Nam Tây Nguyên, một góc nhìn văn hóa ( 3 kỳ)

Cập nhật lúc 09:33, Thứ Năm, 23/08/2012 (GMT+7)

Kỳ I: Dòng chảy của… đá

(LĐ online) – Nói đến vùng đất Lâm Đồng – Nam Tây Nguyên – là nói đến một vùng văn hóa đa bản sắc của các tộc người thiểu số bản địa với những yếu tố văn hóa đan xen và giao hòa giữa dòng văn hóa bản địa truyền thống với văn hóa hiện đại của Việt Nam và thế giới. Từ buổi bình minh của lịch sử, văn hóa của vùng đất Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng – đã định hình là một bộ phận khăng khít và cùng tiến triển với văn hóa Việt Nam; trong đó, những hiện vật bằng đá được tìm thấy trong thời gian gần đây là một trong những vấn đề rất đáng lưu ý.

Nhiều hiện vật bằng đá được phát hiện

Theo ghi nhận của các nhà khoa học, Nam Tây Nguyên cùng với Tây Nguyên là vùng đất khá giàu có về văn hóa truyền thống của các tộc người bản địa. Sự “giàu có” ấy được tạo hợp từ những đặc trưng văn hóa riêng của mỗi tộc người; và ngược lại, mỗi sắc dân lại giữ riêng cho mình nét đặc trưng văn hóa không trộn lẫn như là một thế mạnh không thể phủ nhận được. Nét riêng trong nền văn hóa chung ấy của Nam Tây Nguyên đã tạo nên dòng chảy xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại và tương lai không trộn lẫn, không hòa tan nhưng không hề dị biệt.

Đàn đá Di Linh hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lâm Đồng
Đàn đá Di Linh hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lâm Đồng

Các nhà khoa học ghi nhận rằng, kể từ khi có con người sinh sống trên vùng đất Nam Tây Nguyên cũng chính là sự bắt đầu của quá trình hình thành và phát triển của một dòng văn hóa bản địa với hình thức sơ khai của thời kỳ đồ đá cũ.

Gần đây nhất (4.2012), việc phát hiện những chiếc rìu đá ở Đà Loan (Đức Trọng, Lâm Đồng) một lần nữa nhắc nhớ đến “nền văn minh đồ đá” của cổ dân Nam Tây Nguyên. Cụ thể, hồi tháng 4.2012, Bảo tàng Lâm Đồng đã tiếp nhận một bộ rìu đá 3 chiếc của một hộ dân trú tại thôn Ma Am, xã Đà Loan, huyện Đức Trọng trao tặng. Thông tin ban đầu cho biết: Ông Ya Canh (người Churu) trong lúc san đất làm vườn đã phát hiện bộ rìu đá 3 chiếc nói trên ngay trên mảnh đất mà mình đang canh tác. 3 chiếc rìu này có độ dài khoảng 10cm và chiều ngang gần 6cm; được mài nhẵn, có độ dày khoảng 4cm từ phía chuôi và mỏng dần về phía lưỡi. Hiện vẫn không có nhiều thông tin khoa học về ba chiếc rìu đá phát hiện mới nhất này ở Lâm Đồng.

Từ những nghiên cứu khoa học gần đây, các chuyên gia khảo cổ học đã ghi nhận ở Lâm Đồng một “nền văn minh đồ đá” tại các di chỉ khảo cổ học Đạ Đờng (huyện Lâm Hà), đồi Giàng (Bảo Lộc), Pró (Đơn Dương)… với không ít công cụ sản xuất và sinh hoạt bằng đá thô sơ phản ánh quá trình hoạt động văn hóa sơ khai của bình minh lịch sử Nam Tây Nguyên. Cũng theo các nhà khoa học, dấu tích của những hoạt động khai phá vùng rừng núi Nam Tây Nguyên của người tiền sử qua các công cụ bằng đá đã được tìm thấy trên một địa bàn trải dài từ vùng núi cao Lạc Dương, Đơn Dương, Lâm Hà (trên 1.000m so với mực nước biển) đến khu vực có độ cao trung bình Di Linh, Bảo Lộc (trên 800m) và chạy xuôi xuống vùng thấp Đạ Tẻh, Cát Tiên (400m). Một trong những dấu tích tiêu biểu của những hoạt động đó là chiếc rìu được chế tác từ cuội vàng hình bầu dục lần đầu tiên được phát hiện tại khu vực Thung lũng Tình Yêu (Đà Lạt).

Goòng lú – hiện vật đá tiêu biểu

Không chỉ dụng cụ lao động và sinh hoạt bằng đá mà ở Lâm Đồng – Nam Tây Nguyên – còn có những thạch cầm (goòng lú, đàn đá) rất có giá trị được các nhà khoa học khảo cổ phát hiện trong nhiều năm qua. Trước tiên, phải kể đến bộ “đá kêu” được nhà dân tộc học người Pháp – GS Georges Condominas – có tên là đàn đá Nduliêng Krat gồm 11 thanh phát hiện vào năm 1949 tại vùng Đam Rông, Lâm Đồng (nay thuộc tỉnh Đắc Nông). “Goòng lú Nduliêng Krat là bộ đàn đá tiền sử đầu tiên trên thế giới được tìm thấy tại Nam Tây Nguyên của Việt Nam” – GS Trần Văn Khê, một giáo sư hàng đầu về nghiên cứu âm nhạc của Việt Nam, khẳng định.

Cho đến lúc này, ai cũng phải công nhận rằng Lâm Đồng – Nam Tây Nguyên – chính là một trong những cái nôi của đàn đá cổ của Việt Nam. Vùng đất Nam Tây Nguyên không những là nơi phát hiện bộ đàn đá cổ đầu tiên của loài người (bộ đàn đá Nduliêng Krat hiện được trưng bày tại Bảo tàng Con Người ở Paris) mà còn là nơi phát hiện nhiều nhất các bộ sưu tập đàn đá của Việt Nam. Ngoài bộ đàn đá Nduliêng Krat, hiện Bảo tàng Lâm Đồng là đơn vị đã phát hiện, sưu tầm và lưu giữ được 6 bộ đàn đá cổ – nhiều nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Trong đó, có không ít bộ được xem là có giá trị rất cao về nhiều mặt, nhất là các giá trị về khoa học. “Lâm Đồng là nơi phát hiện được nhiều đàn đá nhất Việt Nam. Phải chăng đây chính là chiếc nôi của đàn đá?” – Phó GĐ Bảo tàng Lâm Đồng, bà Đoàn Bích Ngọ, đặt câu hỏi. Còn với chúng tôi, qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi cho rằng với những phát hiện về “đá kêu” ở Lâm Đồng trong nhiều năm qua, bước đầu, các nhà khoa học đã làm hé lộ một nền văn hóa cự thạch (cuối thời kỳ đá mới) của cư dân bản địa Nam Tây Nguyên. Đặc biệt, điều đáng lưu ý là, ngoài bộ đàn đá Nduliêng Krat với các giá trị “không thể bàn cãi” thì với các bộ đàn đá còn lại của Lâm Đồng, các nhà khoa học chuyên ngành của Việt Nam đã khẳng định hai sưu tập đàn đá Sơn Điền và Liên Đầm là hai sưu tập đàn đá có niên đại cách nay trên dưới 3.000 năm. Có thể nói, những thanh “đá kêu” (goòng lú) được phát hiện từ trước đến nay ở Lâm Đồng luôn không tách rời nguồn cội lịch sử của vùng đất nằm ở phía tận cùng nam dãy Trường Sơn. Những sưu tập đàn đá ấy không những chỉ thể hiện rõ bản sắc văn hóa tộc người của các tộc người thiểu số bản địa Nam Tây Nguyên mà còn là minh chứng cho một giai đoạn bình minh lịch sử (hiện vật có niên đại cách nay từ 3.500 đến 3.000 năm) của các tộc người Nam Tây Nguyên.

Bức tranh mô phỏng cuộc sống người tiền sử ở Nam Tây Nguyên tại Bảo tàng Lâm Đồng
Bức tranh mô phỏng cuộc sống người tiền sử ở Nam Tây Nguyên tại Bảo tàng Lâm Đồng

Cũng nằm trong “dòng chảy văn hóa đồ đá”, bất ngờ nối tiếp là một bí ẩn hiện đang được các nhà khoa học tìm cách giải mã: Từ những phát hiện đó, các nhà khoa học đang đặt ra vấn đề có hay không một xưởng chế tác dụng cụ bằng đá tại vùng Di Linh? Cụ thể, các nhà khoa học đặt câu hỏi “có hay không một xưởng chế tác đá” là bởi tại di chỉ đồi Tân Nghĩa (Di Linh), những thanh đàn đá được phát hiện cùng với hiện trường lại mang dáng dấp một di chỉ xưởng.

Có thể nói, trong dòng chảy văn hóa bản địa Nam Tây Nguyên trong lịch sử, đá là một “dòng chảy” xuyên suốt rất đáng được lưu tâm nghiên cứu.

Khắc Dũng

Cập nhật lúc 13:58, Thứ Hai, 27/08/2012 (GMT+7)

Khoa học khảo cổ trong những năm qua đã phần nào vén dần bức màn bí mật của cổ dân Nam Tây Nguyên thông qua các hoạt động khảo cổ trải dài trên một vùng rừng núi từ cao nguyên Langbian (Đà Lạt) đến Cát Tiên thánh địa – vùng đất cực nam tỉnh Lâm Đồng. Nếu dòng chảy văn hóa của các cổ dân Nam Tây Nguyên từ cao nguyên Langbian đến vùng tương đối thấp là Di Linh và Bảo Lộc có nét tương đồng khá rõ thì bắt đầu từ Cát Tiên – vùng đất tiếp giáp với các dòng văn hóa Chăm – Chân Lạp – Khơme, dường như đã có một “cát cứ” văn hóa tương đối định hình và không trộn lẫn trong dòng văn hóa chung của Nam Tây Nguyên.

Ngẫu tượng linga tại Cát Tiên
Ngẫu tượng linga tại Cát Tiên

Thánh địa Cát Tiên thuộc địa phận huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng ngày nay), nằm trải dài bên tả ngạn sông Đồng Nai, được phát hiện vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước bởi hai nhà khoa học trẻ tuổi của Bảo tàng Lâm Đồng. Đó là một đô thị tôn giáo bị chôn vùi trong lòng đất từ hàng nghìn năm nay gây bất ngờ lớn cho các nhà khoa học bởi những hiện vật tìm thấy được qua những lần khai quật khảo cổ. Di chỉ khảo cổ học Cát Tiên của Lâm Đồng đã được Bộ VHTT công nhận là di tích văn hóa – lịch sử – nghệ thuật vào năm 1997.

Di tích nói lên nhiều điều

Nói cách khác, đến khi phát hiện ra khu thánh địa Cát Tiên thì sự độc đáo về sáng tạo văn hóa của cư dân bản địa Nam Tây Nguyên đã thực sự thuyết phục các nhà khoa học bằng những ghi nhận khoa học. Và đây là sự ghi nhận ấy của các nhà khoa học: Tại khu thánh địa này, các nghệ nhân cổ xưa của cư dân bản địa Lâm Đồng đã thể hiện tài năng của mình một cách hết sức điêu luyện thông qua các công trình thuộc các lĩnh vực tôn giáo, kiến trúc, điêu khắc, lịch sử… bằng các hiện vật để lại như hình ảnh cầm thú, vũ nữ, thiên tiên, đền tháp… Và, trước hết, cần nhắc đến chiếc thạch ấn đặc biệt được tìm thấy ở thánh địa Cát Tiên. Theo mô tả tại hiện trường, chiếc “thạch ấn” được phát hiện trong di chỉ khảo cổ học Cát Tiên có dạng hình tròn dẹt, dày từ 2cm – 3cm, đường kính 11cm, phía trên có tay cầm quai tròn. Điều đặc biệt là mặt dưới của “con dấu” bằng đá này có khắc những hình thù, đường nét rất lạ mà các nhà khoa học hiện đang đặt câu hỏi rằng đó có phải là cổ tự của cư dân chủ nhân di tích Cát Tiên hay không. Một câu hỏi khác cũng được đặt ra: Đây có phải là “con triện” của “vương quốc” cư dân bản địa Cát Tiên? Và, thạch ấn này có liên quan gì đến hình ảnh mukha trên một chiếc linga?

Cùng với một chiếc “thạch ấn” trong dòng chảy văn hóa cổ thời đồ đá được tìm thấy tại đây, vấn đề đáng quan tâm là có thể “nhìn” dòng chảy văn hóa Nam Tây Nguyên được “định hình” ở thánh địa Cát Tiên từ góc nhìn tôn giáo, kiến trúc… của các nhà khoa học: Có thể nói, công trình kiến trúc tôn giáo của khu thánh địa Cát Tiên không chỉ là di tích thể hiện đời sống tâm linh của cư dân bản địa Nam Tây Nguyên mà còn là dấu ấn quan trọng thể hiện trình độ phát triển xã hội của cộng đồng cư dân bản địa trên các phương diện nghệ thuật, đời sống văn hóa và kinh tế. Di chỉ khảo cổ học Cát Tiên là một loại hình kiến trúc tôn giáo cổ có những đặc trưng khác biệt so với các loại hình kiến trúc thông thường. Ở điểm khai quật DT gò 6A, các nhà khảo cổ và kiến trúc đã tìm thấy một đền thờ khá hoàn chỉnh với lối kiến trúc rất đặc trưng “Cát Tiên”. Ông Lương Nguyên Minh – Trưởng Ban quản lý Khu Di tích Cát Tiên – cho biết: “Nét đặc thù ở đền thờ này được thể hiện ở kiến trúc vuông bẻ góc nhiều lần trước mặt phía đông, và tiền điện được xây theo hình bán nguyệt. Còn ở gò số 7, người ta lại phát hiện ra một đền thờ được xây theo dạng hình vuông, nằm cân đối theo trục bắc – nam, và hoàn toàn không có dấu vết bậc cấp và dấu vết cửa. Điều đáng quan tâm: Cũng tại đền thờ này, lần đầu tiên một “máng nước thiêng” trong di tích Cát Tiên đã được phát hiện; và cùng với máng nước thiêng ấy là hệ thống dẫn nước chạy dọc theo hướng đông – tây có chức năng phân phối nước thiêng đến các đền tháp trong khu vực.

Lý giải của các nhà khoa học

Nhìn nhận thánh địa Cát Tiên, giáo sư Đào Duy Anh đã chỉ ra mối quan hệ giữa chủ nhân khu thánh địa với tiểu vương quốc Mạ (một trong những tộc người thiểu số của Lâm Đồng hiện tại) qua cuốn sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” như sau: “Còn khối Sơ Ma (Stiêng và Mạ) thì từ xưa họ đã là một nước nhỏ chiếm ở miền rừng núi giữa Bình Thuận là đất Chiêm Thành và Biên Hòa là đất Chân Lạp. Sau khi chúa Nguyễn chiếm hết đất Chiêm Thành và bắt đầu chiếm đất Biên Hòa, Gia Định của Chân Lạp thì nước Sơ Ma không thể tồn tại độc lập được nữa ở ngay trên đường của người Việt Nam từ Khánh Hòa, Bình Thuận vào Biên Hòa, Gia Định. Thế là nước ấy suy tàn và các bộ lạc phải tản cư lên miền tây Bình Thuận và miền đông nước Cao Miên” (Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, nxb Thuận Hóa, Huế, 1994, tr. 212). Tuy sự tồn tại của vương quốc Mạ trong lịch sử là hạn hữu (hiện tượng này diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới với điển hình là sự tàn lụi của nền văn hóa Crét – Myxen Hy Lạp cổ đại) nhưng nhiều thành tố văn hóa quan trọng của cư dân bản địa Mạ lưu dấu trong lịch sử vẫn bền vững qua thời gian và không gian với nhiều biểu hiện qua các lễ hội, phong tục, tập quán…

Di tích Cát Tiên ngày càng thu hút du khách
Di tích Cát Tiên ngày càng thu hút du khách

Ngay từ những ngày đầu khai quật, tại di chỉ khảo cổ học Cát Tiên, các nhà khoa học đã tìm thấy tại đây những ngẫu tượng linga – yoni và tượng thần Siva cùng với kiến trúc đền tháp mang nhiều ý nghĩa về tôn giáo. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, chủ nhân thực sự của vùng đất cổ này vẫn đang còn là vấn đề tranh luận. Nhà báo – nhà khảo cổ học Đinh Thị Nga cho rằng: “Từ xa xưa, Cát Tiên đã có một cơ tầng văn hóa đủ sức hội nhập với nền văn hóa mới, tạo ra sự tiếp nối liên tục với sự ứng xử đặc biệt khi văn hóa Ấn Độ hội nhập vào vùng biển Đông. Toàn bộ kiến trúc các ngôi đền tại Cát Tiên được xây dựng theo chuẩn tắc Bàlamôn giáo (Ấn Độ giáo kết hợp với Phật giáo): Bình độ hình vuông, giật cấp nhiều lần cùng với những cửa tháp, thanh đá ốp cửa, trụ bệ, mi cửa, những ngẫu tượng linga, yoni, tượng Ganesa… Chuẩn tắc đó được thực hiện bởi những bàn tay và khối óc tài hoa của các nhà kiến trúc tôn giáo nhiều thế hệ. 20 ngôi đền tháp và đền mộ hoàn toàn khác nhau về chi tiết nhưng lại hòa quyện với nhau trong kiểu dáng, vươn trong không gian một thế giới tâm linh bí ẩn, kỳ vĩ…”. Xin mở ngoặc nói thêm: Bà Đinh Thị Nga là một nhà báo hiện đã về hưu và cũng là một nhà khảo cổ học gắn liền với di tích Cát Tiên. Bà là một trong hai người đầu tiên phát hiện di tích Cát Tiên vào năm 1986. Lúc đó, bà công tác tại Bảo tàng Lâm Đồng với cương vị là một nhà khảo cổ học. Trong một chuyến công tác, bà Đinh Thị Nga cùng một cán bộ khác cùng cơ quan đã tình cờ đào được một vài hiện vật “cổ” tại vùng đất Cát Tiên thuộc tỉnh Lâm Đồng. Từ hiện vật đó, di tích khảo cổ học Cát Tiên dần hé lộ và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước và thế giới.

Chỉ dưới góc nhìn từ Cát Tiên mà thôi thì vấn đề văn hóa cổ dân Nam Tây Nguyên đã có quá nhiều điều để đáng nói, đáng bàn. Một điều đáng quan tâm khác: Cổ dân Nam Tây Nguyên trong lịch sử không hề sống tách biệt với thế giới bên ngoài mà ngược lại, từ những kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, nhóm dân này có quan hệ với các cộng đồng dân cư lân cận ở phía biển và cả phía núi từ rất sớm.

Khắc Dũng

Cập nhật lúc 09:11, Thứ Năm, 30/08/2012 (GMT+7)

(LĐ online) – Không chỉ phát triển riêng với “nội tại” của nền văn hóa của chính mình mà theo quy luật, cư dân bản địa Nam Tây Nguyên trong lịch sử cũng đã có sự hào phóng “mở cửa” tiếp nhận không ít dòng văn hóa từ bên ngoài tràn vào như những luồng gió không thể cưỡng được. Tuy nhiên, không phải cổ dân vùng đất này tỏ ra dễ dãi trong việc đón nhận những dòng chảy văn hóa từ ngoài du nhập vào mà xem ra là ngược lại, họ đã tỏ rõ sự khắt khe trong vùng “giao thoa” giữa văn hóa nội địa với văn hóa ngoại lai để sản sinh ra những xu hướng văn hóa hoàn toàn mới.

Nhận xét trên được các nhà khoa học nêu lên tại hai cuộc hội thảo khoa học tổ chức trong vài năm qua tại thánh địa Cát Tiên (thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng).

Tượng thần Siva… mới

Một trong những dòng văn hóa xâm nhập vào Nam Tây Nguyên khá sớm là dòng văn hóa Ấn từ biển Đông thông qua người Chăm để đi lên phía rừng. Cũng ngay tại thánh địa Cát Tiên, sự giao lưu văn hóa này để sản sinh ra một dòng văn hóa mới đã được các nhà khoa học ghi nhận và gọi đó là “sự đóng băng trên biển”.

Cũng theo nhà khảo cổ học Đinh Thị Nga (người mà chúng tôi đã nhắc đến ở bài trước) thì một trong những điều làm nên sự bí ẩn và kỳ vĩ của thánh địa Cát Tiên chính là tượng thần Siva được tìm thấy qua 8 lần khai quật tại đây. Theo quan niệm của nhiều cổ dân trên thế giới, trong đó không loại trừ cổ dân Nam Tây Nguyên, thì thần Siva được tôn thờ với nhiều hình mẫu khác nhau; nhưng trước hết, đó là một trong ba vị thần tối cao có nhiệm vụ trấn giữ đền tháp và giúp người đứng đầu cộng đồng cai quản chúng sinh. Ở nhiều di chỉ khảo cổ học trên thế giới, hình ảnh tượng thần Siva được tìm thấy nhiều nhất là hình ảnh thiếu nữ có nhiều cánh tay trong tư thế đứng múa; phổ biến là tượng 8 tay và 6 tay. Tuy nhiên, tại di chỉ khảo cổ học Cát Tiên, trong lần khai quật mới đây nhất, các nhà khảo cổ học lại tìm thấy bức phù điêu có tượng thần Siva với hình ảnh một phụ nữ ngực trần, hai tay cầm một lá sen và bông sen. “Thần Siva trên đường du nhập từ biển Đông vào Việt Nam và lên đến Nam Tây Nguyên đã được đơn giản hóa và mang ý nghĩa “hòa bình” nhiều hơn!” – nhận xét của một nhà khoa học có uy tín. Theo đó, thay vì có những 8 hoặc 6 tay, trên tay cầm những vật như đinh ba, dao găm, chén dầu lửa… thì thần Siva khi “đến” thánh địa Cát Tiên chỉ còn hai tay và cầm lá sen và bông sen – biểu tượng của hòa bình và no ấm.

Nhìn rộng hơn, theo các nhà khoa học, văn hóa Ấn giáo đã đi từ biển Đông vào Việt Nam, ảnh hưởng khá rõ ở văn hóa Chăm, sau đó tiếp tục gây ảnh hưởng lên đến Tây Nguyên (hiện ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều di tích của văn hóa Ấn mang dáng dấp Chăm), trong đó có Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng. Tuy nhiên, khi đến được vùng đất này, nền văn hóa ấy đã được “bản địa hóa” bởi chính nền văn hóa của cư dân bản địa mà tượng thần Siva nói trên là một minh chứng.

Mẹ con người Cơho – tộc người bản địa Nam Tây Nguyên
Mẹ con người Cơho – tộc người bản địa Nam Tây Nguyên

Nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa

Cùng với “chuẩn” văn hóa cự thạch và sự định hình của nền văn hóa cổ của cư dân Cát Tiên, trên vùng đất Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng – còn là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hóa bản địa và cả ngoại lai khác trong quá khứ chảy dài đến hiện tại. Lịch sử tộc người chỉ ra rằng, Nam Tây Nguyên là vùng đất của cổ dân thiểu số bản địa thuộc ngữ hệ Môn Khơme như người Mạ, người Cơho… Tiếp đến, trong chiến tranh Chăm – Việt, một bộ phận người Chăm ở Nam Trung Bộ đã dạt lên vùng đất Nam Tây Nguyên để định cư và lâu dần trở thành các tộc người bản địa với hai tên gọi chính là Churu và Raglai. Lịch sử còn ghi lại: Sau khi giành độc lập từ Trung Quốc ở thế kỷ 10, người Việt đã xây dựng một quốc gia có chủ quyền lấy tên là Đại Việt và bắt đầu tiến hành các cuộc chiến với vương quốc Chămpa của người Chăm ở phía nam và tiếp đó là với người Chân Lạp liền kế Chămpa. Kết cục là do thất bại trước Đại Việt, hầu hết lãnh thổ của Chămpa và Chân Lạp đã được sáp nhập vào Đại Việt trong vòng 7 thế kỷ, từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 17. Ngày nay, khi nói đến chiến tranh Việt – Chăm và Chân Lạp là nói đến một loạt các cuộc chiến giữa quốc gia Đại Việt ở phía bắc với vương quốc Chiêm Thành và Chân Lạp ở phía nam trong 7 thế kỷ ấy.

Hiện tại, với số dân khoảng 32.000 người, ở Lâm Đồng, người Mạ – một trong những tộc người thiểu số bản địa Nam Tây Nguyên thuộc ngữ hệ Môn Khơme sống tập trung thành những bon nằm dọc theo sông Đồng Nai. Điểm khác biệt trước tiên và căn bản nhất so với các dân tộc cũng thuộc ngữ hệ Môn Khơme khác ở Lâm Đồng như người Cơho, người Lạch, người Chil… là, trong xã hội người Mạ đã xác lập chế độ phụ hệ khá vững chắc, nhất là trên lĩnh vực hôn nhân. Như trên vừa phân tích, lãnh thổ người Mạ trong lịch sử từng khá ổn định ở một vùng rộng lớn thuộc Nam Tây Nguyên khiến cho không ít tài liệu và nhất là các nhà nghiên cứu khoa học đã gọi đó là “xứ Mạ” hay “vương quốc Mạ”. Cùng với cộng đồng người Mạ (và người Cơho), trong dòng chảy văn hóa bản địa của cổ dân Nam Tây Nguyên còn có sự đóng góp đáng kể của “thành phần” văn hóa của các tộc người thuộc văn hóa Malayô – Pôlinêxia (Mã Lai Đa Đảo) như Churu, Raglai… Ở Lâm Đồng, hai tộc người đại diện cho dòng chảy văn hóa Malayô – Pôlinêxia là Churu và Raglai sống tập trung ở huyện Đơn Dương và một vài nhóm ở huyện Đức Trọng – địa bàn giáp với vùng văn hóa Chăm ở Nam Trung Bộ. Nền văn hóa cổ truyền của hai tộc người tiêu biểu cho nhóm ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo ấy ở Lâm Đồng là nền văn hóa khá phong phú và đa dạng với rất nhiều biểu hiện thông qua các lễ nghi nông nghiệp (nhất là văn hóa lúa nước và nghề làm gốm), tục thờ cúng, sinh hoạt xã hội… “Kho của” văn hóa cổ truyền ấy của người Churu và Raglai còn được thể hiện bằng những sinh hoạt văn hóa như các vũ điệu (đặc biệt là vũ điệu aria và tamja), sinh hoạt cồng chiêng, kho tàng truyện cổ…

Tái hiện văn hóa Việt trong lễ hội Tây Nguyên
Tái hiện văn hóa Việt trong lễ hội Tây Nguyên

Đến thế kỷ XX, vùng đất Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng – thêm một lần có sự biến đổi rất quan trọng về văn hóa khi người Pháp đặt chân lên đây. Kể từ đó, đời sống văn hóa của các cư dân bản địa được bổ sung thêm nhiều chất tố mới, nhất là văn hóa Pháp. Cùng đó, cũng trong giai đoạn này, đời sống văn hóa các cư dân Lâm Đồng (lúc này, người Việt cộng cư đã khá đông) đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới thông qua cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân trong vùng và cả nước. Từ đây, hai yếu tố văn hóa Việt và văn hóa Pháp đã song hành phát triển bên cạnh yếu tố văn hóa của các tộc người bản địa.

Qua những phân tích trên, không có gì phải bàn cãi khi nói rằng Nam Tây Nguyên – Lâm Đồng là vùng văn hóa đa bản sắc bởi sự hiện diện của khá nhiều dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam anh em; trong đó đáng kể nhất là các dòng văn hóa của hai nhóm cư dân bản địa Môn Khơme và Mã Lai Đa Đảo cùng với văn hóa người Việt và yếu tố văn hóa bên ngoài Việt Nam là văn hóa Pháp. Và, qua đó cũng có thể nói, hiểu được những giá trị văn hóa đa bản sắc của Lâm Đồng để phát huy nó trong công cuộc kiến thiết quê hương, đất nước, xây dựng một nền văn hóa mới có tính kế thừa là một việc làm rất cần kíp trong giai đoạn hiện nay.

Khắc Dũng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s