Tầm quan trọng của giáo dục

Tác giả: Đạt Lai Lạt Ma
Dịch giả: Phạm Thu Hương

Trích từ bài phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Dharamsala [Ấn Độ] với một nhóm lớn những con dân Tây Tạng của Ngài vào ngày 27 tháng Ba năm 2006. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cảnh báo nguy cơ trầm trọng nhất đối với sự sống còn của bản sắc Tây Tạng đồng thời nhấn mạnh công cuộc giáo dục hiện đại là không thể thiếu để duy trì văn hóa Phật giáo Tây Tạng cũng như duy trì tính dân tộc trong những hoàn cảnh khó khăn nhất của lịch sử Tây Tạng.

Tôi luôn luôn nói rằng, quần chúng nhân dân Tây Tạng ở Tây Tạng mới là chủ nhân thật của vận mệnh Tây Tạng, và khoảng một trăm năm mươi ngàn người Tây Tạng lưu vong ở đây [Dharamsala, Ấn Độ] [1] chỉ đại diện cho nhân dân để hoàn thành sự thật của chính nghĩaTây Tạng, để hành động như những người phát ngôn tự do và như những người đại diện tượng trưng của nhân dân.

Cho đến nay, quần chúng nhân dân ở Tây Tạng vẫn còn ở trong trạng thái đau khổ vì hậu quả bị tước đoạt tự do của họ. Mặc dù vậy, ngay cả khi đối diện với những hiểm nguy đến với cuộc sống của họ, trong mọi phương diện họ vẫn kiên định giữ vững sứ mệnh cao cả về sắc tộc của họ và niềm tin chung vào viễn cảnh tương lai của người Tây Tạng, vẫn giữ vững trong tâm trí các quyền lợi của họ với tư cách là một dân tộc.

Vì những lý do này mà chúng tôi đã tiếp kiến trên diễn đàn thế giới với những người mà chúng tôi có thể nói về bi kịch và hạnh phúc của Tây Tạng, và những gì chúng tôi nói đã được đón nhận với sự tôn trọng như là sự thật. Vốn liếng chủ yếu về độ tin cậy của chúng tôi trên diễn đàn thế giới chính là nhân dân Tây Tạng ở quê nhà, là sự hiến dâng tới sự nghiệp chung, là lòng dũng cảm không bao giờ hết, và là lập trường vững chắc của nhân dân. Chính nhờ những điều này mà sự thật trong lập trường của chúng tôi đã được chứng minh.

Chúng tôi do đó mang lòng biết ơn với người dân ở Tây Tạng vì sự cống hiến chân thật đến sự nghiệp chung và lòng tận tâm không lay chuyển với niềm tin chung đã liên kết họ với chúng tôi. Tôi thường xuyên nói lời cảm ơn đến quần chúng nhân dân Tây Tạng thông qua những người đến đây và tôi cảm thấy một sự thôi thúc cần nói lại một lần nữa vào ngày hôm nay.

Hơn nữa, trong tương lai, câu hỏi–liệu trong thế giới này có hay không một dân tộc đặc biệt được gọi là cư dân vùng Tuyết Tây Tạng, cùng với nền văn hóa và tôn giáo sâu sắc nối kết với họ, sẽ sống sót và thịnh vượng–phụ thuộc chủ yếu vào những người đang sống ở Tây Tạng. Ngẫm nghĩ từ hướng ngược lại, thì không phải là không thể xảy ra trường hợp dân tộc Tây Tạng ở Tây Tạng đi đến khúc quanh lịch sử bi thảm đến nỗi họ trở thành dân tộc thiểu số trong vùng đất của chính họ. Trong trường hợp như vậy, nếu những người dân ở Tây Tạng quên nêu cao lý tưởng chung của dân tộc Tây Tạng, thì sẽ vô cùng khó khăn cho chúng tôi đang lúc lưu vong để có thể duy trì bản sắc dân tộc Tây Tạng đồng thời thực hiện những điều như giữ vững, bảo vệ và phổ biến tôn giáo và văn hóa Tây Tạng quá một vài thế hệ.

Mọi thứ đều tạm ổn trong thế hệ lưu vong của tôi. Sau đó, sẽ có một thế hệ khác. Có thể tình hình cũng tạm ổn trong thời họ. Nhưng không thể nói sau thê hệ đó thì tình hình sẽ tốt đẹp hay tệ đi. Những nguy hiểm tột cùng luôn rình rập trong tương lai của chúng tôi. Điểm mấu chốt là những người dân đang sống ở Tây Tạng cực kỳ quan trọng. Theo cách nhìn này, điều mấu chốt nhất là mọi người nên hành động chăm chỉ, không mất đi một chút quyết tâm nào.

Một trong những cách siêng năng cơ bản là dành sự chăm chú đặc biệt vào tìm kiếm tri thức. Thế giới đang trải qua quá trình chuyển đổi cực lớn ngày nay. Ngay cả trong các nước mà người cộng sản cầm quyền, tri thức vẫn được công nhận là quan trọng. Trước đây, trong suốt cuộc Cách mạng Văn hóa [2], tri thức như thể đã bị mất tất cả sự tôn trọng và giá trị. Nhưng ngày nay, trong trường hợp của Trung Quốc, tình hình chẳng có gì là giống như những năm 1960 nữa. Các báo cáo cũng đã làm nổi bật rằng thậm chí ngay cả Bắc Triều Tiên [3], chẳng hạn, cũng bị ép phải đặt tầm quan trọng vào giá trị tri thức hiện đại. Vì lẽ đó, khi tôi nói rằng chúng ta phải cố gắng mà không mất đi lòng dũng cảm, thực chất của câu nói này là chúng ta phải phát huy tầm quan trọng đặc biệt vào giáo dục.

Chiến dịch tự do của chúng tôi dựa vào bất bạo động. Đi theo con đường bất bạo động là vốn liếng kinh doanh và là niềm tự hào của chiến dịch của chúng tôi. Nếu chúng tôi không có sự thật bên cạnh chúng tôi, chúng tôi sẽ chẳng còn cách nào khác hơn là phải tiếp tục đau khổ. Có sự thật bên cạnh chúng tôi mang lại cho chúng tôi lòng tự hào để minh bạch về tất cả mọi thứ cũng như nói tiếng nói của lý lẽ trong các cuộc trao đổi trực diện. Chính vì đặt nền tảng trên tri thức mà sự thật phải được chứng minh bằng con đường bất bạo động. Nhiệm vụ này chẳng thể được hoàn thành chỉ bằng thề thốt trang nghiêm.

Trong mảng tri thức hiện đại, người Tây Tạng bị tụt lại phía sau rất nhiều. Không những ngay từ đầu [chúng ta] đã không cảm nhận rằng tri thức là điều bắt buộc phải có, mà [chúng ta] còn không có một hệ thống được thiết lập chủ yếu để tìm kiếm tri thức.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã đến thăm Trung Quốc vào năm 1907, 1908, vv, rồi thăm Ấn Độ trong giai đoạn 1910 – 1911 và ngài đã nhìn thấy rất nhiều điều về thế giới bên ngoài. Kết quả là, từ 1915 đến 1920, ngài đã hoàn thành bước khởi đầu tốt đẹp như gửi một số sinh viên Tây Tạng sang các nước như nước Anh với kế hoạch muốn họ học tiếng Anh và đạt được các kỹ năng và kiến thức về máy móc hiện đại. Tuy nhiên, ngài đã không thành công trong việc tiếp tục những điều đó. Đây là vấn đề vô cùng tiếc nuối. Dù thế nào đi nữa, dẫu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 có một tầm nhìn rộng lớn về cải cách, nhưng quá nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài cùng những trở ngại đã làm nỗ lực của ngài không có kết quả .

Năm 1960, một năm sau khi chúng ta đến lưu vong ở Ấn Độ vào tháng 4 năm 1959, chúng ta đã có thể nhanh chóng xây dựng trường học đầu tiên của chúng ta ở Mussoorie. Nỗ lực phi thường đã dựng nên những ngôi trường nhằm mang lại các cơ hội giáo dục hiện đại đến với người dân Tây Tạng lưu vong. Đặc biệt, trong những năm đầu thập niên 1960, nhiều sáng kiến đã được ghi nhận nhằm tạo tầm quan trọng cho việc xây dựng trường học hơn là xây dựng tu viện trong cộng đồng Tây Tạng đang lưu vong.

Lý do chủ yếu giải thích tại sao chúng ta đặc biệt dành nhiều quan tâm hơn vào xây dựng trường học vì rõ ràng là một lý do của tình trạng tồi tệ mà nòi giống Tây Tạng bị rơi vào là sự thất bại của chúng ta trong việc theo kịp chuẩn trong lĩnh vực kiến thức hiện đại. Điều này dẫn đến sự bất lực của chúng ta trong việc tạo chiến lược như là một dân tộc ngang hàng với thế giới; điều này cũng lột trần chúng ta như là quá lạc hậu để có thể đáp ứng những thách thức thời hiện đại. Vì lý do này mà chúng tôi đã coi việc xây dựng trường học thì quan trọng hơn việc xây dựng trung tâm tôn giáo.

Nhân dân ở Tây Tạng cũng nên rút ra bài học từ điều này và nên suy nghĩ đến sự quan tâm tìm kiếm trí thức hiện đại như là việc vô cùng quan trọng. Tây Tạng ngày nay đang có một vấn đề lớn trong lĩnh vực này, gồm cả thực tế là nhân dân phải trả học phí cao cho việc ăn học của con cái họ. Mặc dù vậy, họ chẳng hề có một chút nản lòng bởi những khó khăn cả bên trong lẫn bên ngoài, họ vẫn cứ cho con em họ đến trường, dù là trường nhà nước hay trường tư.

Khắp nơi ở Dotoe, Domey và U-Tsang, người Tây Tạng với số lượng lớn đang đứng lên, họ mang hết những nỗ lực tuyệt vời nhất của họ cũng như mang mọi khả năng họ có trong lĩnh vực học tập. Với họ, tôi xin bày tỏ sự vui mừng và xin gửi lời khen ngợi cho những nỗ lực đã được thực hiện rất tốt. Dù ở hoàn cảnh nào đi nữa, thực hiện nỗ lực trong ngành giáo dục là cực kỳ quan trọng.

Trong trường hợp các trường học ở Tây Tạng được xây dựng bởi người Trung Quốc, thì sẽ quá hẹp hòi khi tỏ ra khinh miệt họ bằng những hành vi như là không cho con cái của mình đi học ở đó. Trường học, ngay cả khi được xây dựng bởi chính phủ Trung Quốc, vẫn tốt. Để đảm bảo tiêu chuẩn trong việc giảng dạy các tiếngTây Tạng và các môn khác, thì có thể thảo luận vấn đề này với những người và tổ chức có quan tâm. Dù là trường hợp nào đi nữa, mọi người Tây Tạng nên nỗ lực theo mọi cách có thể.

Có rất nhiều lĩnh vực trong nền giáo dục hiện đại. Các lĩnh vực bao gồm khoa học, pháp luật, kinh tế, môi trường, vv.. Tuy nhiên, ngôn ngữ Tây Tạng không tiến bộ trong các môn học đa dạng đó. Tại Ấn Độ, nhiều nỗ lực đang được tạo thành để dạy trẻ em Tây Tạng tất cả các môn theo tiếng Tây Tạng từ lớp 1 trở đi. Nhưng, tạm để người Tây Tạng sang một bên, ngay cả những người Ấn Độ cũng thấy rất khó để đạt tới trình độ thành thạo ở các môn học chuyên ngành hiện đại nếu không học bằng tiếng Anh.

Ở Tây Tạng cũng vậy, người Tây Tạng không còn lựa chọn nào khác hơn là dựa vào tiếng Trung để đạt được trình độ thành thạo một chuyên ngành trong tri thức hiện đại. Dù trở thành một chuyên gia hay nhà nghiên cứu chuyên môn, ở trong các lĩnh vực khác nhau của tri thức hiện đại ở Tây Tạng ngày nay, thì thật vô cùng quan trọng trong việc sử dụng tiếng Trung để đạt được các yêu cầu chuyên môn hóa.

Chúng ta hôm nay đấu tranh vì quyền tự trị đầy ý nghĩa cho Tây Tạng. Nhưng để đạt được một tiêu chuẩn thích hợp của quyền tự trị, chính dân tộc chúng ta phải có khả năng hoàn toàn chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động có liên hệ đến quyền tự trị và có thể tạo ra kết quả. Chẳng có cách nào mà chỉ đơn thuần tham gia các cuộc tranh luận là đã đủ. Bản thân chúng ta phải có khả năng tranh luận bảo vệ, và quản lý, quyền tự chủ.

Thực chất của điều này là chúng ta phải có đủ khả năng làm việc của chúng ta. Để đạt được tiến bộ cả bên trong và bên ngoài phù hợp với thời hiện đại, có được giáo dục hiện đại là điều hết sức quan trọng. Hoàn cảnh thực tế ở Tây Tạng ngày nay là người ta không còn lựa chọn nào khác hơn là phải dựa vào tiếng Trung nếu người ta muốn có giáo dục hiện đại.

Có một suy nghĩ đang vào tâm trí của tôi lúc này là: Giả sử có một trăm sinh viên Tây Tạng. Bảy mươi hay tám mươi sinh viên có thể học tiếng Tây Tạng như thể là môn học chính của họ và xuất sắc trong việc tuyên dương bản sắc dân tộc Tây Tạng và bảo tồn di sản văn hóa của chúng ta. Hai mươi hay ba mươi học sinh có thể học tiếng Trung như là môn học chính của họ và nỗ lực để đạt được trình độ chuyên gia trong các môn học chuyên ngành hiện đại. Tôi cảm thấy điều này là quan trọng, các bạn có hiểu không?

Hết.

 

Chú thích:

[1] Thị trấn Dharamsala thuộc tiểu bang Hamachal Pradesh ở miền cực Bắc Ấn Độ, cách New Delhi 514 km đường bộ, được thế giới biết đến như là một “Tiểu Lhasa” – thủ đô của Tây Tạng lưu vong.

[2] Cách mạng Văn hoá tại Trung Quốc diễn ra trong 10 năm (16/5/1966 – 1976), do Mao Trạch Đông khởi xướng và lãnh đạo. Cuộc cách mạng đã phá hoại văn hóa truyền thống của cả 3 tôn giáo (Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo); phá hủy văn vật (sách, bức họa, thư pháp,..); phá hủy các tín ngưỡng tinh thần (đả kích Khổng Tử, phá hủy bảo vật..); cải tạo trí thức (đưa hàng ngàn trí thức trẻ từ thành phố về nông thôn để sống, lao động và học hỏi kinh nghiệm của công nhân và nông dân; báo chí, rạp hát, trường học bị đóng cửa; giảm số năm đi học; giảm môn học – lịch sử và văn học..) và giết hại người vô tội (khoảng 7 đến 8 triệu người, trong đó có khoảng 2 triệu cán bộ). Mục tiêu của cuộc cách mạng là nhằm xóa bỏ các quan niệm cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ và thói quen cũ. (Tham khảo)

[3] Bắc Triều Tiên – một nước “khép kín” – được xếp vào một trong những quốc gia có học thức cao nhất trên thế giới, với tỷ lệ biết chữ trung bình là 99%. Giáo dục được miễn phí 11 năm, gồm 1 năm mẫu giáo, 4 năm giáo dục tiểu học và 6 năm giáo dục trung học. Dù kinh tế khó khăn nhưng Bắc Triều Tiên có nhiều thành tựu về khoa học kỹ thuật và quân sự. Họ có thể tự chế tạo xe tăng, tàu ngầm cỡ nhỏ, tên lửa đạn đạo… và cả bom nguyên tử. (Tham khảo)

 

Một vài hình ảnh liên quan:



Đến Dharamsala, Ấn Độ năm 1959, sự quan tâm chính của Đức Đạt Lại Lạt Ma và chính phủ lưu vong là nền giáo dục trẻ em Tây Tạng. Có khoảng 5.000 trẻ em dưới 16 tuổi vào năm 1959. Việc giáo dục trẻ em do đó nhận được sự ưu tiên hàng đầu trong cuộc nói chuyện của ngài với Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, Jawaharlal Nehru, năm 1960.



Lớp Toán tại trường nội trú cho người du cư gần Dawu, tỉnh Thanh Hải (Trung Quốc), trên cao nguyên Tây Tạng. Học sinh thường về nhà 1 hay 2 lần trong 1 tháng tùy thuộc vào quãng đường chúng đi. [1]


Học sinh và thầy tu tham gia tranh luận biện chứng tại trường Sambhota ở Chauntra, gần Dharamsala, Ấn Độ, ngày 22/08/2012. [2]


Làng trẻ em Tây Tạng (Tibetan Children Village – TCV) ở Dharamsala, Ấn Độ, do đức Đạt Lai Lạt Ma thành lập vào năm 1960 để nuôi dưỡng và đào tạo các em bé tỵ nạn người Tây Tạng, năm 2008 [3]


Đồ thị thể hiện tỷ lệ mù chữ của thanh thiếu niên và trung niên Tây Tạng theo bản báo cáo toàn diện về sự phát triển kinh tế và xã hội Tây Tạng được công bố bởi Bắc Kinh-theo Trung tâm Nghiên cứu Tây Tạng học Trung Hoa ngày 30/03/2009. [4]

Như vậy, sau 50 năm (1959 – 2009), tỷ lệ mù chữ đã giảm từ 95% xuống còn 2.4%.

Mới đây, ngày 24/09/2012, Tây Tạng thông báo đã mở rộng chương trình giáo dục miễn phí tới tất cả trẻ em mẫu giáo. Theo đó, trẻ em ở Tây Tạng được hưởng 15 năm giáo dục miễn phí từ nhà trẻ đến cấp III. [6]



Cuộc sống hạnh phúc trong trường Tiểu học Số 4, thành phố Hezuo, quận Gannan, tỉnh tự trị Tây Tạng Gansu, ngày 24/09/2012. [5]

Nguồn tham khảo:

[1] http://www.philborges.com/blog/2011/01/13/education-in-tibet-update/

[2] http://tibet.net/2012/08/28/doe-holds-first-symposium-on-dialectics-at-chauntra-school/

[3] http://www.drolkarbuddhistcentre.org.au/album/India%202008/slides/Tibetan%20Children’s%20Village%20School%20Dharamsala%202.html

[4] http://en.tibetol.cn/01/04/48/201103/t881324_3.htm

[5] http://en.tibetol.cn/01/05/3/201209/t1221612.htm

[6] http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2012-09/24/content_15776517.htm

(Phạm Thu Hương dịch và sưu tầm)

(Bài đã đăng ở ĐCN)

***

Importance of Education (Part 1)

From his speech in Dharamsala to a large gathering of followers from Tibet on Mar 27, 2006, the Dalai Lama warns of extreme dangers facing the survival of the Tibetan identity while emphasizing that modern education is indispensable for sustaining the Tibetan Buddhist culture and ethnicity in these most difficult circumstances in Tibet’s history. I always keep saying that the broad masses of the Tibetans in Tibet are the real masters of the Tibetan destiny, and that the about one and half hundred-thousand Tibetans in exile here only represent them for accomplishing the truth of the Tibetan cause, acting as their free spokespersons and symbolic representatives.

So far the broad masses of the public in Tibet have remained in a distressed state as a result of the deprivation of their freedoms. Nevertheless, even when faced with dangers to their lives, they have, in every respect, remained steadfast in upholding the higher cause of their ethnicity and the common faith in their future prospects, keeping in mind their rights as a people. It is for these reasons that we have an audience on the world stage to whom we can speak about the tragedy and well being of Tibet, and what we say are received with respect as true. The principal asset for our credibility on the world stage is the people back in Tibet, their dedication to the common cause, indefatigable courage, and steadfast stand. It is because of these that the truth of our position stands proven. We therefore owe gratitude to the people in Tibet for their genuine dedication to the common cause and unassailable commitment to the common faith that binds them with us. I regularly say thank you to the broad masses of the people in Tibet through those who come here and I felt an urge to say it again today.

In future, too, the question whether in this world a unique people called the inhabitants of the Snowland of Tibet, and the profound culture and religion connected with them, would survive and thrive depends mainly on the people living in Tibet. Thinking from the opposite end, it is not impossible that the situation of the Tibetan people in Tibet will take such a tragic turn that they will become a minority in their own land. In such a situation, if those in Tibet fail to uphold the common aspiration of the Tibetan race, it will be extremely difficult for us in exile to be able to maintain the Tibetan ethnic identity and to carry out things like keeping, defending and spreading the Tibetan religion and culture beyond some generations. Things will be just all right during my generation in exile. After that, there will be another generation. It is possible that the situation will be fairly all right during their time. But it is impossible to say whether beyond that generation the situation will be good or bad. Extreme dangers lurk us in our future. The essential point is that the people living in Tibet are extremely important. In view of this, what is most important is that everyone should act with diligence, without any loss of determination.

One of the main ways of being diligent is to pay particular attention to the pursuit of knowledge. The world is undergoing an enormous transformation today. Even in the communist ruled countries, knowledge is considered important. Previously, during the Cultural Revolution, it was as if knowledge had lost all respect and value. But today, in the case of China, the situation is nothing like in the 1960s. Reports have also been emerging that even North Korea has, for example, been compelled to give importance to the value of modern knowledge. So, when I say that we should make efforts without loss of courage, the essence of it is that we must bring emphasis particularly on education.

Our freedom campaign is based on non-violence. Following the path of non-violence is the business capital and pride of our campaign. If we do not have truth on our side, we will have no alternative but to keep suffering. Having truth on one’s side gives one the pride to be transparent about everything and to speak reason in a face-to-face exchange. It is on the basis of knowledge that truth must be vindicated by non-violent means. There is no way this task can be accomplished by just an act of taking a solemn oath.

 

In the area of modern knowledge, Tibetans have lagged extremely behind. Not only was the imperative for it not felt from the very beginning, there has also been no deliberately established system for pursuing it. His Holiness the 13th Dalai Lama visited China in 1907, 1908, etc., and India during the period of 1910-1911 and witnessed many things about the outside world. As a result, from 1915 to 1920, he made such sound beginnings as sending some Tibetan students to countries like England with plans to have them study English and to acquire related modern mechanical skills and knowledge. However, he did not succeed in continuing these. These are matters of extreme regret. Anyway, although the 13th Dalai Lama had a broad vision for reforms, there were many internal and external elements and obstacles that rendered his efforts fruitless.

In 1960, the year after we arrived in exile in India in April 1959, we were able to speedily set up our first school in Mussoorie. Considerable effort was made to set up schools to give opportunities for modern education to the Tibetans in exile. In particular, in the early 1960s, many initiatives were taken to give more importance to setting up schools than monasteries in the Tibetan community in exile. The main reason why we especially devoted more attention to setting up schools was because it was extremely obvious that one cause of the miserable situation in which the Tibetan race found itself in was attributable to our major failure of being up to the standard in the field of modern knowledge. This resulted in our inability to set out strategies as a people at par with the rest of the world; it exposed us as too backward to be able to meet the challenges of modern times. It was in view of this that we considered setting up schools to be more important than building religious centres.

The public back in Tibet too should draw lessons from this and consider paying attention to the pursuit of modern knowledge as extremely important. In Tibet today there is a big problem in this area, including the fact that one has to pay high fees for educating one’s children. Nevertheless, undaunted by both the internal and external hardships, they continue to send their children to schools, whether they are being run by the Chinese government or by private Tibetans. Everywhere in Dotoe, Domey and U-Tsang, Tibetans in large numbers are emerging, putting in their best efforts and bringing out whatever capabilities they have in the field of learning. To them all I express rejoice and offer praise for efforts well made. Whatever be the case, making efforts in the field of education is highly important.

In the case of schools in Tibet set up by the Chinese, it would be extremely narrow-minded to show disdain for them by such actions as not sending one’s children to study there. Schools, even if set up by the Chinese government, are good. In order to ensure good standard of the teaching of Tibetan and other subjects in them, it should be possible to discuss the matter with concerned persons and entities. Whatever be the case, all Tibetans should make efforts in every possible way.

There are many aspects of modern education. They include science, law, economics, environment, etc. Nevertheless, the Tibetan language has not progressed in these numerous subjects. In India, efforts are being made to teach the Tibetan children all the subjects in Tibetan language from Grade I onwards. But, leave alone Tibetans, even the Indians find it most difficult to gain expertise in specialised modern subjects without pursuing it in English. In Tibet too, one has no choice but to rely on Chinese language to gain expertise in a specialised field of modern knowledge. Whether for becoming a professional or an expert researcher, in the different fields of modern knowledge in Tibet today, it is extremely important to use the Chinese language to achieve the required specialisations.

We are today struggling for a meaningful autonomy for Tibet. But in order to achieve an appropriate standard of it, our own people should be able to fully take responsibility in every possible area of undertaking related to it and to be able to produce results. There is no way merely engaging in debates will be sufficient. We ourselves must be able to argue for and administer the autonomy. The essence of this is that we must be able to do our own work by ourselves. In order to achieve both internal and external progresses appropriate for modern times, having modern education is extremely important. The reality of the situation in Tibet today is such that one has no choice but to rely on Chinese language if one is to become modern educated.

One thing that comes to my mind is this: Suppose there are a hundred Tibetan students. Seventy or eighty such students could study Tibetan language as their main subject and achieve excellence in projecting one’s national identity and in preserving our cultural heritage. Twenty or thirty such students could study Chinese language as their main subject and make efforts to achieve professional qualifications in modern specialised subjects. I feel this to be important, do you understand?

The end.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s