‘Người khổng lồ’ chân đất sét – 5 kỳ

TNDẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhưng rất nhiều ngành chỉ to về con số thành tích, còn thương hiệu, chất lượng, uy tín, giá trị gia tăng mang lại vô cùng khiêm tốn.
‘Người khổng lồ’ chân đất sét

Phần lớn doanh nghiệp điều đều lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài – Ảnh: Diệp Đức Minh

Với ngành điều, do ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, nhiều “ông lớn” một thời đang dần lụn bại phải gia công cho nước ngoài.

Xù nợ khắp thế giới

Là “người khổng lồ” của thế giới khi dẫn đầu về xuất khẩu điều nhân, nhưng uy tín của các doanh nghiệp (DN) điều trong nước đang sụt giảm trầm trọng trên thị trường thế giới.

‘Người khổng lồ’ chân đất sét - ảnh 2

Mang tiếng xuất khẩu hàng đầu thế giới nhưng không thể điều tiết được giá bán, không định được giá, mà phải bán theo giá yêu cầu của nhà nhập khẩu. Ngược lại, chúng ta nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ châu Phi rất nhiều, nhưng cũng phải chạy theo họ về giá bán. Nghĩa là cả mua và bán DN đều bị động và lợi nhuận có được chủ yếu là do may rủi

‘Người khổng lồ’ chân đất sét - ảnh 3

 Ông Lê Quang Luyến, Chủ tịch HĐTV Công ty Phúc An

 

Tại thời điểm này, những vụ bị “xù” hợp đồng lại đang ám ảnh các DN điều. Đại diện một DN (xin giấu tên) cho biết: “Tôi đã mở L/C và ký với hợp đồng hàng trăm tấn điều thô với nhà cung cấp từ Benin. Nhưng đến nay khi giá điều tăng lên thì họ không giao hàng. Không có nguyên liệu để chế biến, chúng tôi không thể thực hiện hợp đồng đã ký với đối tác”.

Theo thống kê của Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS), hiện đã có hơn 30 trường hợp DN thuộc hiệp hội báo cáo bị “xù” hợp đồng. Kéo theo đó là cả khiếu nại của khách hàng nước ngoài đối với DN trong nước vì chậm giao hàng. Mặc dù các DN điều đều kêu mình là nạn nhân, do các đối tác nước ngoài không thực hiện hợp đồng mua nguyên liệu đã ký, nhưng có một thực tế khác là do không có nguyên liệu để chế biến, DN điều trong nước cũng sẽ “xù” hợp đồng xuất khẩu với các khách hàng. Dù là nạn nhân hay thủ phạm, nguyên nhân sâu xa là do chúng ta ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu điều nhập khẩu. Nếu như cách đây 10 năm, các DN chỉ nhập khẩu 20 – 30% điều thô, 70 – 80% còn lại trong nước cung cấp thì đến nay tỷ lệ này đã đảo ngược với số lượng nhập khẩu từ châu Phi lên đến 650.000 tấn mỗi năm.

Phó chủ tịch VINACAS Đặng Hoàng Giang thừa nhận: Năm 2008 ngành điều lùm xùm vì hàng loạt vụ kiện hủy hợp đồng đã ký với khách hàng nước ngoài. Năm nay tình trạng cũng đang lặp lại tương tự. Năm đó, các “chủ nợ” của DN điều trong nước ở khắp nơi, từ Anh, Úc, Mỹ đến một số nước châu Á. Riêng với thị trường Anh, Thương vụ VN tại Anh cho biết có đến 38 công ty VN thuộc dạng “nợ khó đòi” với tổng số nợ lên đến 9,75 triệu USD. Tình hình càng xấu hơn khi hàng loạt hiệp hội thương mại nước ngoài lên tiếng phản đối và dọa kiện các DN điều VN, đồng thời gửi thư kiến nghị lên đến tận Thủ tướng Chính phủ nhờ can thiệp. Uy tín của ngành điều VN bị hoen ố từ ngày đó và đến nay đã trở thành “thói quen” đối với khách hàng quốc tế.

Trực tiếp kinh doanh trong ngành này, ông Vũ Thái Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Long Sơn, cho biết thời điểm đầu năm giá điều loại W320 ở mức 3,25 USD/Lb (1 Lb = 0,45 kg), sau đó rớt xuống 3,15 USD/Lb, thậm chí có DN ký bán 3 USD/Lb. Tuy nhiên, từ tháng 8 đến nay thì giá lên quá nhanh. Loại hàng W240 tăng lên 3,85 – 3,95 USD/Lb, loại W320 tăng lên 3,45 – 3,55 USD/Lb… “Những DN đã ký hợp đồng giá thấp lỗ nặng. Công ty tôi cũng phải chấp nhận lỗ để thực hiện hợp đồng. Nhưng không nhiều DN dám hy sinh như vậy. Cứ lỗ là xù hợp đồng”, ông Sơn nói.

Ông Lê Quang Luyến, Chủ tịch HĐTV Công ty Phúc An, cũng bày tỏ lo ngại khi ngành điều ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, bỏ quên vùng nguyên liệu trong nước. “Mang tiếng xuất khẩu hàng đầu thế giới nhưng không thể điều tiết được giá bán, không định được giá, mà phải bán theo giá yêu cầu của nhà nhập khẩu. Ngược lại, chúng ta nhập khẩu điều thô nguyên liệu từ châu Phi rất nhiều, nhưng cũng phải chạy theo họ về giá bán. Nghĩa là cả mua và bán DN đều bị động và lợi nhuận có được chủ yếu là do may rủi. Đó là nghịch lý hiện nay của ngành điều VN”, ông Luyến trăn trở.

 

Theo Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), từ năm 2005 đến năm 2013, diện tích điều giảm mạnh, nhất là các tỉnh Đông Nam bộ giảm 88.399 ha, duyên hải Nam Trung bộ giảm hơn 16.900 ha, Tây nguyên giảm 14.111 ha…

 

Nông dân nghèo, doanh nghiệp lỗ

Công nghiệp chế biến hạt điều VN được xem là đã tạo được đột phá với 465 cơ sở với công suất thiết kế 1 triệu tấn/năm, xếp thứ hai thế giới sau Ấn Độ và dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhân điều liên tục trong 8 năm qua (từ 2006 – 2013). Năm 2014, dự báo xuất khẩu đạt 180.000 tấn điều nhân các loại với kim ngạch 1,8 tỉ USD, cộng thêm các mặt hàng dầu vỏ hạt điều và sản phẩm chế biến sâu, con số này lên khoảng 2,2 tỉ USD, tiếp tục là nước xuất khẩu điều đứng đầu thế giới.

Thế nhưng, tình trạng lệ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, lệ thuộc vốn vay ngân hàng, lệ thuộc vào người mua và cả người bán, khiến lợi nhuận hết sức khiêm tốn. Giám đốc một DN lâu năm tại Bình Phước không giấu nổi sự chán nản khi thừa nhận: “Con số trên 2 tỉ USD xuất khẩu là rất lớn, nhưng lợi nhuận thật sự mà chúng tôi thu về trên doanh số này thì không đáng là bao. May mắn lắm thì được 10%, còn thì huề vốn, khi thua lỗ”. Đây là một thực tế buồn nếu nhìn vào “vóc dáng” của ngành điều trong bản đồ xuất khẩu của thế giới. Đơn cử như năm 2011, Công ty CP chế biến hàng xuất khẩu Long An (Lafooco) nhập một lượng lớn điều thô từ châu Phi với giá cao nhưng sau đó giá điều nhân giảm đột ngột nên bị lỗ khoảng 12.000 đồng/kg. Năm 2012, Lafooco thua lỗ 152 tỉ đồng, trong khi tổng lợi nhuận trong ba năm từ 2009 – 2011 chưa đến 116 tỉ đồng.

Đó là “phận” DN, người trồng điều còn khổ hơn. Tính bình quân trong 6 năm (2006 – 2011), 1 ha điều ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ thu nhập chỉ đạt 5,02 triệu đồng/năm, trừ chi phí người nông dân thu về chỉ được 1,39 triệu đồng/ha/năm, tương đương khoảng 100.000 đồng/tháng/ha. Vùng Đông Nam bộ thu nhập 14,02 triệu đồng/ha/năm, lãi thu về được 9,41 triệu đồng/ha/năm và thấp hơn rất nhiều so với các loại cây trồng thay thế khác. Thu nhập không đủ sống, nhiều nông dân đã phá bỏ cây điều để chuyển sang các loại cây khác.

Đáng nói là nhiều DN từng là “ông lớn” của ngành điều trước đây như Công ty vật tư tổng hợp Phú Yên, Nitagrex (Ninh Thuận) cũng đã trở thành đơn vị gia công chế biến cho các DN nước ngoài. “Cả ngành điều hiện nay có đến 30 – 35% số DN phải đi gia công cho nước ngoài. Điều đó cho thấy ngành điều càng ngày càng yếu đi”, đại diện một DN lâu năm trong ngành nói.

 

Nội bộ lủng củng

Không chỉ bấp bênh bên ngoài, nội bộ ngành điều cũng hết sức mất đoàn kết.  Suốt 10 năm nay VINACAS luôn xảy ra mâu thuẫn, bất hòa trong ban chấp hành và các hội viên. Chiếc ghế Chủ tịch của VINACAS nhiều lần phải đổi chủ giữa nhiệm kỳ vì những khiếu kiện của hội viên. Ngay cả đại hội gần đây nhất bầu ra Ban chấp hành nhiệm kỳ mới của VINACAS cũng bị một số hội viên “tố” không hợp lệ. VINACAS “bình yên” khoảng 1 năm gần đây nhưng chỉ mới làm được nhiệm vụ thông tin giá cả chứ chưa tập hợp được DN, không dự báo được diễn biến thị trường và chưa điều tiết được giá xuất khẩu, hoàn toàn để nước ngoài thao túng, đặt giá mua bán theo ý của họ.

 

Quang Thuần

*****

‘Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 2: Dệt may ‘lượm’ bạc cắc

TN – Tại nội địa, dệt may luôn dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu. Ra khỏi biên giới, VN là một trong 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Nhưng bên trong “vóc dáng” hoành tráng này là một thể lực còm cõi với lợi nhuận ít ỏi và năng lực cạnh tranh ngày một kém.

 Gia công hàng dệt may

Gia công hàng dệt may của VN đang nằm ở đáy chuỗi giá trị – Ảnh: D.Đ.Minh

>> ‘Người khổng lồ’ chân đất sét

Hưởng 20 cent trong giá bán 80 USD/sản phẩm

Tại Mỹ, châu Âu hay Nhật, một chiếc quần của các thương hiệu như Zara, H&M, Mango, Uniqlo hay Levi’s có giá bình quân từ 50 – 80 USD. Khá nhiều trong số đó được gắn nhãn “made in VN” và đây là niềm tự hào của nhiều người VN khi ra nước ngoài.

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 2: Dệt may 'lượm' bạc cắc - ảnh 2

Để thay đổi hiện trạng của ngành dệt may, cần phải có lộ trình dài và nỗ lực liên tục để nâng cao trình độ, như tự vẽ mẫu thiết kế, tiếp thị hiệu quả, DN phải có thương hiệu, không phải cứ chấp nhận phận gia công như hàng chục năm nay

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 2: Dệt may 'lượm' bạc cắc - ảnh 3
Ông Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế

Thế nhưng các doanh nghiệp (DN) sản xuất ra cái quần đó tại nội địa chỉ nhận được từ 1,6 – 2,2 USD/sản phẩm. Nhưng không phải là họ hưởng trọn. Nếu trừ đi tiền công, chi phí điện, nước, thuê đất, vận chuyển… lợi nhuận ròng mà các DN hưởng trên giá bán từ 50 – 80 USD/quần nói trên chỉ là… 20 cent. Đây là lý do, dù có thâm niên gần 2 thập niên đóng vai “người khổng lồ” trong thành tích xuất khẩu của VN nhưng theo đánh giá của các chuyên gia trên thế giới, dệt may VN vẫn nằm ở đáy trong chuỗi giá trị của ngành này.

Nguyên nhân của nghịch lý này là do chúng ta phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhập khẩu nguyên vật liệu. Theo Tổng cục Thống kê, 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hàng dệt may được 15,5 tỉ USD nhưng nhập khẩu bông, xơ, sợi, vải và nguyên phụ liệu các loại lên đến gần 11 tỉ USD. Với “thể trạng” như vậy, 70% trong tổng số 4.000 DN dệt may hiện nay là làm gia công. Nghĩa là đối tác đưa mẫu, đưa chỉ, đưa khuy, đưa dây kéo, móc khóa, đưa vải… DN trong nước chỉ việc “ráp” lại thành quần, áo rồi trả lại người ta và nhận tiền công. Nói một cách dễ hiểu là lấy công làm lời. Số DN còn lại nói là sản xuất FOB (mua nguyên phụ liệu sản xuất theo đơn hàng) nhưng đa số cũng không được tự chủ hoàn toàn về nguồn nguyên phụ liệu nên giá trị thu về cũng chỉ cao hơn giá gia công khoảng 10%.

Đáng nói là vấn đề này đã được đặt ra hàng chục năm nay nhưng vì đủ mọi lý do, ngành dệt may trong nước đến giờ vẫn thế. Vẫn là “người khổng lổ” về thâm dụng lao động nhưng “tí hon” về giá trị gia tăng. Chính sự an phận làm gia công thuần túy của nhiều DN trong nước đã tạo thời cơ cho các DN nước ngoài nhảy vào khai thác cơ hội, lợi thế từ việc VN gia nhập các hiệp định thương mại trong khu vực và trên thế giới. Từ tỷ lệ gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu trước đó, hiện nay, tỷ trọng của DN FDI trong ngành dệt may đã tăng lên khoảng 60 – 65%. Đặc biệt, trong vòng 2 năm qua, hàng loạt dự án mới hoặc mở rộng của nhiều DN đến từ Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… ồ ạt được triển khai tại thị trường nội địa. Cùng với đó là số lượng DN may trong nước đóng cửa tiếp tục gia tăng. Các DN FDI đã trở thành mối nguy cho các DN may nội trong việc cạnh tranh thu hút đơn hàng và nhân công.

Từ “rỗng” về nguyên liệu, thành tích xuất khẩu của ngành dệt may trong nước chủ yếu do các DN ngoại.

Chỉ làm cái đơn giản

Theo ông Lê Quang Hùng – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần may Sài Gòn (Garmex) – các khách hàng nước ngoài luôn khen công nhân VN khéo tay, đảm bảo thực hiện được những sản phẩm có nhiều chi tiết, chất lượng cao, giá cao hơn, lợi nhuận nhiều hơn và cũng ít bị cạnh tranh hơn. Ví dụ giá gia công áo thun đơn giản chỉ khoảng 1,5 USD/cái thì một áo jacket có giá gia công đến 5 – 7 USD/cái và thậm chí có những sản phẩm có đơn giá trên 10 USD/cái. Bởi một áo thun chỉ có vài chục chi tiết thì một áo jacket có đến 300 – 400 chi tiết, độ khó cao nên yêu cầu công nhân có tay nghề và kinh nghiệm… DN làm áo thun đơn giản thì chỗ nào cũng có nhưng số DN làm được áo jacket nhiều lớp chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thế nhưng, dù có tay nghề, chúng ta lại không nắm được cơ hội này.

Lý do theo ông Hùng, những đơn hàng kỹ thuật cao yêu cầu mỗi dây chuyền phải có nhiều lao động, do đó quy mô của DN phải đủ lớn để thực hiện. Bên cạnh đó, thay vì gửi sản phẩm hoàn chỉnh khi đặt hàng như trước thì hiện nay khách hàng chỉ email gửi phác họa kèm theo thông số để DN tự làm ra sản phẩm. Vì thế, nhà sản xuất cần phải có đội ngũ kỹ thuật biết thiết kế. Nhưng đa số các DN may trong nước chỉ dừng ở quy mô vừa và nhỏ, đầu tư thiết bị hay đội ngũ kỹ thuật đều vượt quá tầm tay nên đành đứng ngoài thị phần ngon ăn này, tiếp tục kiếp gia công.

Thực tế này cũng được nhiều DN thừa nhận. DN có khát vọng thì thiếu vốn; DN có vốn thì an phận làm gia công cho “an toàn”; DN thay đổi tư duy lấy công làm lời thì gặp thời buổi khó khăn… Vì nhiều lý do, ngành dệt may vẫn chỉ tăng tốc về số lượng, kim ngạch xuất khẩu nhưng thụt lùi về lợi nhuận, giá trị gia tăng trên các sản phẩm.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nhận xét, các công ty sản xuất hàng dệt may ở VN chỉ có mỗi việc là sản xuất theo đơn đặt hàng nên giá trị gia tăng rất thấp là điều tất yếu. Hàm lượng nội địa trong sản phẩm dệt may VN hiện chỉ khoảng 25%, nhưng nếu tham gia Hiệp định kinh tế xuyên Thái Bình Dương, tỷ lệ này phải tăng lên 70%. “Để thay đổi hiện trạng của ngành dệt may, cần phải có lộ trình dài và nỗ lực liên tục để nâng cao trình độ, như tự vẽ mẫu thiết kế, tiếp thị hiệu quả, DN phải có thương hiệu, không phải cứ chấp nhận phận gia công như hàng chục năm nay”, ông Doanh phát biểu.

Sẽ khó tồn tại nếu làm gia công thuần túy

Trong một hội thảo gần đây, ông Lê Quốc Ân, Trưởng ban cố vấn Hội Dệt may VN, nhận định: Giá lao động tại VN đang trên đà tăng và có thể sẽ lên đến 500 USD/tháng/người (tính cả thưởng tết, bảo hiểm xã hội…) tại các thành phố lớn như TP.HCM và Hà Nội. Với đà tăng đó, khả năng trong vòng 3 – 5 năm tới các DN sẽ khó tồn tại nếu chỉ làm gia công thuần túy. Vì vậy dù muốn hay không, theo xu thế, DN vẫn phải đẩy mạnh giá trị gia tăng cho hàng hóa, bằng cách đẩy mạnh FOB, hướng đến những hình thức mang lại giá trị gia tăng cao hơn…

Mai Phương – Trần Tâm

*****

‘Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 3: Công nghiệp điện tử vay mượn

TN – 2 năm nay, xuất khẩu điện tử soán ngôi dệt may, đứng đầu trong các ngành hàng có giá trị xuất khẩu cao nhất VN. Những sản phẩm điện thoại cao cấp, chip, vi mạch… “Made in VN” đang tỏa đi khắp thế giới. Chỉ tiếc rằng, doanh nghiệp trong nước hoàn toàn đứng ngoài miếng bánh ngon này, phần thu ngân sách cũng cực kỳ ít ỏi.

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 3: Công nghiệp điện tử vay mượn - ảnh 1

Nhiều doanh nghiệp gia công, lắp ráp hàng điện tử đang được hưởng ưu đãi cao nhất – Ảnh: M.Phương

Chỉ góp đất và lao động 

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 3: Công nghiệp điện tử vay mượn - ảnh 2

Kim ngạch xuất khẩu hằng năm của sản phẩm công nghệ thông tin – điện tử đang dẫn đầu nhưng chúng ta chỉ đóng góp nguồn lao động và cho thuê đất để tạo ra những sản phẩm đó

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 3: Công nghiệp điện tử vay mượn - ảnh 3
Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng thư ký Hội Tin học TP.HCM

Trong 17,1 tỉ USD xuất khẩu (XK) điện thoại các loại và linh kiện của 9 tháng đầu năm nay, các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm đến 99,6%. Còn XK máy tính và linh kiện, DN FDI cũng chiếm hơn 90%. Theo Tập đoàn Samsung, cứ 400 triệu điện thoại di động của hãng này được bán ra trên toàn cầu thì có tới 120 triệu chiếc được sản xuất tại Bắc Ninh. Tương tự, Nhà máy Intel tại VN mới đây cũng công bố sẽ có tới 80% bộ xử lý CPU cho máy tính để bàn trên toàn cầu được sản xuất tại VN. Ngoài 2 tập đoàn này, sự có mặt của hàng loạt nhà sản xuất ngoại khác như Nokia, Canon, LG, HP, Sanyo… đang biến VN thành “xưởng công nghệ” của thế giới.

Thế nhưng, trong số hàng trăm nhà cung cấp cho Intel hay Samsung tại VN thì số DN trong nước chỉ đếm trên đầu ngón tay. Sự tham gia ít ỏi đó ở những phần việc đơn giản nhất, không có giá trị là bao, nên thật sự số tiền VN kiếm được trong con số hàng chục tỉ USD xuất khẩu mỗi năm từ các mặt hàng điện tử là cực kỳ ít ỏi.

Ông Vũ Anh Tuấn, Tổng thư ký Hội Tin học TP.HCM, chua xót nói dù hàng trăm triệu điện thoại di động có mặt ở tất cả các nước trên thế giới mang dòng chữ “Made in Vietnam”, nhưng không hề thấy bóng dáng của VN ở chỗ nào. Ví dụ, hộp đựng điện thoại, sách hướng dẫn sử dụng, sợi dây cáp… đều được nhập khẩu hoàn toàn, dù đây là những sản phẩm không phải thuộc dạng “công nghệ cao khó thực hiện”. Cụ thể với sách hướng dẫn sử dụng, tiêu chí giấy mỏng, dai, không thấm nước, mực in không lem, không độc… DN trong nước có thể đáp ứng được vì nguyên vật liệu cần thiết đều có trên thị trường. Đáng tiếc là chúng ta vẫn không chen chân vào được. “Kim ngạch XK hằng năm của sản phẩm công nghệ thông tin – điện tử đang dẫn đầu nhưng chúng ta chỉ đóng góp nguồn lao động và cho thuê đất để tạo ra những sản phẩm đó”, ông Tuấn nói.

Đáng nói là dù sản phẩm như điện thoại, điện tử của VN được XK khắp năm châu bốn bể nhưng chúng ta mỗi năm cũng nhập khẩu hơn 20 tỉ USD chính các sản phẩm này. Thậm chí, những sản phẩm “Made in Vietnam” sau khi chu du vòng quanh thế giới lại quay về thị trường VN và người tiêu dùng phải chi ra rất nhiều tiền để sở hữu chúng.

Ưu đãi để bị… loại

Phải tính từ khâu cấp phép

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nếu không tham gia vào chuỗi giá trị của các DN FDI điện tử thì khả năng trở về con số 0 trong trường hợp tương lai họ không còn chọn VN làm điểm dừng chân rất dễ xảy ra. Vì thế, khi cấp phép cho các dự án về công nghệ cao, phía VN phải mời nhà đầu tư nước ngoài cùng ngồi lại với DN trong nước bàn xem công ty VN làm được gì trong quy trình sản xuất của họ. Có thể bắt đầu từ sản phẩm nhỏ nhất như bao bì, từ đó mới có cơ sở để phát triển sản phẩm hỗ trợ cao hơn.

Nhưng hệ quả của việc đứng ngoài hầu như toàn bộ quy trình sản xuất, lắp ráp điện tử của các DN FDI đang để ngỏ một rủi ro cực lớn cho nền kinh tế trong nước. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, với tình trạng “bao sân” trong sản xuất, lắp ráp và XK điện thoại, điện tử như hiện nay, nếu họ chuyển đi thì nền công nghiệp điện tử VN sẽ trở về con số không. Nhiều chuyên gia kinh tế đồng tình khi cho rằng, Samsung hay LG có thể chuyển được nhà máy của họ từ Trung Quốc qua VN thì cũng có thể chuyển nhà máy từ VN qua một nước khác, nếu nơi mới có sức cạnh tranh hơn. Khi đó, với nền tảng không vững vàng do không được chuyển giao công nghệ, công nghiệp hỗ trợ yếu kém, tay nghề công nhân không cải thiện, thì “người khổng lồ” XK hàng điện tử sẽ hụt chân và biến mất.

Nhưng chen chân vào chuỗi giá trị của họ có lẽ còn khó hơn. Các “ông lớn” Samsung, Intel, Nokia… – những DN được hưởng những ưu đãi vượt khung về thuế, hạ tầng… đều hùng hồn công bố họ mở cửa với các nhà cung cấp VN, nhưng thực tế không phải như vậy. Đầu tiên phải thừa nhận, ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước còn yếu kém. Nhưng lý do quan trọng hơn, các nhà đầu tư này khi vào VN đều mang theo các công ty vệ tinh và “ẵm” hết phần việc đáng lẽ là của DN Việt. Đặc biệt, các công ty vệ tinh theo chân các DN này khi vào VN cũng được hưởng ưu đãi nên DN trong nước khó mà cạnh tranh nổi.

Tại hội thảo kết nối Samsung với các công ty VN quan tâm tới công nghiệp hỗ trợ ở Hà Nội gần đây, nhiều DN lo lắng về đầu ra của sản phẩm vì Samsung từ chối ký hợp đồng khung. Theo một DN, thực ra các DN FDI đã chủ ý dành sân chơi cho DN đồng hương của họ chứ không muốn mở cửa cho DN VN. “Không ký hợp đồng, làm sao chúng tôi dám vay hàng trăm tỉ đồng đầu tư dây chuyền sản xuất mà sản phẩm làm ra không bán được?”, vị này nói.

Nhiều DN trong nước cũng cho biết, dù các DN FDI đều khẳng định mong muốn có nhà cung cấp trong nước nhưng bản thân họ không có đầy đủ thông tin, như nhà máy đó mỗi năm cần mua các loại sản phẩm gì? Số lượng mỗi loại sản phẩm là bao nhiêu? Chất lượng yêu cầu của sản phẩm gồm những tiêu chí nào? Mức giá phù hợp mà nhà sản xuất có thể thu mua? Nếu chỉ hô hào thì DN trong nước không đủ tự tin để đầu tư sản xuất.

Một số ý kiến còn cho rằng, sở dĩ các DN FDI luôn nhập khẩu linh phụ kiện từ công ty mẹ ở nước ngoài mà không rộng cửa cho DN VN là để dễ dàng chuyển giá.

Với tất cả những lý do này, hiện nay và cả trong tương lai, DN trong nước khó chen chân được vào chuỗi giá trị ngày càng tăng cao của các DN ngoại trong lĩnh vực công nghệ, điện tử trên chính sân nhà. Và thực sự “người khổng lồ” điện tử của VN thực chất chỉ là cái vỏ, từ thương hiệu, công nghệ, lợi nhuận vẫn thuộc hoàn toàn nước mẹ đẻ của các công ty này.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, cần nghiên cứu xem những ưu đãi cho các DN FDI có đem lại lợi ích gì cho VN hay không. “Chứ ưu đãi mà để giết chết DN VN, để tạo ra mặt bằng bất lợi cho DN trong nước thì ưu đãi để làm gì?”, ông Thành nhấn mạnh.

Mai Phương – N.Trần Tâm

 >> ‘Người khổng lồ’ chân đất sét
 >> Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 2: Dệt may ‘lượm’ bạc cắc

*****

‘Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 4: Cà phê nhiều nhưng không tinh

TN – Xây dựng hình ảnh một “đại gia” trong ngành cà phê thế giới nhưng chỉ có 5% trong tổng lượng cà phê xuất khẩu từ VN là qua chế biến, 95% là xuất thô.

‘Người khổng lồ’ chân đất sét - Kỳ 4: Cà phê nhiều nhưng không tinhThương hiệu cà phê VN không ai biết đến do chỉ xuất thô – Ảnh: D.Đ.M

Lớn nhưng không mạnh, nhiều nhưng không tinh… nghịch lý này khiến cà phê Việt có mặt ở khắp nơi nhưng không được ai biết đến.

Uống một đằng, sản xuất một nẻo

Bức tranh về ngành cà phê luôn được “vẽ” với số lượng xuất khẩu đứng đầu thế giới, diện tích trồng cà phê ngày một tăng. Cụ thể, năm 2013, VN xuất khẩu 1,3 triệu tấn cà phê đạt 2,7 tỉ USD. So với năm 1990, sản lượng xuất khẩu cà phê VN đã tăng gấp 14 lần, kim ngạch cao xấp xỉ 30 lần.

‘Người khổng lồ’ chân đất sét - Kỳ 4: Cà phê nhiều nhưng không tinh - ảnh 2

Chúng ta đang tự hào là người khổng lồ trong xuất khẩu cà phê, nhưng nếu có dịp nhâm nhi ly cà phê tại một nước trong nhóm VN xuất khẩu nhiều, tìm đỏ mắt bạn cũng không thấy được một gói cà phê “Made in Vietnam” được đặt trên quầy, kệ

‘Người khổng lồ’ chân đất sét - Kỳ 4: Cà phê nhiều nhưng không tinh - ảnh 3
Ông Robert Trần

Thế nhưng, sự thật là ngành hàng cà phê VN đã bị sụt giảm đáng kể về chất lẫn lượng. Báo cáo đầu năm 2014 của Bộ NN-PTNT cho thấy xuất khẩu cà phê VN giảm gần 25% về lượng và xấp xỉ 26% về kim ngạch. Lý do theo một chuyên gia trong ngành này, chúng ta quá chú trọng về lượng, coi thường việc tăng giá trị khiến giá bán thường thấp hơn cà phê các nước.

Lý do quan trọng hơn là sản xuất cà phê của VN đang đi ngược với nhu cầu và xu hướng thế giới. Trong khi thế giới đang chuộng cà phê Arabica (chè), thì chúng ta lại chủ yếu là cà phê Robusta (vối). Trong khi trên thị trường thế giới, cà phê chè luôn được đánh giá cao hơn vì có hương vị thơm ngon nên thường có giá cao gấp đôi giá cà phê vối. Trong một lần chia sẻ với Thanh Niên về nguyên liệu cà phê, ông Andrew Nguyễn, chủ chuỗi cửa hàng Coffee Bean & Tea Leaf tại VN, cho biết khoảng 70 – 80% sản phẩm cà phê cao cấp trên thế giới dùng hạt cà phê chè làm nguyên liệu sản xuất chính. Đây cũng là một trong những lý do khiến rất nhiều hãng cà phê danh tiếng tuy đã có mặt tại thị trường nội địa nhưng nguyên liệu cà phê Việt vẫn không thể chen chân vào. Các hãng nước ngoài vẫn nhập gần như 100% cà phê từ nước ngoài để bán cho người trong nước.

Về vấn đề này, chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành không giấu nổi sự khó hiểu: “Người ta uống một đằng, mình sản xuất một nẻo. Vấn đề này đã được nói trước đây rất lâu, đeo đẳng ngành cà phê từ ngày này sang tháng nọ nhưng hình như các anh (nhà quy hoạch ngành cà phê – PV) không quan tâm hay do thổ nhưỡng VN chúng ta không làm được? Lấy nông nghiệp làm trọng, anh chỉ có thể thắng người ta khi anh coi trọng việc xuất khẩu sản phẩm đã chế biến, tôi nhấn mạnh là đã chế biến chứ không phải sơ chế thay vì cứ hái hạt cà phê về, phơi phóng rồi xuất thô như cách làm lâu nay”.

Ông Nguyễn Quốc Minh, Tổng giám đốc công ty chuyên trồng và sản xuất cà phê Arabica, cà phê chồn (Trại Hầm, Lâm Đồng), cho rằng vấn đề của ngành cà phê VN là thiếu sự tự tin của nhà sản xuất. Tư duy luôn nghĩ cà phê VN kém chất lượng, tiêu chuẩn không đồng nhất, số lượng không ổn định nên không dám nghĩ lớn, không dám làm lớn. “Cứ mua thô, xuất thô cho nó yên. Lâu dần, chính chúng ta mặc định sản phẩm của mình thấp hơn nước khác. Làm sao để thế giới tin chúng ta có thể làm được sản phẩm cà phê chế biến ngon, tinh và chất lượng được khi chính chúng ta không tin mình?”, ông Minh đặt vấn đề.

Lợi nhuận ít, thương hiệu không

Theo các chuyên gia, giá trị một đơn vị cà phê qua chế biến cao hơn cà phê nhân gấp 3 lần. Với 95% sản lượng cà phê xuất thô, chúng ta không chỉ kiếm chút lợi nhỏ nhoi mà còn dẫn đến một hậu quả lớn hơn, không xây dựng được thương hiệu cà phê Việt.

Hiện có khoảng 10 quốc gia đang nhập nhiều cà phê nhân của VN là: Mỹ, Đức, Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Anh và Trung Quốc. Thế nhưng chuyên gia chiến lược Robert Trần, người có nhiều kinh nghiệm làm việc với các hiệp hội ngành tại các nước, cũng chua chát nhận xét: “Chúng ta đang tự hào là người khổng lồ trong xuất khẩu cà phê, nhưng nếu có dịp nhâm nhi ly cà phê tại một nước trong nhóm trên, tìm đỏ mắt bạn cũng không thấy được một gói cà phê “Made in Vietnam” được đặt trên quầy, kệ. Tất cả đều được sản xuất ở nước ngoài, không một chữ VN. Rất có thể những ly cà phê bạn đang uống ở Mỹ đó được làm từ nguyên liệu cà phê VN nhưng không có một dấu hiệu nào để thấy VN có mặt ở đó. Tất cả được chế biến ở nước ngoài”. Ông Andrew Nguyễn cũng khẳng định, nguyên liệu cà phê cung cấp cho hệ thống Coffee Bean & Tea Leaf toàn cầu được chọn lựa kỹ từ nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chưa thấy cà phê nguyên liệu từ VN. Bản thân ông Andrew cũng nhiều lần nỗ lực giới thiệu tập đoàn tìm nguyên liệu tại VN nhưng đến nay chưa có kết quả.

Rất nhiều người Việt yêu cà phê khi ra nước ngoài du lịch cũng có ý tìm cà phê trong nước vì “nghe nói xuất khẩu nhiều” ở nước họ tới nhưng vô vọng. Việc xuất thô đã khiến cà phê Việt hoàn toàn không tên tuổi ở chính quốc gia sản phẩm này có mặt.

Theo Tổ chức cà phê quốc tế (ICO), tiêu thụ cà phê toàn cầu đã tăng liên tục trong vòng 40 năm qua với tốc độ tăng bình quân 1,6%/năm. Dự báo giá cà phê sẽ duy trì ở mức hơn 2.000 USD/tấn (theo sàn cà phê London, giá cà phê ngày 15.10 là 2.155USD/tấn. Thực tế nhiều giai đoạn giá cà phê giảm sâu dưới 1.800 USD/tấn). Dự thảo “Quy hoạch hệ thống chế biến, bảo quản cà phê gắn với sản xuất và xuất khẩu đến năm 2020, định hướng 2030” của Bộ NN-PTNT cũng dự báo: đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 3,5 tỉ USD/năm, năm 2030 đạt 4 – 4,5 tỉ USD/năm.

Những con số trên cho thấy, tiềm năng của cà phê là rất lớn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là tăng “chất” cho cà phê xuất khẩu thì VN lại hầu như không có một chiến lược cụ thể để khai thác.

Hiệp hội ở VN quá mờ nhạt

Ông Robert Trần nhận xét: Quan trọng để phát triển một ngành là vai trò của hiệp hội. Hiệp hội Cà phê của Brazil có vai trò rất lớn trong đàm phán, tư vấn thị trường cho doanh nghiệp. Hiệp hội đôi khi như đại diện của chính phủ để đi nói chuyện với các nước về ngành hàng của họ, Brazil, Ấn Độ đã thành công điều này. Nhưng tại VN thì ngược lại, không có hiệp hội nào có tiếng nói mạnh, đại diện quốc gia để nói chuyện với đối tác. Đây cũng là lý do khiến ngành cà phê, tuy là người khổng lồ, vẫn còn chịu quá nhiều thiệt thòi so với thiên hạ.

Nguyên Nga

*****

‘Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 5: Gạo xuất rẻ, bán trong nước đắt

TN – Được biết đến như một “vựa lúa” của thế giới, bán gạo trên toàn cầu nhưng cuộc sống của người nông dân trồng lúa ở VN vẫn hết sức nghèo khó.

Gạo xuất rẻ, bán trong nước đắtThiếu chiến lược, VN xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới nhưng không có thương hiệu – Ảnh: Diệp Đức Minh

Trong đợt đấu thầu 500.000 tấn gạo của Cơ quan lương thực quốc gia Philippines tổ chức hồi tháng 8.2014, các doanh nghiệp xuất khẩu (XK) gạo VN đã đưa ra mức giá đấu thầu là 460 USD/tấn, mức thấp nhất trong các nước dự thầu nhưng vẫn không trúng thầu do cao hơn mức giá trần Philippines đưa ra là 456,6 USD/tấn. Các chuyên gia phân tích, Philippines nắm được điểm yếu của VN là luôn dự thầu với giá thấp và đang cần tiêu thụ lúa gạo, nên ra sức ép giá.

Chiến lược “ăn đong”    

Theo TS Đặng Kiều Nhân, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), ngành lúa gạo hiện nay chưa có một chiến lược phát triển dài hơi mà chỉ “ăn đong” từng ngày và trông chờ vào chính sách tạm trữ ngắn hạn từng năm của Chính phủ. Thực tế cho thấy, giải pháp mua tạm trữ một cách cứng nhắc trong giai đoạn bí đầu ra, không giúp ích được nhiều cho nông dân mà còn tạo gánh nặng cho doanh nghiệp XK khi lượng tồn kho tăng, kho bãi hạn chế, chế biến bảo quản chưa đảm bảo chất lượng.

Quả nhiên, ở lần đấu thầu lại vào tháng 9, VN đã phải giảm giá thêm 4 USD/tấn để có được lượng gạo trúng thầu là 200.000 tấn. Với giá trúng thầu này, mỗi kg gạo XK chở đến kho của nước nhập khẩu chỉ có giá 9.756 đồng/kg, tương đương 4.880 đồng/kg lúa. Trong khi theo tính toán, muốn người nông dân lời 30% như mục tiêu của Chính phủ, giá bán ít nhất phải đạt 5.000 đồng/kg lúa. Trừ đi chi phí thu gom, vận chuyển, lời lãi của doanh nghiệp (DN), nông dân chỉ lấy công làm lời, thậm chí nhiều vụ còn lỗ nặng.

Lợi nhuận của nông dân xếp chót bảng

Nhưng đây không phải là lần đầu tiên VN phải dùng chiêu cạnh tranh bằng giá rẻ mà lâu nay, giá gạo XK của VN vẫn lẹt đẹt xếp sau những nước khác. Cụ thể, theo Ngân hàng Thế giới (WB), giá gạo Thái Grade B giai đoạn 2009 – 2014 cao hơn giá gạo VN cùng loại (gạo 5% tấm) là 26%; gạo 25% tấm của Thái cao hơn giá gạo cùng loại của VN 22%. Điều này cũng được Viện Nghiên cứu lúa gạo thế giới (IRRI) xác nhận với công bố, năm 2014 vùng ĐBSCL có giá thành sản xuất lúa thấp nhất so với các nước sản xuất lúa gạo khác, đạt 0,13 USD/kg so với 0,15 USD/kg của Ấn Độ, Thái Lan là 0,2 USD/kg, Trung Quốc 0,24 USD/kg, Indonesia 0,24 USD/kg và Philippines là 0,25 USD/kg.

Giá thành thấp nhưng chi phí phân bón, thuốc trừ sâu của ta lại cao hơn rất nhiều so với các nước. Thế nên, lợi nhuận của người nông dân VN cũng xếp chót bảng: chỉ có 0,06 USD/kg so với lợi nhuận của nông dân Thái Lan là 0,2 USD/kg, Indonesia 0,14 USD/kg, Trung Quốc 0,24 USD/kg và Ấn Độ là 0,09 USD/kg.

Thống kê của WB cho thấy, thu nhập của các hộ canh tác lúa có diện tích dưới 1 ha (chiếm tỷ lệ 90% hộ trồng lúa tại VN) chỉ có 151.000 đồng/người/tháng và có xu hướng tiếp tục giảm.

Đáng nói là dù xuất gạo với giá thấp như vậy nhưng tại chính thị trường nội địa, người tiêu dùng trong nước vẫn luôn phải mua gạo với giá cao. Hiện nay giá gạo thường tại các đại lý ở TP.HCM từ 12.500 – 14.000 đồng, gạo thơm từ 15.500 – 19.000 đồng/kg. Một số gạo chất lượng cao như gạo lài sữa, thơm giống Đài Loan… có giá bán lẻ từ 17.000 –  21.000 đồng/kg!

Thích số lượng, bỏ chất lượng

Trong nước thì bị thương lái Trung Quốc ép giá, XK cũng bị đối tác ép đến tận cùng. Nguyên nhân sâu xa theo các chuyên gia, VN chỉ chăm chăm vào việc tăng số lượng mà bỏ qua chất lượng lúa, gạo.

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 5: Gạo xuất rẻ, bán trong nước đắt - ảnh 2

Chúng ta chỉ chăm chăm trồng lúa nhằm XK gạo và đặc biệt quan tâm đến số lượng hơn là chất lượng mà quên rằng, ngay cả thị trường nội địa cũng đòi hỏi chất lượng cao. Cho nên, trong khi chúng ta XK gạo phẩm cấp thấp, giá trị thấp thì gạo tốt của Thái Lan, Campuchia có cơ hội xâm nhập dễ dàng ở các tỉnh biên giới và đô thị lớn trong nước, và bán với giá cao hơn

'Người khổng lồ' chân đất sét - Kỳ 5: Gạo xuất rẻ, bán trong nước đắt - ảnh 3
TS Trần Văn Đạt, chuyên gia ngành lương thực

TS Trần Văn Đạt,  chuyên gia ngành lương thực phân tích: “Chúng ta chỉ chăm chăm trồng lúa nhằm XK gạo và đặc biệt quan tâm đến số lượng hơn là chất lượng mà quên rằng, ngay cả thị trường nội địa cũng đòi hỏi chất lượng cao. Cho nên, trong khi chúng ta XK gạo phẩm cấp thấp, giá trị thấp thì gạo tốt của Thái Lan, Campuchia có cơ hội xâm nhập dễ dàng ở các tỉnh biên giới và đô thị lớn trong nước, và bán với giá cao hơn”.

Cụ thể hơn, GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia lâu năm trong ngành nông nghiệp chỉ rõ những bất cập đang diễn ra của ngành lúa gạo: “Hiện nay các tỉnh ĐBSCL đang sử dụng trên 100 giống lúa, do vậy, rất khó đáp ứng đồng bộ về chủng loại và phẩm cấp của hàng XK quy mô lớn. Trong khi đó Thái Lan chỉ trồng khoảng 2 – 3 giống. Bộ Thương mại nước này ký hợp đồng với nông dân và họ phải đưa sản phẩm trồng trọt của mình đến Bộ kiểm định xem có đúng với giống lúa như hợp đồng hay không. Cho nên VN muốn xây dựng thương hiệu cho gạo Việt, nâng cao giá trị hạt gạo thì phải xem xét kỹ nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng tại thị trường tiêu thụ. Ví dụ, đối với thị trường Philippines, không cần gạo thượng hạng và cao cấp thì xem họ muốn loại gạo gì mình đáp ứng loại gạo đó. Thị trường Trung Đông cần gạo ngon, thơm thì mình đáp ứng sản phẩm đúng yêu cầu. Các nhà khoa học trong nước sẽ sản xuất giống và quy trình trồng trọt cho nông dân”.

Cũng vì chạy theo số lượng trong khi dự báo thiếu chính xác, những năm gần đây thị trường trong nước luôn rơi vào tình trạng đối mặt với việc ế lúa, gạo. Theo Hiệp hội Lương thực VN (VFA), kết quả XK gạo trong tháng 9.2014 chỉ đạt 545.362 tấn, không  hoàn thành  kế hoạch  đề  ra  là  650.000  tấn. Tính chung 9 tháng, lượng gạo XK đạt 4,7 triệu tấn, trị giá 2,07 tỉ USD. So với cùng kỳ năm 2013 số lượng giảm 7,81%, trị giá FOB giảm 7,2%. Dự báo năm 2015 tiếp tục  sẽ là một năm rất khó khăn cho các nước sản xuất và XK gạo do nguồn cung cấp dồi dào và nhất là sự cạnh tranh của gạo Thái Lan.

Với những chuyển biến như vậy, thị trường Trung Quốc đang dẫn đầu khi chiếm tới 35,17% lượng gạo XK của VN. Trong khi đó, một lãnh đạo Bộ NN-PTNT đã cảnh báo nguy cơ khi chúng ta ngày càng phụ thuộc vào thị trường này: “Nếu có bất ổn xảy ra thì thương mại gạo cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây cũng là điều VN cần quan tâm vì không chỉ đối với XK gạo mà còn đối với nhập khẩu đầu vào khi phần lớn vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc cũng nhập chủ yếu từ Trung Quốc”.

“Vựa lúa” của thế giới đã tìm cho mình một thế đứng quá rủi ro.

Quang Thuần

>> ‘Người khổng lồ’ chân đất sét
>> Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 2: Dệt may ‘lượm’ bạc cắc
>> Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 3: Công nghiệp điện tử vay mượn
>> ‘Người khổng lồ’ chân đất sét – Kỳ 4: Cà phê nhiều nhưng không tinh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s