủ tịch HĐT.

Vì CSGD tự lo chi thường xuyên và chi không thường xuyên, nên họ được quyết định số lượng biên chế, định biên, vị trí việc làm, khen thưởng, kỷ luật, điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, lên lương, lên ngạch, hạ lương, hạ ngạch cán bộ viên chức và người lao động của đơn vị, trừ chức danh chủ tịch HĐT và HT thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ chủ quản; được quyết định việc giao kết hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động với giảng viên, nhà khoa học, nhà quản lý là người Việt Nam và người nước ngoài, trong và quá tuổi lao động theo qui chế tổ chức và hoạt động của CSGD, để thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và lãnh đạo, quản lý, đáp ứng các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Những lao động này được tính như giảng viên cơ hữu của CSGD, và được hưởng mọi quyền lợi như giảng viên cơ hữu. Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ chủ quản, Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ…) ở rất ‘xa’, làm sao có thể biết những việc này cụ thể, sâu sát, rõ ràng như CSGD, nên cơ quan quản lý nhà nước cứ đòi giữ quyền ‘duyệt’ với ‘phê chuẩn’ là không phù hợp, hãy để CSGD tự chịu trách nhiệm về các quyết định của họ.

(Đón đọc kỳ 3 “Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị”).

***

Khuyến nghị cho tiến trình tự chủ đại học: Mối quan hệ giữa các thiết chế quản trị

31/07/2017 00:00 – Trần Đức Viên

Trong kỳ cuối của loạt bài viết về tự chủ đại học ở Việt Nam, tác giả Trần Đức Viên sẽ phân tích, đưa ra những khuyến nghị về cơ chế quản lý để đảm bảo quá trình tự chủ đại học thực sự có chuyển biến cả về chất và lượng.

Ảnh minh họa. Nguồn: Tiền phong.

Mối quan hệ giữa ba thiết chế quản trị trường đại học tự chủ

Một trong những ‘điểm nghẽn’ trong thời gian qua được các trường đại học và dư luận xã hội quan tâm nhiều là vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, và mối quan hệ giữa ba thiết chế lãnh đạo, quản trị, quản lý trường đại học là Đảng ủy (ĐU), Hội đồng trường (HĐT) và Ban Giám hiệu (BGH). Về vấn đề này nên vận dụng các nguyên tắc đã được áp dụng khi giải quyết các mối quan hệ giữa Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội và Chính phủ ở tầm quốc gia.

– Ban chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) nhà trường là tổ chức Đảng đại diện cho Đảng bộ giữa 2 kỳ Đại hội; hoạt động theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ cấp trên và Quy chế làm việc của Ban chấp hành Đảng bộ trường; có trách nhiệm là hạt nhân chính trị, lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện nhà trường bằng các nghị quyết. Đảng ủy có nhiệm vụ (i) xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh; (ii) ban hành và lãnh đạo nhà trường bằng các nghị quyết về các mặt công tác và các nhiệm vụ chính trị của nhà trường, mang tính đường lối, định hướng; (iii) lãnh đạo công tác tổ chức và cán bộ thông qua các nghị quyết về công tác tổ chức và qui hoạch nhân sự; (iv) không can thiệp vào công tác quản trị của HĐT, và công tác quản lý hàng ngày của hiệu trưởng (HT). Thực ra, Đảng ủy luôn là thiết chế lãnh đạo tòan diện và tuyệt đối các lĩnh vực hoạt động của nhà trường, điều đó luôn được khẳng định vì các vị trí lãnh đạo chủ chốt, từ chủ tịch HĐT, HT, phó hiệu trưởng, trưởng các đơn vị đều là đảng viên sinh hoạt tại các chi bộ trực thuộc Đảng ủy, họ có trách nhiệm tối thượng là sống và làm việc theo Điều lệ Đảng, pháp luật của nhà nước, theo nghị quyết của chi ủy, đảng ủy bộ phận và của các chỉ thị, nghị quyết của đảng ủy cấp trên.

– Trong một cơ sở giáo dục đại học, HĐT là một thực thể có quyền lực cao nhất, làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản trị nhà trường, còn bộ máy của HT có nhiệm vụ quản lý, điều hành. HĐT phải lãnh đạo chiến lược, không nên sa vào các quyết định chiến thuật, do đó khi đã có chính sách và kế hoạch phát triển tổng thể, HĐT phải giao quyền đầy đủ cho HT, không can thiệp vào việc điều hành cụ thể của HT. Vì thế, người ta thường nói HĐT chỉ có một ‘nhân viên’, đó là HT.

– Mối quan hệ giữa HĐT và các thành viên của HĐT với HT và bộ máy của HT tuân theo các nguyên tắc: (i) HĐT giữ vai trò lãnh đạo, còn HT làm nhiệm vụ quản lý; (ii) HĐT lãnh đạo và quản trị cơ sở giáo dục đại học thông qua HT, không trực tiếp tác động đến các thành viên trong bộ máy của HT, trừ khi HT đề nghị; (iii) Sự lãnh đạo và quản trị của HĐT được thực hiện bằng nghị quyết của toàn thể hội đồng chứ không phải của các thành viên hội đồng, kể cả chủ tịch; (iv) Quan hệ giữa HT và các thành viên HĐT là quan hệ cộng sự, ngang hàng, hỗ trợ nhau, không phải trên dưới.

– Hiệu trưởng với tư cách một cá nhân vừa là thành viên HĐT, vừa là người có nhiệm vụ thi hành các nghị quyết của HĐT, nên vị trí và nhiệm vụ của HT là: (i) là người đứng đầu bộ máy điều hành, có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt nhất mọi chính sách và kế hoạch tổng thể do HĐT đề ra, thể hiện qua các nghị quyết của HĐ[1]; (ii) là cầu nối giữa HĐT và các thành viên trong trường với cán bộ viên chức và người học; (iii) chịu trách nhiệm giải trình trước HĐT về các hoạt động của nhà trường, đảm bảo thành tựu của các chính sách được đề ra và không vi phạm những giới hạn điều hành đã được quy định.

Ở đây cần có sự tin tưởng lẫn nhau giữa bộ phận lãnh đạo, quản trị và bộ máy điều hành, quản lý. Khi các bên hiểu rõ trách nhiệm của mình, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau thì quan hệ giữa các bên sẽ tốt đẹp và được tối ưu hóa, sức mạnh của các thiết chế này sẽ được cộng hưởng thành sức mạnh tổng hợp, mạnh mẽ và hiệu quả hơn rất nhiều so với từng thiết chế riêng rẽ.

Có nên kiêm nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản trị và quản lý trường đại học?

Trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay, có ba vị trí lãnh đạo, quản trị và quản lý chủ chốt là Bí thư, Chủ tịch HĐT và HT. Có trường Bí thư kiêm HT, có trường Bí thư kiêm Chủ tịch. Dù là mô hình nào, thì cũng đều có thể tham khảo, học hỏi, nhưng không nên áp đặt hay ‘gợi ý’ nên như thế này, nên như thế kia, cố gắng áp dụng đồng loạt theo kiểu đồng phục (uniform) ‘chụp’ lên tất cả các trường. Các trường tự chủ nghĩa là họ có quyền định đoạt ‘số phận’ của họ, không nên và không thể áp đặt.

Thực tế cho thấy, Chủ tịch HĐT kiêm HT dễ làm cho quyền lực của HT bị lạm dụng và tha hóa, và như một hệ quả, dễ dẫn đến tình trạng thiếu dân chủ. HT là Chủ tịch HĐT nên việc thực hiện nhiệm vụ của HĐT mang tính cá nhân nhiều hơn, không hề có dấu ấn của tập thể, nếu có thì cũng rất mờ nhạt, không thực chất; HT vẫn có thể tha hồ đưa ra quyết định mà không vấp phải một ‘phản biện’, một sự ‘cân đối quyền lực’ nào. Ở những cơ sở giáo dục (CSGD) này chỉ có dân chủ hình thức; vì vậy, HT dứt khoát không thể kiêm chức Chủ tịch HĐT. Bí thư có thể kiêm HT hoặc kiêm chủ tịch HĐT hoặc ba vị trí này do ba người nắm giữ, tùy thuộc vào từng CSGD, và họ phải tự quyết định việc này. Chỉ có như thế mới hạn chế được những sai lầm khi quyền lực tập trung vào tay một người, mới có thể giảm thiểu đến mức thấp nhất những sai phạm về thiếu dân chủ mà các trường dễ mắc phải.

Tự chủ về công tác chuyên môn

Nhà nước nên giao quyền toàn diện về tự chủ học thuật, tự chủ chuyên môn cho các trường đại học, giám sát kết quả đầu ra qua các chỉ số đầu ra cơ bản (KPIs) do các trường đã cam kết với xã hội hơn là giám sát đầu vào theo cơ chế xin-cho. Bãi bỏ quản lý kiểu ‘cấp phép’ của Bộ GD&ĐT với các CSGD (như các ‘giấy phép con’: Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT ngày 22/12/2010 về tiêu chuẩn mở ngành đào tạo; Thông tư số 32/2015/TT-BGDĐT ngày 16/12/2015 về xác định chỉ tiêu tuyển sinh; Thông tư số 15/2014/BGDĐT-ĐTĐH ngày 15/05/2014 quy định địa điểm tổ chức thi tuyển sinh; Công văn 1761/BGDĐT-GDĐH ngày 15/04/2015 quy định tổ chức đào tạo ở ngoài cơ sở đào tạo; Thông tư số 08/2011/TT-BGDĐT ngày 17/2/2011, Thông tư số 38/2010/TT-BGDĐT ngày 22/12/2010 quy định thẩm định và phê duyệt cho phép đào tạo các ngành hoặc chuyên ngành mới, v.v…). Cũng cần giao các trường được tự quyết định việc đào tạo theo nhu cầu xã hội, theo đơn đặt hàng của địa phương, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế với những thế mạnh của CSGD, miễn là CSGD có đề án khả thi, chịu trách nhiệm giải trình, được HĐT thông qua và chịu sự giám sát của xã hội, của nhà nước.

Tự chủ về đầu tư

– Với các dự án do nguồn vốn tự có và các dự án đầu tư từ các nguồn vốn của nhà nước có tổng mức đầu tư dưới 20 tỷ đồng, CSGD được thành lập ban quản lý dự án;

– Các trường được chủ động hoàn toàn trong việc mua sắm, có nghĩa là tự chủ trong việc phê duyệt danh mục, kế hoạch sử dụng kinh phí, dự toán thiết bị đối với các gói mua sắm từ nguồn thu hợp pháp nhằm tăng tính tự chủ và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.

– Với các gói cải tạo sửa chữa từ nguồn thu hợp pháp, các trường được chủ động từ khâu lập và thẩm định kế hoạch sử dụng kinh phí, phê duyệt danh mục, dự toán cho đến việc triển khai tổ chức thực hiện; Đối với các công trình có trị giá từ 20 tỷ VNĐ đồng trở xuống do ngân sách nhà nước cấp, đơn vị được phê duyệt chủ trương đầu tư và quyết toán công trình; Các trường được chủ động lựa chọn các tổ chức có đủ chức năng thẩm định công trình, mua sắm trên nguyên tắc đảm bảo khách quan, công khai, minh bạch.

– Với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn thu hợp pháp của CSGD, nhà trường được phép tự chủ thuê hoặc tự thực hiện (nếu có đủ năng lực theo luật định) các công đoạn thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định vốn, thẩm tra thiết kế, thẩm tra vốn, phê duyệt dự án và chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cơ quan quản lý nhà nước về tính hợp pháp và hợp lý trong các quyết định của CSGD.

– Có quyền tự giám sát thi công các công trình xây dựng theo đúng thiết kế và dự toán; Thực tế là hiện nay, các cơ quan được thuê giám sát thi công các công trình có tinh thần trách nhiệm rất thấp, câu chuyện nhà thầu và cơ quan giám sát ‘đi đêm’ với nhau rất phổ biến. CSGD tự giám sát thi công công trình của mình, kinh phí do mình bỏ ra, sẽ hiệu quả, tiết kiệm và thực chất hơn rất nhiều.

Về tự chủ tài chính

Ở Việt Nam hiện nay khá nhiều người hiểu tự chủ đại học trước hết và then chốt là tự chủ tài chính, nghĩa là nhà nước cắt chi thường xuyên, cắt giảm đầu tư. Điều này trái với thực tế tự chủ đại học trên thế giới, đó là khi giao quyền tự chủ cho đại học thì nhà nước chỉ thay đổi cách đầu tư: thay đầu tư theo dòng kinh phí-hạng mục (line-iterms) như trước đây bằng đầu tư một khoản kinh phí (block grants). Đã đến lúc Nhà nước thay đổi phương thức đầu tư: thay vì cấp kinh phí nuôi bộ máy, đầu tư theo dòng kinh phí-hạng mục thì đầu tư một khoản kinh phí cố định trong một khoảng thời gian nào đó (thường là 5 năm), hoặc giao kinh phí theo cách đặt hàng và giao nhiệm vụ trên cơ sở kết quả ‘đầu ra’ (KPIs) của CSGD. Nhà trường được quyền linh động sử dụng nguồn kinh phí đó một cách hiệu quả nhất, và Nhà nước tăng cường giám sát tính minh bạch và hiệu quả việc của sử dụng kinh phí của CSGD (Rattana, 2015); và như một lẽ đương nhiên, chính phủ cũng công khai, minh bạch các khoản kinh phí đầu tư cho các CSGD, kể cả đại học quốc gia và đại học vùng, theo các KPIs của họ.

Cơ chế cấp phát tài chính cho các CSGD của nhà nước cũng cần thay đổi, có thể theo 2 cách (i) hoặc là ngân sách nhà nước cấp thẳng cho các CSGD, như cách làm của Hoa Kỳ; (ii) hoặc là kinh phí vẫn qua Bộ chủ quản, như phần lớn các nước, theo các tiêu chí rõ ràng, thuyết phục dựa trên các chỉ số KPIs của CSGD.

Về chủ tài khoản, theo cơ chế tự chủ, các đại học công lập sẽ hoạt động, vận hành ‘như’ doanh nghiệp; và chúng ta đang tiến tới ‘đối xử’ công bằng với các trường đại học, công cũng như tư. Theo qui định hiện hành, các trường ngoài công lập, chủ tịch HĐT được gọi là chủ tịch hội đồng quản trị và là chủ tài khoản, vậy với các trường công lập, nhà nước cũng cần xem xét cơ chế để HĐT có quyền lực thực sự trong kiểm soát tài chính. HĐT có quyền thì mới đòi hỏi thực thể này có trách nhiệm; ví dụ qui định với các khoản thu-chi có giá trị từ X đồng trở lên thì HĐT chịu trách nhiệm kiểm soát và điều đó được thể chế hóa bằng các văn bản liên quan; hoặc áp dụng cơ chế đồng chủ tài khoản, nghĩa là chủ tịch HĐT và HT cùng đứng tên mở tài khoản, họ có quyền và nghĩa vụ như nhau khi thực hiện mọi giao dịch liên quan đến tài khoản đồng chủ sở hữu.

Thay cho lời kết

Xây dựng đại học tự chủ hoàn toàn là hình thức chuyển biến cả về chất và lượng trong mối quan hệ giữa chính phủ và cơ sở giáo dục đại học thông qua việc chính phủ hỗ trợ và cho phép các trường đại học thay đổi hoàn toàn hệ thống cấu trúc và quản trị đại học.Trên cơ sở đó đại học tự chủ có thể tự quyết tất cả các vấn đề liên quan đến sự phát triển của CSGD một cách công khai, minh bạch, hiệu quả. Tóm lại là nhà nước và xã hội để cho các trường có quyền nói lên tiếng nói của mình, có quyền đưa ra quyết định của chính mình và chịu trách nhiệm về các quyết định ấy, để thực hiện mục tiêu, sứ mệnh, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà trường đại học đang theo đuổi một cách hiệu quả nhất, tiết kiệm nhất về thời gian và tiền bạc. CSGD có trách nhiệm giải trình với nhà nước, với xã hội về tất cả các hoạt động của mình; và nhà nước, xã hội giám sát các hoạt động và sự vận hành của CSGD qua các chỉ số cơ bản mà CSGD đã cam kết, với mục tiêu là CSGD xây dựng danh tiếng dựa trên chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội (văn hóa chất lượng).

Tự chủ là một quá trình đầy thử thách và cơ hội, cần những con người dũng cảm, có tinh thần sáng tạo, dám dấn thân vì khát vọng đổi mới; đó là những con người dám nghĩ, dám làm và biết làm, và có thể làm được những việc lớn. Để đảm bảo qúa trình tự chủ đại học thắng lợi, các cơ quan quản lý nhà nước cần tôn trọng quyền tự chủ của các trường, đồng hành cùng các trường, thông qua ban hành các văn bản pháp lý, các hướng dẫn mang tính mở đường, kiến tạo và đó chính là cách tốt nhất để các cơ quan quản lý nhà nước hoàn thành công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học của chúng ta.

————-
Chú thích:

[1] Hoạt động của hiệu trưởng không phải là thực hiện những công việc cụ thể, mà là thiết kế công việc, lãnh đạo thực hiện chiến lược và kế hoạch hành động của BGH bằng các sách lược, chiến thuật, điều hành cụ thể, tạo nên bầu không khí làm việc tích cực, sáng tạo và chan hòa trong nhà trường; HT không làm thay công việc thuộc trách nhiệm của các tổ chức trực thuộc (Phòng Ban, Khoa, Viện…). Nếu làm thay, nghĩ thay, vô hình trung HT đã tạo ra sự chây ì, dựa dẫm, trông chờ, làm triệt tiêu tính năng động, sáng tạo và chủ động của bộ máy thừa hành, làm nảy nở thói vô trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thừa hành.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s