Chiến dịch đánh lừa quốc tế của Trung Quốc về biển Đông – 2 kỳ

01/06/2015 16:49 GMT+7

TTO –  Chiến lược “pháp lý” của Trung Quốc khi đòi chủ quyền trên biển Đông là lập luận “Bắc Kinh có chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi”. Tuy nhiên hầu như Trung Quốc chẳng có bằng chứng lịch sử nào.

Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp năm 1974 - Ảnh: PhilStar
Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp năm 1974 – Ảnh: PhilStar

Trong bài viết với tựa đề Fact, fiction and the South China sea (Sự thật, hư cấu và biển Đông) trên tờ Asia Sentinel​, nhà báo BBC kỳ cựu Bill Hayton nhận định chiến lược “pháp lý” của Trung Quốc khi đòi chủ quyền trên biển Đông là lập luận “Bắc Kinh có chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi”.

Tuy nhiên trên thực tế hầu như chẳng có bằng chứng lịch sử nào cho thấy Trung Quốc từng kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông trong quá khứ.

Nhà báo Bill Hayton cho biết một số tài liệu ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông chủ yếu dựa vào “bằng chứng lịch sử” từ một số nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Anh trong thập niên 1970.

Đó là cuốn Contest for the South China sea (Cạnh tranh ở Nam Hải) của các tác giả Hungdah Chiu, Choo Ho Park, Marwyn Samuels, China’s ocean frontier (Biên giới biển của Trung Quốc) của Greg Austin. Còn phải kể đến hai tài liệu do tác giả Jianmeng Shen xuất bản năm 1997 và 2002.

Trang Google Scholar thống kê 73 tài liệu nghiên cứu về biển Đông trích lại sách của Chiu và Park. Có tới 143 nghiên cứu khác trích dẫn sách của Samuels. Nghiên cứu của các tác giả Jianmen Shen hay Chi Kin Lo trích dẫn rất nhiều thông tin từ các sách này, đồng thời lại được các tài liệu khác trích dẫn lại hàng trăm lần.

Đây là những tài liệu tiếng Anh thuộc vào loại đầu tiên giải thích cho độc giả nói tiếng Anh về lịch sử tranh chấp biển Đông nhưng đều có những điểm sai sót chung không thể chấp nhận được. Điều nguy hiểm là chúng trở thành nguồn tài liệu tham khảo cho chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới.

Sau khi chiếm quần đảo Hoàng Sa bất hợp pháp vào năm 1974, Trung Quốc bắt đầu mở chiến dịch đánh lừa dư luận quốc tế về “chủ quyền” tưởng tượng của nước này trên biển Đông – Ảnh: AFP

Những ấn phẩm đầu tiên

Những tài liệu tiếng Anh đầu tiên về tranh chấp chủ quyền biển Đông xuất hiện ngay sau cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974, khi quân đội Trung Quốc xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa do chính quyền Việt Nam cộng hòa kiểm soát.

Các phân tích đầu tiên do tạp chí Far Eastern Economic Review đăng là của tác giả Cheng Huan, khi đó là một sinh viên luật người Malaysia gốc Hoa sống ở London (Anh). Hiện ông Cheng Huan là một chuyên gia luật có tiếng ở Hong Kong.

Khi đó ông Cheng Huan viết: “Chủ quyền lịch sử của Trung Quốc đối với Tây Sa được chứng minh một cách đầy đủ bằng tài liệu lịch sử, bắt nguồn từ quá khứ cổ đại. Không quốc gia nào khác có thể chống lại được đòi hỏi chủ quyền này”.

Phán quyết của một sinh viên non nớt được tác giả Chi Kin Lo trích dẫn hùng hồn như một chân lý trong cuốn sách China’s policy toward territorial disputes(Chính sách của Trung Quốc đối với các tranh chấp lãnh thổ) năm 1989.

Các nghiên cứu học thuật xuất hiện đầu tiên vào năm 1975, bao gồm tài liệu của tác giả Tao Cheng do tạp chí Luật quốc tế Texas đăng và tác phẩm của Chiu và Park. Một năm sau đó, Viện Nghiên cứu châu Á ở Hamburg (Đức) đăng bài viết của học giả Đức Dieter Heinzig.

Tài liệu của Tao Cheng chủ yếu dựa vào các nguồn tham khảo từ Trung Quốc, bao gồm các tạp chí thương mại xuất bản vào thập niên 1930 như Tin tức đối ngoại hay Tạp chíTân Á ở Thượng Hải, Minh báo của Hong Kong, Tạp chí Tin quốc gia, Nhân Dân Nhật Báo

Tao Cheng không hề trích dẫn bất kỳ tài liệu tham khảo nào của Pháp, Việt Nam hay Philippines. Sách của Chiu và Park cũng dựa vào các nguồn tương tự, trong đó có cả báo do Chính phủ Trung Quốc xuất bản.

Bài viết của Dieter Heinzig cũng dựa vào nguồn báo chí Hong Kong. Các nguồn thông tin này đều là của Trung Quốc, do đó rất thiên kiến. Lẽ ra các tác giả cần kiểm chứng chúng trước khi sử dụng nhưng họ không hề làm như vậy.

Đều thân Trung Quốc

Rồi đến lượt cuốn Contest for the South China sea của Marwyn Samuels cũng mắc phải các lỗi tương tự. Bản thân Samuels cũng thừa nhận ông ta thiên về Trung Quốc và chủ yếu lấy tài liệu tham khảo từ Đài Loan.

Cuối thập niên 1990, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ Daniel Dzurek viết bài nghiên cứu cho ĐH Durham và học giả Úc Greg Austin xuất bản một cuốn sách về đề tài biển Đông.

Bài viết của Dzurek và sách của Austin đều dẫn nguồn tham khảo từ tài liệu của Samuels, Chiu, Park và một tài liệu của Bộ Ngoại giao Trung Quốc với tựa đề “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa”.

Một tác giả có ảnh hưởng sau đó là giáo sư luật Mỹ gốc Hoa Jiangmin Shen thuộc Trường Luật ĐH St. John ở New York. Năm 1997 tạp chí Hastings International and Comperative Law Review đăng bài phân tích của Shen về “chủ quyền Trung Quốc” trên biển Đông. Sau đó Tạp chí Luật quốc tế Trung Quốc đăng một bài khác tương tự của Shen.

Nhà báo Bill Hayton bình luận việc nhiều tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ về biển Đông đều là sản phẩm do Trung Quốc xuất bản là điều rất đáng buồn.

Và tất cả các tác giả trên đều không phải là chuyên gia về lịch sử hàng hải biển Đông.

Họ hoàn toàn không thẩm định mà sử dụng tự do các tài liệu tham khảo mù mờ, thiếu giá trị.

Hai bài viết này được các tài liệu khác trích dẫn hàng trăm lần. Tuy nhiên phân tích kỹ thì thấy các bài viết của Shen cũng đều dựa vào các nguồn không đáng tin cậy. Một là cuốn sách Luật quốc tế của tác giả Duanmu Zheng do NXB ĐH Bắc Kinh xuất bản năm 1989.

Duanmu Zheng thực tế là một quan chức cấp cao của Chính phủ Trung Quốc, đương nhiên phải có quan điểm ủng hộ Trung Quốc. Các tài liệu tham khảo khác của Shen là tài liệu do Tổng cục Hải dương Trung Quốc xuất bản.

Cheng, Chiu và Shen đều là người Trung Quốc. Còn Samuels và Heinzig đều là học giả có nhiều năm sống và làm việc tại Trung Quốc, có quan hệ thân cận với chính quyền Trung Quốc.

Các bằng chứng yếu ớt

Không có gì ngạc nhiên khi các tài liệu tiếng Anh về xung đột biển Đông do tác giả Trung Quốc viết, dựa vào nguồn tham khảo từ Trung Quốc, lại có quan điểm thiên về Trung Quốc.

Những kết luận của Cheng, Chiu và Park như “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông được rất nhiều nghiên cứu quốc tế hiện nay trích dẫn lại.

Nhưng rõ ràng là chúng không đáng tin cậy bởi nguồn tài liệu tham khảo của chúng rất mù mờ và ít giá trị. Các tác giả Cheng, Chiu, Park, Shen và Samuels đều có nhận định chung rằng Trung Quốc luôn kiểm soát biển Đông từ nhiều thế kỷ qua.

Nhưng trên thực tế nghiên cứu của các sử gia nổi tiếng như Leonard Blussé, Derek Heng, Pierre-Yves Manguin, Roderich Ptak, Angela Schottenhammer, Li Tana, Nicholas Tarling và Geoff Wade phản ánh quan điểm hoàn toàn trái ngược.

Các tàu thương nhân Trung Quốc hầu như không hoạt động trong thương mại hàng hải ở biển Đông cho đến tận thế kỷ 10. Sau đó, tàu Trung Quốc cũng hoàn toàn không phải là thế lực chi phối hoạt động thương mại biển Đông.

 Nhà báo BBC kỳ cựu Bill Hayton viết

Thương nhân rất nhiều quốc gia, từ các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Ả Rập cho đến châu Âu mới là đối tượng hoạt động mạnh tại đây. Nghiên cứu của các sử gia François-Xavier Bonnet, Ulises Granados và Stein Tonnesson cho thấy tình hình đó kéo dài tới tận thế kỷ 20.

Các tài liệu đầu thế kỷ 20 cũng cho thấy Trung Hoa khi đó không đủ sức bảo vệ bờ biển nước mình, và hoàn toàn không hiện diện ở các vùng biển đảo cách bờ biển nước này hàng trăm hải lý. Hai bài báo đăng trên tờ The Times of London tháng 1-1908 cho biết chính quyền Trung Hoa không thể kiểm soát được nạn hải tặc ở Tây Giang tại Quảng Châu.

Năm 1909, báo Úc The Examiner đưa tin người nước ngoài tự do khai thác mỏ ở đảo Hải Nam mà không hề bị chính quyền địa phương ngăn chặn. Trên thực tế, các tài liệu lịch sử đáng tin cậy đều cho thấy Trung Quốc không hề có bất kỳ hoạt động đáng kể nào ở biển Đông cho tới tận giữa thế kỷ 20.

Chỉ từ năm 1909, khi doanh nhân Nhật Nishizawa Yoshiji đến đảo Pratas (Đông Sa, hiện do Đài Loan kiểm soát) thì phía Trung Quốc mới bắt đầu nhòm ngó các đảo ở biển Đông.

Mời bạn đọc xem kỳ sau: Các bằng chứng ngụy tạo của Trung Quốc ở biển Đông

BILL HAYTON 

HIẾU TRUNG lược dịch
*****

Các bằng chứng ngụy tạo của Trung Quốc ở biển Đông

02/06/2015 08:07 GMT+7

TTOKhông có các bằng chứng và tài liệu đáng tin cậy để chứng minh “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc trên biển Đông, các học giả và quan chức Trung Quốc chơi trò ngụy tạo bằng chứng.

Đảo Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng trái phép - Ảnh: Wikipedia
Đảo Ba Bình, đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng trái phép – Ảnh: Wikipedia

Nhà báo kỳ cựu của BBC Bill Hayton cho biết trong cuốn sách Contest for the South China sea (Cạnh tranh ở Nam Hải), tác giả Marwyn Samuels cho biết một bằng chứng của “chủ quyền” Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có xuất xứ từ năm 1883.

Chôn bia giả

Theo Samuels, triều đình nhà Thanh khi đó chính thức phản đối một chuyến đi thám hiểm của các chuyên gia Đức đến Trường Sa. Samuels trích nguồn tham khảo là bài báo trong tạp chí Minh báo số ra tháng 5-1974 mà không hề có bằng chứng nào khác.

Các tác giả Hungdah Chiu và Choo Ho Park cũng đưa ra lập luận tương tự. Sau đó, học giả Đức Dieter Heinzig dựa vào sách của Samuels để khẳng định rằng sau khi triều đình nhà Thanh lên tiếng phản đối, phái đoàn thám hiểm Đức đã rút khỏi Trường Sa.

Tuy nhiên trên thực tế đây là thông tin giả mạo. Các tài liệu lịch sử của Đức cho biết các nhà thám hiểm Đức vẽ bản đồ quần đảo Hoàng Sa chứ không phải là Trường Sa từ năm 1881-1883.

Họ hoàn thành chuyến thám hiểm và xuất bản bản đồ này. Một ấn phẩm bằng tiếng Pháp được xuất bản năm 1885.

Samuels lập luận rằng Công ước Pháp – Thanh 1887 do Chính phủ Pháp đàm phán với triều Thanh để phân chia đường biên giới Bắc kỳ (Việt Nam) với Trung Quốc là thỏa thuận quốc tế công nhận quyền kiểm soát các đảo trên biển Đông cho Bắc Kinh.

Điều 3 của Công ước Pháp – Thanh quả thật là công nhận các đảo phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ cho Trung Quốc.

Nhưng Samuels và các học giả khác vô tình (hay cố ý) không nhận ra rằng Công ước Pháp – Thanh được áp dụng đối với Bắc kỳ. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở xa tại phía Nam Việt Nam và hoàn toàn không nằm trong phạm vi bao trùm của Công ước Pháp – Thanh.

Các học giả Trung Quốc và thân Trung Quốc còn khẳng định quan chức triều Thanh chính thức công du đến quần đảo Hoàng Sa vào năm 1902 rồi trở lại vào năm 1908. Các tác giả Samuels, Greg Austin, Daniel Dzurek đều dựa vào nguồn của Minh báo để đưa ra kết luận này.

Còn Hungdah Chiu và Choo Ho Park cho rằng chuyến đi trở lại diễn ra vào năm 1907. Tuy nhiên tài liệu do một ủy ban ở tỉnh Quảng Đông xuất bản năm 1987 cho thấy tháng 6-1937, ông Huang Qiang, lãnh đạo Khu hành chính số 9 của Trung Quốc, đã bí mật đi thuyền tới quần đảo Hoàng Sa.

Thuyền của Huang Qiang chở theo 30 tấm bia đá, một số khắc năm 1902, một số là 1912 và số còn lại là 1921. Tại Đảo Bắc ở Hoàng Sa, đoàn Trung Quốc chôn hai tấm bia đá khắc năm 1902 và bốn bia khắc năm 1912.

Trên đảo Linh Côn họ chôn một bia khắc năm 1902, một bia khắc năm 1912 và một bia khắc năm 1921. Trên đảo Phú Lâm họ chôn hai bia khắc năm 1921. Và trên đảo Đá họ chôn một bia khắc năm 1912. Các tấm bia này bị lãng quên cho đến năm 1974.

Sau khi dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, quân đội Trung Quốc “phát hiện” các tấm bia này và báo chí nước này đồng loạt hò reo khẳng định “chủ quyền” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa. Và thế là chuyến công du chính thức 1902 tưởng tượng được đưa vào sử sách Trung Quốc như là chuyện có thật.

Tuy nhiên nhà địa lý học người Pháp Francois-Xavier Bonnet đã lột trần sự giả dối này. Trong nghiên cứu năm 1997, tác giả Jianmeng Shen cũng khẳng định năm 1932 chính quyền Trung Quốc xem xét lại tên các đảo ở biển Đông.

Nhưng các tài liệu của chính Trung Quốc cho thấy nước này chỉ đơn giản dịch tên quốc tế hoặc tên tiếng Anh của các đảo ra tiếng Hoa. Và Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý cho thấy triều đình nhà Nguyễn đã thực hiện chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất lâu trước khi Trung Quốc nhòm ngó biển Đông.

Lời phản đối tưởng tượng

Một lập luận mà các học giả Trung Quốc hay sử dụng để khẳng định “chủ quyền” đối với quần đảo Trường Sa là nước này chính thức phản đối việc Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ Việt Nam, khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa tháng 7-1933.

Tuy nhiên trên thực tế Trung Quốc không hề đưa ra bất kỳ lời phản đối chính thức nào. Trong nghiên cứu năm 1975, tác giả Tao Cheng dẫn nguồn một tờ báo Thượng Hải nói Trung Quốc chính thức phản đối Pháp vào năm 1935. Sau đó Chiu và Park cũng viết “có bằng chứng cho thấy Trung Quốc phản đối”.

Nhưng sau đó chính Chiu và Park thừa nhận ngày Trung Quốc gửi công hàm phản đối không tồn tại trong tài liệu nào, cũng không được ghi nhận trong Biên bản ghi nhớ về bốn quần đảo lớn của Trung Quốc ở Nam Hải do Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố tháng 2-1974.

Các tài liệu của Jianmeng Shen dẫn nguồn tham khảo của Tao Cheng cùng Chiu và Park, nhưng đều không đưa ra được bằng chứng cần thiết. Trên thực tế, học giả Pháp Francois-Xavier Bonnet tìm thấy tài liệu ở Mỹ cho thấy sau khi Pháp ra tuyên bố chủ quyền với Trường Sa, Trung Quốc đã không đưa ra lời phản đối chính thức nào.

Học giả Bonnet cho biết các tài liệu từ Trung Quốc cho thấy hội đồng quân sự nước này đã nhóm họp vào tháng 9-1933 và xác định quần đảo Trường Sa không thuộc chủ quyền của Trung Quốc nên không lên tiếng phản đối.

Sau đó, đến năm 1946 chính quyền Trung Quốc ghi vào tài liệu nhà nước rằng năm 1933 có lên tiếng phản đối chính thức như thể chuyện đó từng xảy ra. Nhưng sự thật là không hề có bất kỳ lời phản đối nào của Bắc Kinh.

Trong nghiên cứu năm 2002, Jianmeng Shen hùng hồn mô tả Trung Quốc đã tổ chức ba chuyến thăm dò quy mô lớn ở Trường Sa vào năm 1932, 1935 và 1947. Nhưng các tài liệu lịch sử cho thấy Trung Quốc chẳng hề tổ chức một cuộc thăm dò nào ở Trường Sa cả mà chỉ copy các tấm bản đồ quốc tế mà thôi. Nhưng rồi Trung Quốc vẫn cứ nhận vơ rằng Trường Sa là lãnh thổ cực nam của nước này.

Thêm những dối gạt

Bộ Ngoại giao Trung Quốc và các học giả nước này còn lập luận rằng trong Tuyên bố Cairo 1943, các nước đồng minh trao quyền kiểm soát các đảo trên biển Đông cho Trung Quốc.

Nhưng thực tế là Tuyên bố Cairo chỉ nhắc đến việc trục xuất lực lượng Nhật ra khỏi các vùng lãnh thổ bị họ chiếm đóng, chẳng có gì nói đến việc trao các vùng lãnh thổ này cho Trung Quốc.

Các tác giả Trung Quốc còn nhắc đến việc lực lượng Trung Quốc tiếp nhận sự đầu hàng của đơn vị đồn trú Nhật tại Hoàng Sa và Trường Sa sau Thế chiến II. Có ý kiến còn cho rằng quân đội Mỹ đã đưa lính Trung Quốc tới Hoàng Sa và Trường Sa để thực hiện việc tiếp nhận này.

Nhưng các tài liệu quân sự của Mỹ và Úc khẳng định đó cũng là những lập luận giả mạo. Trong Thế chiến II, Nhật có căn cứ quân sự ở đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa thuộc quần đảo Hoàng Sa cùng đảo Ba Bình ở Trường Sa. Tàu ngầm Mỹ USS Pargo bắn phá đảo Phú Lâm vào ngày 6-2-1945. Đến ngày 8-3 máy bay Mỹ ném bom cả đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa.

Một tàu ngầm khác của Mỹ là USS Cabrilla đến đảo Phú Lâm ngày 2-7. Máy bay Mỹ ném bom đảo Ba Bình ngày 1-5-1945. Sáu tháng sau, hải quân Mỹ đưa lực lượng do thám tới Ba Bình và phát hiện lực lượng Nhật đã rút đi.

Mãi đến tháng 12-1946, một đoàn Trung Quốc dùng tàu chiến đã cũ do Mỹ cho hải quân Trung Quốc mới mò đến đảo Ba Bình. Trên thực tế người Pháp đã đến Ba Bình hai tháng trước đó và tuyên bố chủ quyền ở đây nhưng chẳng tài liệu Trung Quốc nào nhắc đến sự kiện này.

Người Trung Quốc đổi tên đảo thành Taiping theo tên tàu Taiping chở họ. Trước đó tàu Taiping có tên là USS Decker khi còn phục vụ hải quân Mỹ.

Nhà báo Bill Hayton bình luận nếu Mỹ không cung cấp mấy tàu chiến cũ cho Trung Quốc thì Bắc Kinh đừng hòng lên giọng đòi chủ quyền Trường Sa một cách vô lý.

Với các phân tích trên, nhà báo Bill Hayton đánh giá trên thực tế Trung Quốc chẳng hề có chủ quyền lịch sử gì đối với biển Đông và hoàn toàn không kiểm soát vùng biển này trong nhiều thế kỷ, chính quyền Trung Quốc chỉ quan tâm đến biển Đông từ thế kỷ 20.

Và các tài liệu tiếng Anh do Trung Quốc xuất bản và công bố dù được giới học giả phương Tây nghiên cứu và tham khảo, nhưng đều dựa trên những bằng chứng ngụy tạo, vô căn cứ, mù mờ.

Điều đáng tiếc là nhiều ấn phẩm phương Tây đã trích dẫn các tài liệu thiếu thuyết phục này, khiến nhiều người tưởng nhầm đó là sự thật.

“Không thể cổ vũ cho đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc dựa trên những bằng chứng vô căn cứ như vậy” – nhà báo Bill Hayton nhấn mạnh.

Đọc kỳ trước: Chiến dịch đánh lừa quốc tế của Trung Quốc về biển Đông

HIẾU TRUNG

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s