Cơ hội cuối cùng cho Việt Nam – Du lịch bền vững

English: Vietnam’s last chance: Sustainable tourism

2017-10-09T050115Z_911570337_RC1EE87ABD80_RTRMADP_3_VIETNAM-ECONOMY-1-940x580 Xe máy trên đường phố Hanoi, Vietnam June 30, 2016. Source: Reuters/Kham

Ba mươi năm sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành chính sách “đổi mới”, mở cửa cho nền kinh tế quốc doanh và tập trung vào thị trường toàn cầu thì các chỉ số kinh tế của đất nước đã được cải thiện đáng kể. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 437,13 USD năm 1986 lên 2,185.69 USD vào năm 2016. Tỷ lệ nghèo đói cũng giảm đáng kể, từ 60% năm 1993 xuống còn 14% năm 2016. Tuy nhiên người Việt Nam đang phải trả phí cho những tiến bộ kinh tế này bằng việc đánh đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các bờ biển rộng lớn của quốc gia đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề.

Vụ việc cá chết hàng loạt ở Hà Tĩnh do chất thải độc hại được phát thải từ nhà máy thép Formosa của Đài Loan đã triệt tiêu du lịch và hoạt động đánh bắt cá trên khắp bốn tỉnh – một hậu quả không thể lường trước nhưng có thể đoán được của của việc chính phủ thúc dục phát triển mạnh mẽ. Phản ứng của chính phủ là khá tệ khi ban đầu khá thờ ơ, và sau đó ngăn chặn người biểu tình yêu cầu bồi thường. Tiếp theo đó là chính phủ đã kí một thỏa thuận gây tranh cãi mà theo đó không bao gồm bất kỳ loại đánh giá độc lập về quy mô thực sự của sự cố môi trường.

Thợ cắt tóc trên phố Hanoi, Vietnam October 9, 2017. Source: Reuters/Kham

Các khu kinh tế ven biển đã được xây dựng trong những năm qua là nơi tập trung nhiều ngành công nghiệp khác nhau – Tổ hợp công nghiệp Farmosa ở Hà Tĩnh là một trong những khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước.Các doanh nghiệp bám biển ở một khía cạnh góp phần thúc đẩy ngân sách quốc gia, mặt khác cũng hủy hoại nghiêm trọng hệ sinh thái mong manh của Việt Nam. Thật vậy, những tác động này trầm trọng hơn bởi cộng hưởng với nóng lên toàn cầu, đang diễn biến khó lường.

Ví dụ trường hợp các rạn san hô của Việt Nam, là một trong những rạn san hô lớn nhất trên thế giới, đồng thời cũng là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất. Theo ước tính năm 2014, 96% rạn san hô của Việt Nam bị ảnh hưởng xấu bởi hoạt động của con người, và 75% các rạn đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Thật không thể ngờ rằng có tới 20 triệu người đang sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái rạn san hô, và lợi ích kinh tế chúng mang lại ước tính trị giá 100 triệu đô la Mỹ. Khá buồn, sự thờ ơ của chính phủ về việc bảo vệ môi trường đang góp phần làm trần trọng thêm thêm tình trạng khai thác quá mức và ô nhiễm.

Bên cạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hóa từ đầu tư nước ngoài, một nhân tố quan trọng khác làm tăng đà suy thoái môi trường là  tình trạng du lịch đại trà.

Những nỗ lực để đạt mức công nghiệp hóa kỉ lục đi cùng với xúc tiến công bằng mạnh mẽ của đất nước như là một lựa chọn cho điểm đến du lịch. Với gần 10 triệu du khách trong chín tháng đầu năm nay, tăng 28 % so với cùng thời điểm năm ngoái, ngành công nghiệp đang trong giai đoạn bùng nổ. Tuy nhiên, hàng triệu du khách lại đang làm hại đến cảnh quan thiên nhiên của Việt Nam, nguồn tài nguyên giúp tăng trưởng mạnh mẽ du lịch của đất nước.

Ví dụ, Vịnh Hạ Long, một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất của Việt Nam, nay biến thành một “thảm hoạ sinh thái” do chất lỏng độc hại bị rò rỉ từ các tàu du lịch. Đường bờ biển phía đông của Việt Nam nhìn chung đã mất đi nhiều vẻ đẹp tự nhiên, thay vào đó là các khách sạn và khu nghỉ mát mọc lên như nấm.

Vịnh Hạ Long Halong Bay, Vietnam. Source: AP Photo/Richard Vogel

Hà Nội đang dần dần nhận thức được vấn đề này và cải thiện tình hình. Năm 2015, một Biên bản ghi nhớ về Sáng kiến ​​Tam giác San hô trên các Rạn San hô, các ngư trường và trong vấn đề an ninh lương thực đã được kí kết, góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ các rạn san hô. Năm ngoái, chính phủ đã thiết lập đường dây nóng cho việc tố giác hành vi đổ rác trái quy định dọc theo bờ biển như một phần trong chiến dịch dọn sạch bãi biển lớn nhất của quốc gia.

Tuy nhiên, những hành động này chỉ đơn thuần làm giảm “triệu chứng”, chưa phải điều gốc rễ. Việc du khách ngày càng quan tâm hơn đến hệ sinh thái của quốc gia nơi  họ đến, dường như đang hình thành thành xu hướng, tận dụng tốt điều này giúp cho Hà Nội vừa được hưởng lợi từ du lịch trong khi vẫn bảo vệ được bờ biển:  du lịch bền vững.

Khái niệm – dựa trên ý tưởng biến việc bảo vệ môi trường trở thành một phần không thể thiếu trong trải nghiệm của du khách – là một hình mẫu du lịch nhanh chóng thu hút được sự chú ý của giới kinh doanh và các chính phủ. Tại “Hội thảo Đại dương” của chúng tôi tổ chức tại Malta vào đầu tháng 10, đại diện từ các doanh nghiệp, gần 100 quốc gia và các tổ chức khác đã cam kết dành 10,2 tỷ đô la cho các dự án (phát triển) bền vững.

Các sáng kiến ​​mới thúc đẩy ” các dự án dựa vào du lịch trên đất liền” được hỗ trợ thông qua tài trợ ưu tiên từ các quỹ quốc tế lớn như Quỹ Bảo tồn Du lịch Thám hiểm. Ví dụ, dự án Six Senses Vịnh Ninh Vân đồng hành bời hai nhà sinh học biển người Hà Lan thực hiện, đơn vị này đang tích cực khôi phục các rạn san hô trên đáy biển. Tại các vùng lân cận thuộc Indonesia, khu nghỉ mát sinh thái Misool thuộc vùng Raja Ampat là một minh họa hoàn hảo về cân bằng du lịch với sự bền vững. Được xây dựng từ rác thải sinh học, khu nghỉ mát tọa lạc trong một khu vực có độ đa dạng sinh học biển lớn nhất thế giới và là người thuê đồng thời là quản lý của bảy khu bảo tồn biển.

Trên thực tế, các quỹ tư nhân như Quỹ Philip Stephenson cũng tổ chức các dự án bảo tồn rạn san hô xung quanh hòn đảo Petit Saint Vincent của Caribbean và đã thành công trong việc áp dụng cách tiếp cận mới này. Tất cả những ví dụ về mô hình kể trên đều có thể áp dụng trên quy mô lớn ở Việt Nam – với điều kiện có sự cho phép từ chính phủ.

Để đảm bảo công bằng, một số đại lý tour du lịch ở Việt Nam đã bắt đầu triển khai hình thức mới về vấn đề ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường tại đất nước tới du lịch. Giải pháp khuyến khích du khách tham gia vào các hoạt động nhỏ bảo vệ môi trường đã nhận được những phản hồi tích cực. Các văn phòng đang thực hiện các nỗ lực bảo tồn mang màu sắc riêng, khuyến khích khách hàng sử dụng phương tiện xanh để được giảm giá.

bd4f54_218b090212294e578d3b98061c5701ec~mv2

Source: Dr Richard Murphy / Philip Stephenson Foundation

Mặc dù những sáng kiến này có vẻ nhỏ so với quy mô của vấn đề ở hiện tại, song là những bước chuyển đầy hứa hẹn trong việc chấm dứt – nếu không nói là ngược lại – của cuộc khủng hoảng môi trường ngày càng tồi tệ của đất nước. Việt Nam cuối cùng cũng cần một sự tái định hướng nền kinh tế để làm giảm các mục tiêu truyền thống của sự tăng trưởng và mở rộng. Đối với ngành du lịch, điều này là dễ hiểu nhất: du lịch bền vững không chỉ khuyến khích bảo vệ môi trường mà còn là điểm bán hàng.

Nếu liên kết được các chính sách bảo vệ môi trường phù hợp cộng thêm việc thực thi một cách chặt chẽ, Việt Nam có thể đạt được thỏa hiệp bền vững cho việc bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Advertisements

One thought on “Cơ hội cuối cùng cho Việt Nam – Du lịch bền vững

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s