Phát triển nhiệt điện than ở Việt Nam: Góc nhìn tài chính

GreenID

Tóm tắt

Để đáp ứng nhu cầu điện đang ngày càng tăng cao, chính sách phát triển năng lượng của Việt Nam tập trung vào tăng công suất của nhiệt điện than từ 13,000 MW hiện tại lên hơn 55,000 MW vào năm 2030. Bên cạnh những quan ngại về tác động của loại năng lượng này tới môi trường và xã hội, tài chính cũng là một khía cạnh rất đáng quan tâm bởi nhu cầu vốn của các dự án nhiệt điện than rất lớn, trong khi đó tình hình kinh tế tài chính của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn.

Trong thời gian qua Việt Nam đã huy động được gần 40 tỷ USD để xây dựng các nhà máy nhiệt điện than và ước tính cần huy động thêm 46 tỷ USD nữa để hoàn thành kế hoạch phát triển nhiệt điện than tới năm 2030. Như vậy Việt Nam đã đi được nửa chặng đường huy động vốn. Trên nửa chặng đường đã qua, nguồn tài chính được xác định chủ yếu là vốn vay nước ngoài. Với 8,3 tỷ USD, Trung Quốc là quốc gia cấp vốn vay nhiều nhất cho nhiệt điện than ở Việt Nam. Nhật Bản (3,7 tỷ USD) và Hàn Quốc (3 tỷ USD) lần lượt đứng vị trí thứ 2 và thứ 3. Nguồn vốn được cung cấp chủ yếu qua các cơ quan tín dụng xuất khẩu của những quốc gia này, bao gồm Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc, Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc (Kexim), Công ty Bảo hiểm Thương mại Hàn Quốc (K-sure) và Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC). Bên cạnh các cơ quan tín dụng xuất khẩu, ngân hàng thương mại các nước cũng giữ vai trò rất quan trọng, trong đó bốn ngân hàng của Trung Quốc (Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, Ngân hàng Công thương Trung Quốc, Ngân hàng Trung Quốc và Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc) chiếm tới 80% nguồn tài chính của nhóm các ngân hàng thương mại.

Bằng việc cung cấp tài chính cho các dự án nhiệt điện than ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đạt được mục đích mở rộng thị trường cho các công ty thiết kế, cung cấp thiết bị và xây dựng của những quốc gia này. Điều này đặc biệt quan trọng với Trung Quốc, nơi mà hàng loạt các công ty trong lĩnh vực nhiệt điện than bị giảm thị phần do vấn đề dư thừa công suất điện than, lo ngại ô nhiễm môi trường và cạnh tranh của năng lượng tái tạo. Với Trung Quốc, hoạt động cấp vốn vay cho các dự án nhiệt điện than còn giúp mở đường đầu tư cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng đi kèm và nhập khẩu tài nguyên của quốc gia này, đồng thời nâng cao sức mạnh kinh tế và chính trị của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới. Như vậy, trong khi những quốc gia cho vay vốn nhận được những lợi ích về kinh tế chính trị thì những gì Việt Nam nhận được là nợ nần và rủi ro về môi trường, sức khỏe và an ninh chính trị quốc gia.

Nửa chặng đường huy động vốn tiếp theo của Việt Nam cho nhiệt điện than được dự đoán không mấy dễ dàng trước xu hướng thoái trào của nhiệt điện than và các chính sách thắt chặt tài chính của nhiều chính phủ và tổ chức tài chính cho loại năng lượng này. Bên cạnh đó là sự tham gia ngày càng đông đảo của các cá nhân, tổ chức trên toàn thế giới trong việc nói không với đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch để đạt được mục tiêu giới hạn mức tăng nhiệt độ toàn cầu không quá 2oC so với thời kì tiền công nghiệp. Trong khi đó, năng lượng tái tạo đang trở thành sự lựa chọn thay thế của nhiều quốc gia trên thế giới, cùng với nguồn tài chính tăng mạnh đầu tư vào nguồn năng lượng này.

Từ những phân tích trên, nghiên cứu khuyến nghị:

  •   Chính phủ các nước và những tổ chức tài chính cần hiện thực hóa các cam kết và chính sách đã đưa ra, dừng cung cấp tài chính cho nhiệt điện than và chuyển sang hỗ trợ cho phát triển năng lượng tái tạo.
  •   Trước xu hướng phát triển và những thay đổi trong chính sách đầu tư năng lượng, Việt Nam cần xem xét lại Quy hoạch Điện VII Điều chỉnh, giảm tối đa các dự án nhiệt điện than mới, thay thế bằng năng lượng tái tạo vì lợi ích môi trường xã hội và nắm bắt cơ hội đầu tư.
  •   Đối với những dự án bắt buộc cần phát triển, Việt Nam cần cẩn trọng trong việc lựa chọn nhà cung cấp tài chính để tránh những rủi ro về môi trường xã hội và chính trị do nguồn tài chính dễ tiếp cận mang lại.
  •   Khi số lượng các chủ đầu tư nước ngoài ngày càng tăng lên, rà soát các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và thắt chặt quản lý là vô cùng cần thiết để tránh những thảm họa môi trường như gần đây.

Kết luận và khuyến nghị

Tổng mức đầu tư cho tất cả các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam, bao gồm các nhà máy đã vận hành, đang xây dựng và trong quy hoạch, là gần 90 tỷ USD. Việt Nam đã huy động được một nửa số vốn đầu tư trong thời gian qua và sẽ cần huy động thêm hơn 46 tỷ USD nữa để hoàn thành kế hoạch phát triển nhiệt điện than từ nay tới năm 2030.

Cơ sở dữ liệu của chúng tôi cho thấy nguồn tài chính nước ngoài có vai trò quyết định sự phát triển của nhiệt điện than ở Việt Nam trong thời gian qua. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là ba quốc gia cung cấp tài chính nhiều nhất cho nhiệt điện than ở Việt Nam. Hoạt động cho vay được thực hiện chủ yếu qua các cơ quan tín dụng xuất khẩu của những quốc gia này. Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại của Trung Quốc cũng tham gia rất tích cực trong hoạt động cấp vốn vay cho nhiệt điện than ở Việt Nam.

Tìm hiểu động cơ của những khoản cho vay này, nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động cấp vốn vay đã mở đường cho các công ty nội địa của những quốc gia này có được các hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị và xây dựng của các dự án nhiệt điện than ở Việt Nam. Điều này đặc biệt quan trọng với Trung Quốc khi thị trường nhiệt điện than trong nước đã bão hòa và dư thừa do những lo ngại về ô nhiễm môi trường tăng cao cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ năng lượng tái tạo. Ngoài ra, những khoản vay này cũng giúp thúc đẩy các hoạt động đầu tư về cơ sở hạ tầng đi kèm và nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nâng cao vị thế kinh tế và chính trị của các quốc gia cấp vốn vay.

Việt Nam đã đi được nửa chặng đường huy động tài chính cho phát triển nhiệt điện than. Nửa chặng đường còn lại được dự đoán sẽ có nhiều trắc trở hơn khi xu hướng phát triển năng lượng trên toàn thế giới đang thay đổi mạnh mẽ với sự thoái trào của nhiệt điện than và lên ngôi của năng lượng tái tạo. Hàng loạt quốc gia và khu vực đang cắt giảm nhiệt điện than và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn nhiệt điện than. Cùng với đó là các cam kết và chính sách của chính phủ nhiều nước và tổ chức tài chính thắt chặt đầu tư cho nhiệt điện than. Trên khắp thế giới, phong trào thoái vốn không đầu tư cho nhiên liệu hóa thạch cũng đang diễn ra rất mạnh mẽ. Trong khi đó, hàng loạt các quốc gia đặt ra mục tiêu phát triển năng lượng tái tạo đồng thời đầu tư cho năng lượng tái tạo cũng tăng rất nhanh, vượt xa đầu tư cho nhiên liệu hóa thạch.

Tải toàn bộ báo cáo ở đây 02052017_Tai chinh nhiet dien than_design

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s