Bảo hiểm xã hội: cần đa dạng hóa các giải pháp

Văn Thịnh – Đinh Tuấn Minh Thứ Năm,  9/4/2015, 08:31 (GMT+7)
Bảo hiểm xã hội không chỉ là bảo hiểm hưu trí mà còn bao hàm bảo hiểm y tế, tai nạn, thất nghiệp, thai sản… Về bản chất, có thể coi BHXH là một chính sách an sinh xã hội trong đó mọi người bắt buộc phải tham gia tiết kiệm nhằm phòng ngừa, bù đắp những rủi ro kinh tế có thể xảy ra trong tương lai. Ảnh: MINH KHUÊ

(TBKTSG) – Việc Chính phủ dự định kiến nghị Quốc hội sửa điều 60, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) vừa mới ban hành theo hướng người lao động sẽ có quyền rút BHXH một lần sau khi nghỉ việc ngay lập tức tạo ra nhiều tranh luận trái chiều. Bài viết cung cấp một góc nhìn về bản chất kinh tế của BHXH.

Những góc nhìn khác nhau

Tuy đã ra đời từ lâu và phổ cập trên phạm vi toàn cầu, nhưng chính sách BHXH vẫn là một trong những chính sách gây ra nhiều tranh cãi nhất.

Có hai lý do biện minh cho sự cần thiết của BHXH. Thứ nhất, trong xã hội có nhiều người có thói quen tiêu xài phung phí khi còn trẻ để rồi khi về già hay rơi vào hoàn cảnh ốm yếu, bệnh tật sẽ lâm vào túng thiếu, tạo gánh nặng lớn cho xã hội. Do vậy, nhà nước cần can thiệp cưỡng ép mọi người tiết kiệm vì chính bản thân họ trong tương lai.

Thứ hai, BHXH còn có mục tiêu tái phân phối thu nhập nhằm hỗ trợ người nghèo và các nhóm thiệt thòi, yếu thế trong xã hội như phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật… để bù đắp phần nào những tổn thất họ gánh chịu trong cuộc sống.

Tuy nhiên, ý tưởng về BHXH bắt buộc cũng hứng chịu nhiều chỉ trích.

Thứ nhất việc đóng BHXH sẽ đổ dồn gánh nặng lên vai người lao động, gây khó khăn cho họ ngay ở hiện tại trong khi lợi ích ở tương lai là không chắc chắn.Tuy trên danh nghĩa, cả người sử dụng lao động và người lao động đều cùng gánh chi phí BHXH, nhưng thường thì người sử dụng sẽ có động cơ trừ khoản đóng góp của doanh nghiệp vào thẳng lương của nhân viên, tức trả lương thấp hơn mức lẽ ra phải trả. Ngoài ra yếu tố lạm phát, các chu kỳ kinh tế có thể tước đoạt phần lớn lợi ích của người đóng bảo hiểm.

Thứ hai, sự tái phân phối thu nhập thực chất chỉ là chuyển tiền giữa túi của những người thuộc tầng lớp giàu và trung lưu – những người có việc làm chính thức. Người nghèo chỉ hưởng lợi rất ít, thậm chí là tác động ngược của quá trình này, bởi vì chi phí bảo hiểm có thể khiến doanh nghiệp cắt giảm việc làm, dẫn đến tăng thất nghiệp và giá cả.

Thứ ba, BHXH bắt buộc gây ra chi phí áp đặt khổng lồ và tạo ra bộ máy quản lý quan liêu không hiệu quả.

Thứ tư, chính sách BHXH có thể dễ bị lạm dụng bởi các nhiệm kì chính trị. Các chính phủ theo chủ nghĩa dân túy có thể gia tăng thật nhiều các chính sách an sinh xã hội, hứa hẹn các lợi ích dễ dàng nhận thấy để đổi lấy lá phiếu của người dân. Tuy nhiên, các phí tổn khổng lồ của các chính sách đó thì thường bị che đậy hoặc đẩy lùi thời hạn trả cho thế hệ tương lai. Cuối cùng, việc này gây ra sự sụp đổ và bất ổn kinh tế vĩ mô trong dài hạn. Sự sụp đổ của nền kinh tế Hy Lạp là một ví dụ sống động về một nhà nước sa vào khủng hoảng nợ công trầm trọng vì theo đuổi những chính sách phúc lợi xã hội phóng túng của mình.

Việt Nam không mặn mà vì thiếu niềm tin

Đầu tiên phải khẳng định rằng, chính sách hạn chế chi trả một lần đối với BHXH như trong điều 60 của Luật BHXH phù hợp với mục tiêu cơ bản của BHXH vì nó thúc đẩy sự tiết kiệm nhằm bảo đảm an sinh lâu dài cho người lao động.

Nếu sửa đổi luật theo hướng người lao động được tự do rút một lần khoản BHXH mà họ đóng thì việc đóng BHXH không còn nhiều ý nghĩa.

Thực tế những gì vừa diễn ra ở Công ty PouYuen chỉ thêm một lần nữa khẳng định sự bất cập vốn đã tồn tại của chính sách BHXH Việt Nam. Theo VCCI, hiện nay có đến 50% số doanh nghiệp trốn đóng BHXH, chưa kể số lượng lớn doanh nghiệp nợ đọng, chây ỳ. Còn theo báo cáo của BHXH Việt Nam, tính đến nay, cả nước có hơn 47.315 đơn vị kinh tế và tổ chức còn nợ tiền BHXH của gần 674.000 lao động, với số tiền nợ là 11.562 tỉ đồng(1).

Rõ ràng là người lao động và người sử dụng lao động không mặn mà với BHXH và cũng không muốn đóng BHXH trong thời gian lâu dài để đảm bảo cuộc sống khi về hưu. Tại sao lại như vậy?

Thứ nhất, người dân thiếu niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế. Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã trải qua ba đợt lạm phát cao, cao nhất là lạm phát phi mã năm 1986, ở mức 774,7% và gần đây nhất là lạm phát 22,97% năm 2007. Lạm phát ăn mòn giá trị của tiền gửi. Đó là lý do tại sao các phương tiện khác để bảo tồn đồng vốn như vàng, đô la Mỹ, bất động sản, rất được ưa chuộng trên thị trường Việt Nam.

Thứ hai, do đặc trưng Việt Nam đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế, người lao động di cư nhiều từ nông thôn ra thành thị, đa số chọn các công việc ngắn hạn, mùa vụ, thu nhập thấp nên nhu cầu đóng bảo hiểm không cao và cũng không muốn đóng lâu.

Thứ ba, cơ chế tổ chức quỹ BHXH không khuyến khích các khu vực tư tham gia do thiếu minh bạch, thủ tục nhiêu khê, hạn chế về chế tài xử phạt, và sự thiếu công bằng trong đóng góp bảo hiểm giữa các khu vực công và khu vực tư.

Yếu tố cuối cùng, Việt Nam có truyền thống nương tựa gia đình, người về hưu thường nương tựa tuổi già nơi con, cháu. Do đó, việc đóng để hưởng BHXH không cấp thiết như các nước phương Tây.

Thay đổi theo điều kiện đặc thù

Chính sách BHXH được thiết kế với mục đích tốt nhưng để áp dụng thành công và tạo bước tiến bộ cho cuộc sống của người dân, cần thay đổi sao cho phù hợp với những điều kiện đặc thù tại Việt Nam.

Để thúc đẩy tính hiệu quả cho chính sách BHXH, cần cải thiện niềm tin của doanh nghiệp nói chung với BHXH và với triển vọng kinh tế. Để làm việc này, ta có thể thực hiện các giải pháp ngắn hạn và giải pháp dài hạn.

Về ngắn hạn, trước tiên cần minh bạch hóa việc quản trị, sử dụng Quỹ BHXH, giảm tối đa rủi ro và chi phí vận hành. Ngoài ra, theo kinh nghiệm Thái Lan, Chính phủ có thể thuê một công ty quản lý quỹ tư nhân để quản lý và đầu tư quỹ này một cách hiệu quả và chuyên nghiệp hơn. Khi được quản lý minh bạch, sinh lời thì doanh nghiệp, người lao động sẽ an tâm và tự nguyện đóng góp BHXH nhiều hơn.

Thứ hai, cần giảm các thủ tục hành chính quan liêu trong việc đóng BHXH và thụ hưởng BHXH, đặc biệt là ở lĩnh vực bảo hiểm y tế.

Thứ ba, có thể đưa ra các lựa chọn linh hoạt trong việc rút quỹ BHXH một lần hoặc sau kì hạn. Có thể đưa ra các mức đóng góp với tỷ lệ khác nhau gắn với quyền chọn rút bảo hiểm một lần. Nhiều lựa chọn hơn, người lao động và doanh nghiệp sẽ dễ dàng điều chỉnh theo điều kiện thực tế của mình và tăng động lực đóng quỹ của họ.

Về dài hạn, cần cho phép tư nhân tham gia đầu tư xây dựng các quỹ BHXH để quản trị nguồn đóng góp của người tham gia hiệu quả hơn. Người lao động có thể lựa chọn tham gia các quỹ bảo hiểm tư nhân này thay vì buộc phải tham gia Quỹ BHXH của Nhà nước. Sự cạnh tranh giữa các quỹ BHXH này sẽ hứa hẹn mang lại nhiều lựa chọn và lợi ích hơn cho người lao động.

(1) http://www.tapchitaichinh.vn/Trao-doi-Binh-luan/Nhieu-kien-nghi-giai-quyet-nguy-co-vo-quy-bao-hiem-xa-hoi/55121.tctc

Đặc trưng của bảo hiểm xã hội

BHXH không chỉ là bảo hiểm hưu trí mà còn bao hàm bảo hiểm y tế, tai nạn, thất nghiệp, thai sản…

Về bản chất, có thể coi BHXH là một chính sách an sinh xã hội trong đó mọi người bắt buộc phải tham gia tiết kiệm nhằm phòng ngừa, bù đắp những rủi ro kinh tế có thể xảy ra trong tương lai. Các doanh nghiệp, đôi khi cả ngân sách nhà nước cùng trích một phần thu nhập để nộp vào Quỹ BHXH. Người lao động có thể nhận lại khoản này từ quỹ để lo cho mình khi nghỉ hưu, hoặc gặp các tai ương, bệnh tật.

BHXH cũng khác với trợ cấp vì nó dựa trên cơ chế tự chủ tài chính, các bên hưởng lợi đều phải đóng góp, trong khi với các chính sách trợ cấp của chính phủ thì bên hưởng lợi không phải trực tiếp đóng góp.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s