Khí hậu hay Kinh tế? Những nỗ lực của Việt Nam để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và Môi trường

Tác giả: Rabea Brauer | Vu Dang Tuan

Mặc dù Việt Nam đã có khung chính sách rất toàn diện về năng lượng và khí hậu nhưng vẫn còn những quan ngại có cơ sở về mức độ thực tế của chiến lược này cũng như sự phù hợp của chiến lược đối với phát triển kinh tế. Điều này được phản ánh trong các chính sách hiện tại về khí hậu và năng lượng. Ngay lúc này thì Việt Nam chưa thể hoàn toàn theo đuổi mục tiêu cân bằng giữa một chính sách khí hậu hiệu quả với một nền kinh tế các-bon thấp bởi vì mục tiêu đó không phù hợp với tình hình phát triển hiện tại của ngành năng lượng Việt Nam. Cục Thương mại và Đầu tư Đức cho biết, ngược lại với chính sách năng lượng của Đức, Việt Nam coi việc xây dựng các nhà máy than điện là ưu tiên hàng đầu, bất chấp thực tế là quốc gia này có tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo (như thuỷ điện, năng lượng sinh khối, năng lượng hạt nhân).

KHÍ HẬU HAY KINH TẾ? NHỮNG NỖ LỰC CỦA VIỆT NAM ĐỂ CÂN BẰNG GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế và việc thực thi quyết liệt một chính sách về khí hậu có thể đạt được sự cân bằng như thế nào? Tất cả các nước trên thế giới đều đang đối mặt với vấn đề khó khăn này và đang cố gắng giải quyết nó bằng mối quan hệ qua lại giữa các chính sách về kinh tế và khí hậu. Chính phủ Việt Nam, cũng giống như nhiều quốc gia khác, đang xử lý vấn đề này một cách nghiêm túc, và hiểu rằng biến đổi khí hậu sẽ gây tác động đến quá trình phát triển kinh tế trong nước. Chính vì thế, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã xây dựng thành công khung chính sách về khí hậu nhằm tối thiểu hoá các tác dộng có hại của biến đổi khí hậu đối với sự phát triển kinh tế. Chương trình mục tiêu quốc gia về phản ứng với biến đổi khí hậu (NTP-RCC) với nội dung bám sát với các quy định quốc tế về khí hậu và tạo ra một khuôn khổ cho các chính sách khí hậu của Việt Nam đã được thông qua vào ngày 2/12/2008. Uỷ ban quốc gia về biến đổi khí hậu được thành lập ngày 9/11/2011 và được giao nhiệm vụ xây dựng một chiến lược cụ thể về khí hậu. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu này đã được xây dựng, sẽ được thông qua trước tháng 12 và sẽ được triển khai đến năm 2050.

CHIẾN LƯỢC KHÍ HẬU VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Chiến lược hiện tại về khí hậu chứa đựng nhiều mục tiêu tham vọng và có tính đến những con đường khác nhau mà biến đổi khí hậu có thể tác động đến phát triển kinh tế. Các hoạt động kinh tế sẽ biến đổi theo hướng đòi hỏi nhu cầu năng lượng ít hơn và giảm đáng kể việc tiêu thụ năng lượng. Các lĩnh vực xây dựng và công nghiệp là trọng tâm của mục tiêu làm cho 90% các nhà máy công nghiệp trở nên thân thiện hơn với môi trường trong việc tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu trước năm 2020.

Ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp khoảng 39% GDP của Việt Nam (đạt 155,8 tỷ đô la Mỹ vào năm 2012) và 52,5% lượng điện tiêu thụ toàn quốc. Điều này có nghĩa là hai ngành này không chỉ là các trụ cột quan trọng của kinh tế Việt Nam mà còn đồng thời là các ngành cần nhiều năng lượng nhất của nền kinh tế. Một mục tiêu khác là gia tăng tỷ lệ năng lượng có khả năng tái tạo trong sản xuất điện năng từ 3% hiện tại lên 4,5% trước năm 2020 và 6% trước năm 2030.

Về nguyên tắc, chính sách khí hậu của Việt Nam không mâu thuẫn với chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia đến năm 2020. Theo chiến lược này, Việt Nam đặt mục tiêu tham vọng trở thành quốc gia công nghiệp hoá trước năm 2020. Đồng thời chiến lược cũng đưa ra khuyến nghị cắt giảm lượng năng lượng tiêu thụ từ 2,5-3%, và các công ty thành lập mới cũng như các nhà máy sản xuất sử dụng các công nghệ “sạch” mà các kế hoạch phát triển của Việt Nam có kết nối chặt chẽ với các biện pháp nhằm bảo vệ môi trường khí hậu và tiết kiệm năng lượng.

CHÍNH SÁCH NĂNG LƯỢNG: THAN VÀ NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN

Mặc dù Việt Nam đã có khung chính sách rất toàn diện về năng lượng và khí hậu nhưng vẫn còn những quan ngại có cơ sở về tính thực tế của các chiến lược này cũng như sự phù hợp của nó đối với vấn đề phát triển kinh tế. Điều này được phản ánh trong các chính sách hiện tại về khí hậu và năng lượng. Ngay lúc này thì Việt Nam chưa thể hoàn toàn theo đuổi mục tiêu cân bằng giữa một chính sách khí hậu hiệu quả với một nền kinh tế các-bon thấp bởi vì mục tiêu đó không phù hợp với tình hình phát triển hiện tại của ngành năng lượng Việt Nam. Cục Thương mại và Đầu tư Đức cho biết, ngược lại với chính sách năng lượng của Đức, Việt Nam coi việc xây dựng các nhà máy than điện là ưu tiên hàng đầu, bất chấp thực tế là quốc gia này có tiềm năng rất lớn trong lĩnh vực năng lượng tái tạo (như thuỷ điện, năng lượng sinh khối , năng lượng hạt nhân).

Than, khí ga và dầu hiện đang duy trì đúng lộ trình tiến tới chiếm tỉ lệ 72,4% nguồn cung điện của Việt nam trước năm 2020 (tỉ lệ này trong năm 2012 là 53,8%). Ý tưởng sử dụng các loại năng lượng hoá thạch sẽ giúp đáp ứng nhu cầu năng lượng của Việt Nam vốn đã ở mức cao và còn đang tiếp tục gia tăng. Bộ Công Thương Việt Nam ước tính rằng lượng điện tiêu thụ sẽ tăng trung bình 9,3% đến năm 2020. Tỉ lệ các loại năng lượng không có khả năng tái tạo trong nguồn cung điện đang tăng lên cao hơn tỉ lệ của các loại năng lượng có khả năng tái tạo là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy chiến lược về khí hậu hiện thời không có khả năng triển khai theo kế hoạch và nó đang đi chệch khỏi chiến lược phát triển ban đầu. Điều này khớp với quyết định hoãn thi công nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận vốn được quy hoạch đến năm 2020 do thiếu khuôn khổ và các điều kiện an toàn. Ba mươi nhà máy điện hạt nhân nữa cũng được dự kiến xây dựng trước 2030, tuy nhiên có vẻ các dự án này cũng sẽ bị hoãn lại.

Nguyên nhân của vấn đề này nằm ở tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong vài thập niên qua. Khi công cuộc đổi mới được thực hiện vào năm 1986, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu tăng trưởng rất nhanh. Cho đến năm 2007, tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mức từ 7-8%. Tuy nhiên, sau năm 2008 mọi thứ đã hạ nhiệt. Quốc gia này trải qua vài năm bất ổn kinh tế vĩ mô, khủng hoảng tài chính ngân hàng gây ra những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế. Mặc dù sau đó đã có sự phục hồi trở lại trong hai năm qua, nền kinh tế Việt Nam này vẫn còn một chặng đường dài để đi đến mục tiêu đặt ra ban đầu của nó. Giai đoạn tăng trưởng thấp ở mức khoảng 5% đã khiến quốc gia này không đạt được mục tiêu kinh tế đặt ra trong kế hoạch phát triển. Tăng trưởng kinh tế yếu làm gia tăng sức ép chính trị lên chính quyền. Do đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện đang rất quan tâm đến việc làm thế nào để quốc gia lấy lại đà tăng trưởng trước đây. Và vì thế trọng tâm trong trung hạn và ngắn hạn là phát triển kinh tế.

Từ quan điểm chính trị, điều này không có gì đáng ngạc nhiên trong bối cảnh sự ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu đến từ kết quả tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam trong vài thập niên qua. Thức tỉnh từ cuộc khủng hoảng kinh tế, chính phủ Việt Nam không những phải thực thi các chính sách kinh tế hiệu quả mà còn phải đưa ra những chính sách năng lượng hỗ trợ cho nền kinh tế, ví dụ như chủ trương sử dụng than. Dân chúng hiện không gây sức ép lên chính phủ đối với các chính sách về năng lượng và khí hậu vì họ cũng đang đặt ưu tiên hàng đầu vào vấn đề phát triển kinh tế.

Hội nhà báo Việt Nam cho biết trong khi thông tin về những vấn đề liên quan đến khí hậu đang tăng dần thì truyền thông và sự quan tâm của dư luận đối với các vấn đề này vẫn còn đang ở giai đoạn bắt đầu. Điều này nghĩa là chính phủ hiện không có lợi ích để theo đuổi các chính sách về năng lượng và khí hậu một cách đủ kiên trì để có thể thật sự đạt được các mục tiêu đề ra. Điều này cho thấy điểm yếu trong chiến lược về khí hậu của Việt Nam. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã nhận ra các cơ hội kinh tế dài hạn mà một chính sách năng lượng và khí hậu tiến bộ có thể đem lại, nhưng những sai lầm trong việc đánh giá kinh tế đã dẫn đến những kỳ vọng quá mức và do đó tạo ra một chiến lược về khí hậu không thực tế.. Các kế hoạch ban đầu giả định tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 7-8% đến năm 2020. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng trong 3 năm vừa qua chỉ đạt 5,6%. Thậm chí tại thời điểm Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu được quyết định, rõ ràng là nền kinh tế không thể phục hồi quá nhanh và quốc gia này dường như không thể đạt được mục tiêu kinh tế đặt ra trong chiến lược phát triển trước năm 2020. Do đó, Việt Nam không thể thực thi chính sách về năng lượng và khí hậu theo kế hoạch bởi vì chính sách đó dựa trên nền tảng những điều kiện không còn tính thực tế.

Tài liệu tham khảo:
1 | Soc. Rep. Vietnam, Ministry of Natural Resources and Environment, “National Target Programme to Respond to
Climate Change (NTP-RCC)”, 3 December 2007, http://bit.ly/1u3Pjdq%5B31 July 2014]
2 | Soc. Rep. Vietnam, Government Portal, “National strategy on climate change”, 5 December 2011,http://chinhphu.vn/portal/page/portal/English/strategies/strategiesdetails?categoryId=30&articleId=10051283%5B31 July 2014]
3 | The World Bank, “Vietnam”, 10 May 2014,http://dataworldbank.org/country/vietnam%5B31 July 2014]
4 | Thomas Hundt, “Vietnam leitet ‘Energiewende‛ zur Kohle ein” (Vietnam initiates energy transition to coal), German Trade & Invest, 9 May 2014, http://bit.ly/1qNx26z%5B31 July 2014]
5 | VientamEnergy, “National Master Plan for Power Development for the 2011 – 2020 Period with the Vision to 2030”, 8 March 2014, p. 2,http://nangluongvietnam.vn/news/en/policy-planning/national-master-plan-forpower-development-for-the-2011-2020-period-with-thevision-to-2030.html%5B31 July 2014]
6 | Soc. Rep. Vietnam, Government Portal, “Vietnam′s Socio-economic development strategy 2011 – 2020”, 8 November 2011, http://bit.ly/XkgENO%5B31 July 2014]
7 | Hundt, n 4
8 | Hundt, n 4
9 | N 6
10 | The World Bank, “GDP growth (annual %)”,http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG/countries [28 July 2014]

Trích từ: CLIMATE REPORT 2014 ENERGY SECURITY AND CLIMATE CHANGE WORLDWIDE

(1) GDP – Tổng sản phẩm kinh tế quốc nội.

(2) Low-carbon economy (LCE) hay Low-fossil-fuel economy (LFFE), được dịch là nền kinh tế các-bon thấp hay nền kinh tế ít sử dụng năng lượng hoá ,thạch là thuật ngữ dùng để mô tả các nền kinh tế sử dụng các nguồn năng lượng ít các-bon, do đó tạo ra lượng phát thải khí nhà kính (greenhouse gas – GHG) tối thiểu ra môi trường, ở đây chủ yếu liên quan đến khí nhà kính CO2. Sự gia tăng khí nhà kính sinh ra do các hoạt động của con người gây ra biến đổi khí hậu (hiện tượng nóng lên toàn cầu) hoặc khiến môi trường trở nên xấu đi. Khái niệm nền kinh tế các-bon thấp do đó được định nghĩa như một cách thức để tránh các thảm hoạ môi trường và là dấu hiệu của một nền kinh tế hiện đại không các-bon. (theo https://en.wikipedia.org/wiki/Low-carbon_economy).

(3) Biomass, được dịch là năng lượng sinh khối, là dạng vật liệu sinh học từ sự sống, hay gần đây là sinh vật sống, đa số là các cây trồng hay vật liệu có nguồn gốc từ thực vật.[1] Được xem là nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối có thể dùng trực tiếp, gián tiếp một lần hay chuyển thành dạng năng lượng khác như nhiên liệu sinh học. Sinh khối có thể chuyển thành năng lượng theo ba cách: chuyển đổi nhiệt, chuyển đổi hóa học, và chuyển đổi sinh hóa.
(theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Sinh_kh%E1%BB%91i).

Dịch bởi: Phương Hạnh, sinh viên thạc sĩ về Kinh tế thương mại tại Đại học Queensland, Úc

One thought on “Khí hậu hay Kinh tế? Những nỗ lực của Việt Nam để cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và Môi trường

  1. Mình không hiểu được luận lý “Muốn tăng trưởng kinh tế nhanh thì phải lệ thuộc vào năng lượng hóa thạnh, đặc biệt là than và dầu lửa.”

    Trong đường dài năng lượng tái tạo phải rẻ hơn tất cả mọi loại năng lượng khác, vì đó là nguồn tài nguyên không cạn kiệt. VN là một quốc gia vừa có nhiều nắng vừa có nhiều gió, đầu tư vào đó thì không phải là thúc đẩy phát triển kinh tế trường kỳ sao?

    Tai ương lũ lụt với chất thải than ở Cẩm Phả vừa rồi chưa đủ là một bài học về cái giá môi trường và sức khỏe phải trả cho than hay sao?

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s