Băn khoăn xây cống Cái Lớn – Cái Bé

Sông Cái Lớn và sông Cái Bé là hai con sông lớn nhất ĐBSCL đổ ra biển Tây, nên nước mặn theo đó xâm nhập mạnh vào vùng Bán đảo Cà Mau, nhất là các tháng cuối mùa khô. Ngày 5/4/2017, Bộ NN&PTNT có tờ trình Thủ tướng Chính phủ duyệt chủ trương đầu tư xây cống ngăn mặn sông Cái Lớn và Cái Bé, đến nay, nhiều bộ và địa phương cùng các chuyên gia bày tỏ băn khoăn.

Dự án có tên Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé, nhằm kiểm soát mặn từ biển Tây, tăng lượng nước ngọt từ sông Hậu về vùng U Minh, tây Quản lộ – Phụng Hiệp và Nam Cà Mau. Vùng hưởng lợi, từ sông Hậu phía Đông Bắc tới biển phía  Tây, từ kênh Cái Sắn mạn Bắc đến kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp mạn Nam. Có 906.758 ha đất nằm trong dự án, của 6 địa phương: thành phố Cần Thơ và các tỉnh  Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.


Sơ đồ vị trí cống Cái Lớn – Cái Bé

Dự án hai giai đoạn

Dự án được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, Bộ NN&PTNT giao cho Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 làm chủ đầu tư và Viện Kỹ thuật Biển thuộc Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Giai đoạn 1 (từ năm 2017 – 2020): đầu tư xây cống Cái Lớn, Cái Bé, đê nối hai cống với Quốc lộ 63 và Quốc lộ 61, kênh nối sông Cái Lớn – Cái Bé để chủ yếu ngăn mặn phía tỉnh Kiên Giang. Giai đoạn 2 (sau năm 2020), đầu tư tiếp loạt cống để ngăn mặn phía tỉnh Cà Mau, gồm các cống Xẻo Rô, Ông Đốc, Lương Thế Trân, ngọn Tắc Thủ và trạm bơm Tắc Thủ, sửa chữa cửa van cống âu Tắc Thủ, cụm công trình bờ đông kênh Chắc Băng và sông Trẹm.

Báo cáo của Chủ đầu tư, giai đoạn 1 “cần thiết, cấp bách và là giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát mặn từ biển Tây, kiểm soát mực nước trên sông Cái Lớn – Cái Bé, tăng cường lượng nước ngọt từ sông Hậu về khu vực dự án”. Tổng diện tích đất cho các công trình giai đoạn này là 319 ha. Tổng mức đầu tư 3,3 nghìn tỷ đồng, trong đó, chi phí xây dựng chiếm gần 76%, thực hiện từ năm 2017 đến 2020. Hai công trình lớn nhất là cống trên sông Cái Lớn và Cái Bé.

Sông Cái Lớn đổ biển Tây, đầu nguồn thông với sông Cái Tư, kênh Xà No và nhiều kênh khác. Sông rộng trung bình 500 – 650m, sâu 12 – 14m. Cống Cái Lớn dự kiến xây dựng cách cửa biển 13 km, tại xã Hưng Yên (An Biên, Kiên Giang), có 8 khoang và 2 âu thuyền với tổng khẩu độ thoát nước 367m. Trong 8 khoang, 2 khoang bố trí giữa cống có khẩu độ 63,5m nhằm đảm bảo giao thông thuỷ trong thời gian đóng cửa, 6 khoang ở hai bên cống với khẩu độ 40m. Do cống có cầu giao thông ở trên, nên bố trí 2 âu thuyền gần giữa sông, mỗi khoang 14m.

Sông Cái Bé quanh co khúc khuỷu, một đầu vừa ra biển vừa theo rạch đổ vào sông Cái Lớn, đầu kia thông với nhiều kênh ở nhiều địa phương. Nước mặn theo sông Cái Bé có năm vào tới thành phố Vị Thanh tỉnh lỵ Hậu Giang, cách cửa sông Cái Lớn khoảng 65km, ảnh hưởng tới 44.000 ha đất canh tác của tỉnh này. Cống Cái Bé dự kiến xây ở xã Bình An (Châu Thành, Kiên Giang) cách Quốc lộ 63 khoảng 3,2km, có 2 cửa rộng tổng cộng 64m.

Báo cáo đánh giá tác động môi trường cho rằng, hòan thành giai đoạn 1, dự án tác động tích cực nhiều mặt về sản xuất, giao thông, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; và “cũng gây ra một số tác động tiêu cực đối với môi trường, tuy nhiên, các tác động này có thể được giảm thiểu”.


Phối cảnh tổng thể cống Cái Lớn

Cần nghiên cứu thêm

Vấn đề lớn nhất của dự án hiện nay, giai đoạn 2 chưa được nghiên cứu, trong lúc khu vực có chi chít sông, rạch. Các sông lớn như Ông Đốc, Bảy Háp, Cái Tàu, Ông Trang, Mỹ Thanh, Gành Hào rộng 300-600m, cửa sông có nơi tới 1.800m. Hàng loạt rạch như Tiêu Dừa, Xẻo Chít, Cái Tư, Nước Trong, Nhu Gia, Chàng Ré rộng 100-200m. Làm sao ngăn mặn, mà nếu không ngăn mặn được thì giai đoạn 1 không có tác dụng tốt.

GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân (Chủ nhiệm Chương trình cấp nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL 1983 – 1990; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nghiên cứu Khai thác Bán đảo Cà Mau 1989 – 1992) cho rằng, cần nghiên cứu thêm. Ông nói: “Không thể trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư chỉ với một bộ hồ sơ báo cáo một giai đoạn, bởi vô hình trung “gài” Thủ tướng vào thế phóng lao thì sau này sẽ phải theo lao”. Không chỉ mạn biển chi chít sông rạch mà hệ thống cống Cái Lớn-Cái Bé còn liên quan khoảng 30 cái đập nước ngọt ở mạn trên, chưa được đánh giá toàn diện. Trong lúc, bài học của dự án “Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau” cuối thập niên 1980 còn nguyên, xây dựng loạt công trình ngăn mặn, sau đó, người dân phải phá để… lấy nước mặn nuôi tôm. Ông cho biết thêm, kết quả bỏ phiếu của Hội đồng thẩm định hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án, có 19/23 phiếu yêu cầu bổ sung chỉnh sửa với các nội dung hệ trọng: tại sao đặt cống Cái Lớn-Cái Bé ở vị trí đó, cần phân tích rõ hiệu quả đầu tư của toàn dự án.

Bộ KH&ĐT cũng nêu quan điểm: “Đây là dự án có tác động trên địa bàn rộng lớn bao gồm 6 tinh. Vì vậy, có những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường, sinh thái của khu vực. Do đó báo cáo cần liệt kê, phân tích, đánh giá một số tác động tiêu cực của dự án (…) từ đó có phương án ứng phó phù hợp”.

Bộ Tài chính: “Đề nghị Bộ NN&PTNT khẩn trương hoàn thiện các thủ tục đầu tư dự án (…) trong phạm vi tổng mức vốn đầu tư công nguồn trái phiếu Chính phủ giai đọan 2017-2020 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt”. Xin lưu ý: Khẩn trương không có nghĩa cắt dự án ra trình giai đoạn 1 thay cho toàn dự án. Còn Bộ TN&MT: “Bổ sung nội dung tăng cường năng lực, hiệu quả quản lý vận hành các cống ngăn mặn, giữ ngọt đề phòng chống xâm nhập mặn; đánh giá tác động của việc xây dựng các công trình trên sông đến sự ổn định lòng, bờ, bãi sông”.

Các địa phương cũng kiến nghị nhiều nội dung cần nghiên cứu thêm. Tỉnh Hậu Giang: “Cần bổ sung tác động tình hình ô nhiễm môi trường nước do thay đổi lưu lượng dòng chảy, độ mặn tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân trong vùng dự án. Xác định rõ ranh giới nguồn nước mặn – lợ – ngọt để địa phương có cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp”. Tỉnh Bạc Liêu: “Cần đề xuất phương án tối ưu trong việc vận hành hệ thống, làm rõ tác động của dự án có phần chồng lên Tiểu vùng Quản Lộ -Phụng Hiệp”.

“Cần bổ sung tác động tình hình ô nhiễm môi trường nước do thay đổi lưu lượng dòng chảy, độ mặn tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân trong vùng dự án. Xác định rõ ranh giới nguồn nước mặn – lợ – ngọt để địa phương có cơ sở chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp”.

Tỉnh Hậu Giang

SÁU NGHỆ

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s