Vẻ đẹp của giá cả – 4 kỳ

  Kỳ 1: Một ‘phép lạ’

(TNO) Cao hay thấp, mắc hay rẻ không làm nên vẻ đẹp của giá cả. Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học người Anh, bảo rằng một giao dịch giữa hai đối tác tự nguyện, nó sẽ không xảy ra trừ khi cả hai bên đều tin rằng mình có lợi. Đó là sự ”thuận mua vừa bán” mà bất cứ người dân bình thường nào cũng hiểu được. Chính sự ”thuận mua vừa bán” này mới làm nên vẻ đẹp của giá cả.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 1: Một 'phép lạ' - ảnh 1

Chính trị gia người Đức Ludwig Erhard – Ảnh: Patzek, Renate, chụp năm 1963

Giá gạo phân phối thời bao cấp chỉ có 4 hào, thấp hơn hàng chục lần giá gạo chợ đen, đã gây biết bao nhiêu là bi hài kịch.

Chính sách bảo hộ phi lý ở nước ta hiện nay đã khiến cho giá bán ô tô cao gấp đôi giá ô tô cùng loại ở Nhật và châu Âu. Sự phi lý này không những không khuyến khích mà còn tạo ra nguy cơ triệt tiêu ngành công nghiệp ô tô khi chấm dứt bảo hộ, nó chỉ phục vụ cho “lợi ích nhóm”.

Điều lạ lùng là không ít các chính trị gia, không ít các nhà quản lý đã không hiểu được điều mà bất cứ người dân bình thường nào cũng hiểu, vì vậy mới có sự bóp méo nói trên đối với giá cả.

Người dân không cần biết giá điện ở Việt Nam cao hơn hay thấp hơn giá điện thế giới, họ bất bình mỗi khi tăng giá điện bởi vì họ bị buộc phải mua chứ không “thuận mua”.

Giá xăng dầu ở Việt Nam vừa giảm đến lần thứ 9 nhưng người dân vẫn không hài lòng, không phải chỉ vì nó giảm ít hơn, giảm chậm hơn giá xăng dầu thế giới mà còn do họ nghĩ rằng cơ quan quản lý giá đã “câu kết” với các doanh nghiệp xăng dầu khi ra những quyết định tăng nhanh giảm chậm.

Trên đây là một số ví dụ của giá cả bị bóp méo. Sự bóp méo này gây biết bao nhiêu là hệ lụy, từ đời sống của mỗi gia đình cho đến vận mệnh quốc gia.

Điều lạ lùng là không ít các chính trị gia, không ít các nhà quản lý đã không hiểu được điều mà bất cứ người dân bình thường nào cũng hiểu, vì vậy mới có sự bóp méo nói trên đối với giá cả.

Và điều thú vị là có nhiều trường hợp, khi một chính trị gia hiểu được “điều mà bất cứ người dân bình thường nào cũng hiểu” đó và ngẫu nhiên ở vào một vị trí được tự do hành động đúng như điều mà mình hiểu, lập tức lịch sử được “nắn dòng”. Điển hình là trường hợp của Ludwig Erhard, người trở thành Thủ tướng CHLB Đức thời kỳ 1963 – 1966.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 1: Một 'phép lạ' - ảnh 2

Ông Mario Draghi, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu, tại hội thảo về Ludwig Erhard tổ chức ở Berlin (Đức), ngày 15.12.2011 – Ảnh: Reuters

Sau Đại chiến thế giới lần thứ 2, nước Đức bị chia cắt thành 4 khu vực do quân đồng minh chia nhau chiếm đóng. Liên Xô chiếm đóng khu vực phía đông, Pháp ở vùng viễn tây, Anh ở vùng tây bắc và Mỹ ở vùng phía nam. Sau đó 2 vùng do Mỹ và Anh chiếm đóng được sáp nhập thành Bizonia, hoạt động như một nhà nước (tiếp đó vùng do Pháp chiếm đóng cũng sáp nhập thành Trizonia, đến năm 1949 ba vùng này trở thành nước CHLB Đức, thường được gọi là Tây Đức). Nước Đức lúc đó chỉ còn là một đống đổ nát, đến mức tướng Lucius Clay, Tư lệnh quân đội Mỹ tại khu vực Bizonia, đã phải gửi một bức điện về Washington: “Chúng tôi không thể hiểu được tại sao các ngài phải đọc Thời báo New York mới biết là người Đức sắp chết đói”. Nước Mỹ đã phải đổ một lượng lớn thực phẩm viện trợ đến để cứu đói.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 1: Một 'phép lạ' - ảnh 3 Hẳn không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ. Một khoảnh khắc may mắn khi một con người thích hợp ở vào một địa vị thích hợp được tự do làm những gì mà anh ta coi là đúng, cho dù anh ta có thể chưa bao giờ từng thuyết phục được bất kỳ ai khác rằng điều đó là đúng Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 1: Một 'phép lạ' - ảnh 4
Nhà kinh tế học Friedrich Hayek(giải Nobel 1974)

Đầu năm 1948, Johannes Semler, Giám đốc Ủy ban Kinh tế Bizonia, đã “hỗn láo” với người Mỹ khi tuyên bố phần lớn lượng ngũ cốc mà người Mỹ gửi tới là “cám gà” chứ không phải thức ăn cho người. Tướng Clay đã nổi khùng lên sa thải luôn ông Semler và ngẫu nhiên chọn nhà kinh tế Ludwig Erhard lên thay thế.

Erhard là nhân vật kỳ lạ. Xuất thân là người bán vải trong một cửa hàng của gia đình, sau đó ông có bằng tiến sĩ kinh tế, làm chuyên viên nghiên cứu tiếp thị. Do bị thương trong Đại chiến thế giới lần thứ 1, ông không tham gia quân đội quốc xã. Ông bị mất việc năm 1942, nhưng vẫn tự mình nghiên cứu thị trường. Đại chiến 2 kết thúc, có một thời gian ngắn ông làm cố vấn kinh tế trong khu vực Mỹ chiếm đóng. Tướng Clay đã không ngờ sự “nổi khùng” của mình đã trở thành một điểm nhấn trong lịch sử nước Đức.

Thời gian này ở Đức áp dụng chế độ kiểm soát và phân phối hàng hóa khiến cho thị trường chợ đen phát triển đến mức người ta ước tính chỉ có một nửa tổng sản lượng hàng hóa được làm ra ở đây được phân phối theo kênh hợp pháp. Hệ thống kiểm soát giá cả làm cho các hoạt động kinh tế không thể nhúc nhích được. Đồng tiền chính thức là đồng Mark gần như không còn giá trị, người ta phải dùng các hộp thuốc lá Lucky Strike làm “tiền” để mua bán hoặc lấy hàng đổi hàng.

Giữa lúc Mỹ và Anh thực hiện cuộc cải cách tiền tệ ở Đức, Erhard bất ngờ xóa bỏ tất cả các quy định về kiểm soát giá cả chỉ trong một đêm. Theo quy định, không thể thay đổi bất cứ sự kiểm soát giá cả nào mà không có sự phê duyệt của lực lượng chiếm đóng, đứng đầu là tướng Clay, nhưng cũng không có bất cứ sự “chế tài” nào nếu như những quy định đó đã bị xóa bỏ, đơn giản là người ta không nghĩ điều đó có thể diễn ra. Lợi dụng sự sơ hở đó, Erhard đã nhanh chóng tạo ra một chuyện đã rồi mà không cần phải báo cáo với tướng Clay.

Hành động bất ngờ của Erhard như một “phép lạ”. Chợ đen biến mất, hàng hóa xuất hiện trở lại ở các cửa hàng. Nền kinh tế được kích hoạt. Hành động này được coi là một “cú hích” vĩ đại làm thay đổi vận mệnh Tây Đức.

“Ông Erhard, các cố vấn của tôi nói rằng điều mà ông đang làm là một sai lầm tệ hại. Ông nói gì về việc này?”, tướng Clay hạch sách. Erhard trả lời: “Thưa tướng quân, cứ mặc kệ nó! Các cố vấn của tôi cũng nói như vậy”. Đó là đoạn đối thoại nổi tiếng mà nhiều sách lịch sử còn ghi lại.

Câu chuyện trên cũng được Erhard kể lại với nhà kinh tế học Friedrich Hayek (giải Nobel 1974). Hayek đánh giá rất cao Erhard, ông cho rằng thành tựu đó “gần như của chỉ một người”. Ông bình luận: “Hẳn không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ. Một khoảnh khắc may mắn khi một con người thích hợp ở vào một địa vị thích hợp được tự do làm những gì mà anh ta coi là đúng, cho dù anh ta có thể chưa bao giờ từng thuyết phục được bất kỳ ai khác rằng điều đó là đúng”.

Một cách tổng quát, cựu Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan nhận xét: “Mọi người vẫn cho rằng kinh tế châu Âu hồi phục là do Kế hoạch Marshall. Tôi không nghi ngờ gì điều này. Kế hoạch Marshall đã giúp châu Âu, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ thời hậu chiến. Tôi coi chính sách tự do hóa thị trường hàng hóa và tài chính Tây Đức do Ludwig Erhard đưa ra năm 1948 là đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong việc thúc đẩy khôi phục kinh tế thời hậu chiến Tây Đức. Tất nhiên là Tây Đức đã trở thành một cường quốc kinh tế nổi bật ở khu vực” (*)

(còn tiếp)

(*) Loạt bài có tham khảo tài liệu từ các sách:

+ Alan Greenspan, Kỷ nguyên hỗn loạn, NXB Trẻ.

+ Alan Ebenstein, F. Hayek – cuộc đời và sự nghiệp, NXB Tri thức.

+ Daniel Yergin và Joseph Stanislaw, Những đỉnh cao chỉ huy, NXB Tri thức.

+ Gilles Dostaler, Chủ nghĩa tự do của Hayek, NXB Tri thức.

Và một số tài liệu về kinh tế trong và ngoài nước.

Hoàng Hải Vân

*****

Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 2 : ‘Dịu dàng’ giá lúa

(TNO) Từ ‘phép lạ’ mà ông Ludwig Erhard đã làm ở Tây Đức, hẳn nhiều người đặt vấn đề: Tự do hóa giá cả ích nước lợi dân như vậy thì tại sao Nhà nước của nhiều quốc gia chịu không làm? Xin thưa, như nhận xét của nhà kinh tế học Hayek mà chúng tôi đề cập ở phần trước: ‘Không bao giờ có thể đạt được những gì mà ông (Erhard) đã làm nếu phải chịu những ràng buộc quan liêu hay dân chủ’.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 2 : 'Dịu dàng' giá lúa - ảnh 1

Thu hoạch lúa – Ảnh: Diệp Đức Minh

>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 1: Một ‘phép lạ

Những nỗ lực trong thời kỳ trước và trong đổi mới trên lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta là một ví dụ dễ thấy. Từ việc “khoán chui” của ông Kim Ngọc đến việc ông Võ Văn Kiệt bật đèn xanh cho bà Ba Thi xé rào mua lúa gạo về bán cho dân thành phố đều là những việc tốt nhưng bất hợp pháp và phạm vào chủ trương đường lối của Đảng, phải đấu tranh tháo gỡ rất là lâu về cơ chế, về luật lệ mới dần dần “hợp pháp hóa” được. Tổng bí thư Lê Duẩn là người ủng hộ khoán sản phẩm trong nông nghiệp từ trước những năm 1980, có lẽ đó là lý do vì sao ông Kim Ngọc không bị kỷ luật mà chỉ bị “kiểm điểm”, nhưng bộ máy lãnh đạo chưa có đủ đa số để sớm có một chủ trương mạnh. Vì vậy đến năm 1981, Ban Bí thư mới ra Chỉ thị số 100-CT/TW, cho phép áp dụng chế độ khoán sản phẩm trong nông nghiệp cả nước (thường gọi là khoán 100). Khoán 100 mặc dù là một chủ trương nửa vời, chưa giao đất cho hộ nông dân, chưa coi hộ nông dân là một đơn vị sản xuất, nhưng chỉ riêng các sản phẩm vượt khoán được tự do bán ra thị trường đã kích hoạt mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp.

Khoán 100 diễn ra nửa vời vì nó vẫn vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu. Thị trường lúa gạo hay bất cứ thị trường hàng hóa gì cũng không thể vận hành trong cơ chế đó. Nhưng chuyển toàn bộ nền kinh tế sang cơ chế thị trường hoàn toàn không dễ, dù Trung Quốc là nước đi trước đã bắt đầu thực hiện thành công. Cuộc tổng điều chỉnh giá – lương – tiền hồi năm 1985 thường được coi là một sai lầm nghiêm trọng, nhưng lịch sử cho thấy chính sự “sai lầm nghiêm trọng” này là cái giá phải trả để tạo sự đồng thuận thúc đẩy cải cách mạnh mẽ và triệt để hơn.

Vào đầu những năm 1980, ông Chín Cần (cựu Phó thủ tướng, lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy Long An) lần đầu tiên thử nghiệm việc bù giá vào lương, đã kích hoạt được sản xuất và khai thông thị trường ở tỉnh Long An, nhưng khi mở rộng ra cả nước với cuộc tổng điều chỉnh giá – lương – tiền thì gặp họa. Việc tính đúng, tính đủ giá cả đầu vào của sản xuất, việc xóa chế độ tem phiếu và nâng mức lương lên tương ứng với giá cả hàng hóa trên thị trường khiến cho toàn bộ lượng tiền lưu thông không đủ, buộc phải in thêm tiền, nhưng lúc đó nước ta không in được tiền nên phải áp dụng mệnh giá cao (để đỡ chi phí thuê nước ngoài in) dẫn đến việc đổi tiền… Tất cả các giải pháp đó vẫn được vận hành trong cơ chế tập trung quan liêu, đã tạo ra những rối loạn không ai lường trước và không thể kiểm soát được. Nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Tin xấu về cuộc khủng hoảng được truyền qua giá cả, với mức lạm phát 3 chữ số và lên tới đỉnh 774,7% vào năm 1986. Chính trong năm này đã diễn ra Đại hội Đảng lần thứ 6, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bị xóa bỏ để chuyển toàn bộ nền kinh tế sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.  Những tín hiệu tốt lại được truyền đi qua giá cả : lạm phát giảm mạnh còn hai con số vào năm 1989 và xuống còn 1 con số vào năm 1993.

Lịch sử cho thấy đổi mới toàn diện bắt đầu từ đổi mới trong nông nghiệp là bước đi hoàn toàn đúng hướng.  Sau khi cơ chế thị trường được xác lập, vào tháng 4.1988 Bộ Chính trị mới có cơ sở thực tiễn để ra Nghị quyết số 10 (thường gọi là khoán 10), thẳng thắn chỉ rõ sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, công nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân cá thể, giao đất lâu dài và coi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Cũng theo đó mà toàn bộ nông phẩm làm ra, sau khi nộp thuế cho nhà nước, người nông dân được toàn quyền làm chủ, giá cả đầu vào và đầu ra đều thực hiện “thuận mua vừa bán”. Nghị quyết 10 thực sự là một “phép lạ”. Chỉ 1 năm sau, nước ta từ chỗ thiếu ăn đã làm ra 21,5 triệu tấn lương thực và lần đầu tiên xuất khẩu 1,2 triệu tấn gạo . Từ cái đà của “phép lạ” khoán 10 mà ngày nay cả nước đã làm ra 49,3 triệu tấn lương thực có hạt, trong đó có hơn 44 triệu tấn lúa (năm 2013). Hơn 10 năm trước, giữa lúc Đồng bằng sông Cửu Long được mùa được giá, tôi nghe nhà báo Huỳnh Kim (Thời báo Kinh tế Sài Gòn) kể một câu chuyện vui:  Có bác nông dân mang túi tiền lên Sài Gòn vào một cửa hàng xe máy: “Nè chị, bán cho tôi một chiếc Honda”. Cô bán hàng nhìn bác nông dân từ đầu đến chân: “Bác có đủ tiền không mà mua xe?”. Định mua một chiếc, nhưng nghe câu hỏi khinh người, bác nói: “Bán luôn cho tôi 10 chiếc”. Rồi trả đủ tiền lấy 10 chiếc Honda gọi con cháu lên mang về.

Từ ngày đổi mới đến nay giá lúa gạo dù lúc lên lúc xuống (do quan hệ cung cầu), dù lắm khi bị chèn bên này bị ép bên kia (do cơ chế thị trường chưa hoàn thiện), nhưng về căn bản vẫn giữ được vẻ đẹp “dịu dàng” của nó, cái vẻ đẹp làm nên sự no lành và đẩy lùi dần tình trạng đói nghèo lam lũ.

Ngày nay không phải từ sự chỉ đạo của Nhà nước mà chính là giá nông sản mách bảo người nông dân biết phải trồng cây gì nuôi con gì. Mọi sự can thiệp vào giá nông sản, kể cả việc mua lúa tạm trữ để “bình ổn giá”, đều không những không đem lại kết quả như mong đợi mà còn tạo ra sự lên xuống giả tạo của giá cả, gây bất lợi cho việc tự định hướng sản xuất của người nông dân.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 2 : 'Dịu dàng' giá lúa - ảnh 2

Thu hoạch lúa ở An Giang – Ảnh: Nguyễn Huỳnh

Cũng cần nói thêm về đầu cơ. Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định: “Người nào mua vét hàng hóa, lương thực, vật tư, các loại tem phiếu, vé, giấy tờ có giá trị phân phối hàng hóa, lương thực, vật tư hoặc cung ứng dịch vụ nhằm bán lại để thu lợi bất chính thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”. Điều luật đó ra đời trong bối cảnh “đêm trước” đổi mới, khi cơ chế thị trường chưa được xác lập, việc hình sự hóa để chống nạn đầu cơ như quy định trên là điều dễ hiểu. Tuy nhiên hầu như chưa có vụ án “đầu cơ” nào được đem ra xét xử. Còn trong cơ chế thị trường, đầu cơ là hoạt động kinh tế bình thường, bởi vậy Bộ luật Hình sự năm 2000 thực tế đã xóa bỏ tội đầu cơ (trừ 3 tình huống đặc biệt là thiên tai, dịch bệnh và chiến tranh) khi quy định: “Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh mua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm” (điều 160). Nhưng không hiểu vì lý do gì mà vào năm 2009 điều 160 đã được sửa đổi thành: “Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm  hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh hoặc tình hình khó khăn về kinh tế mua vét hàng hoá có số lượng lớn nhằm bán lại thu lợi bất chính gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm  năm”. Thêm cụm từ “tình hình khó khăn về kinh tế” thực chất là quay trở lại hình sự hóa hoạt động đầu cơ, vì khó mà thống nhất xác định được nội hàm của cụm từ này, hơn nữa trong mấy chục năm qua và chắc là trong nhiều chục năm tới, không chỉ ở nước ta mà ở bất cứ nước nào trên thế giới cũng không thể nói là không có “tình hình khó khăn về kinh tế”. Có thể là sẽ không có vụ án nào xét xử tội đầu cơ, nhưng việc hình sự hóa một hoạt động kinh doanh bình thường trong cơ chế thị trường là một bước thụt lùi trong tư duy kinh tế của các nhà lập pháp. (còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

*****

Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 3: Giá xăng dầu làm vênh vẹo cơ chế thị trường

(TNO) Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay nhiều nước châu Âu và trên thế giới đã công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường, chúng ta đang vận động Mỹ và chắc là Mỹ cũng sẽ công nhận.

>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 2 : ‘Dịu dàng’ giá lúa
>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 1: Một ‘phép lạ

 

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 3: Giá xăng dầu làm vênh vẹo cơ chế thị trường - ảnh 1Nhưng việc quản lý giá xăng dầu hiện nay, dù đã được cải tiến, vẫn có rất nhiều vấn đề không minh bạch – Ảnh: Ngọc Thắng

Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới, chưa công nhận nước ta có nền kinh tế thị trường có thể có lý do chính trị, nhưng điều này cũng cho thấy không phải hễ gia nhập WTO là mặc nhiên có nền kinh tế thị trường.

WTO không phản đối doanh nghiệp nhà nước, miễn là các doanh nghiệp này bình đẳng trong cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác. Và khi đàm phán WTO, chúng ta còn đưa ra một danh mục không cam kết mở cửa và một danh mục mở cửa có lộ trình, những bảo lưu này đã được WTO chấp nhận. Đây được coi là nỗ lực nhằm bảo vệ một số ngành kinh tế trong nước không để cho các doanh nghiệp FDI “nuốt chửng”. Đáng chú ý là trong danh mục không cam kết có mặt hàng xăng dầu. Việc không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu có thêm một lý do là để đảm bảo an ninh năng lượng.

Cùng với việc “cấm cửa” thị trường phân phối xăng dầu đối với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước cũng bị loại khỏi lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu, ít nhất cho đến ngày 15.12.2009, khi Nghị định 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu có hiệu lực. Tuy xóa bỏ độc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu xăng dầu của các doanh nghiệp nhà nước, nhưng những quy định về điều kiện kinh doanh ngặt nghèo của Nghị định 84 (mới nhất là Nghị định 83/2014/NĐ-CP, về căn bản điều kiện kinh doanh cũng không thay đổi) khiến cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước khó mà chen chân vào. Hiện nay, đã có 19 đầu mối nhập khẩu xăng dầu, chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp nhà nước, trong đó Petrolimex chiếm gần 50% thị phần, tuy có một vài đầu mối là doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng thị phần không đáng kể. Tóm lại, độc quyền nhóm của doanh nghiệp nhà nước trong kinh doanh xăng dầu về căn bản vẫn không thay đổi.

Muốn xóa độc quyền xuất nhập khẩu xăng dầu trong bối cảnh thực tế hiện nay, khi khu vực tư nhân của Việt Nam chưa đủ mạnh, chỉ có thể mở cửa cho các doanh nghiệp FDI tham gia. Lý do bảo đảm an ninh năng lượng ngày càng không có sức thuyết phục. Viện dẫn lý do này chẳng qua là để tiếp tục duy trì “lợi ích nhóm” trong kinh doanh xăng dầu mà thôi.

Các vị lãnh đạo có trách nhiệm cũng như các cơ quan, doanh nghiệp liên quan thường xuyên nhắc lại điệp khúc giá xăng dầu sẽ vận hành “theo cơ chế thị trường”. Làm sao có thể “theo cơ chế thị trường” được khi độc quyền nhóm không được xóa bỏ trong thực tế và khi Nhà nước vẫn phải quyết định tăng hay giảm giá. Điều kiện tiên quyết để có thể đưa giá “theo cơ chế thị trường” là tự do kinh doanh. Không có tự do kinh doanh thì không thể có “giá thị trường”.

Sự không minh bạch do độc quyền và tình trạng lạm thu đã khiến cho giá xăng dầu biến dạng làm vênh vẹo cơ chế thị trường. Bản thân nó đã đành là không đẹp, nó còn làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên của một loạt giá cả các loại hàng hóa khác

Khi vẫn còn độc quyền kinh doanh thì đương nhiên Nhà nước phải quản lý giá, nếu không thì không ai bảo vệ được người tiêu dùng.Nhưng việc quản lý giá xăng dầu hiện nay, dù đã được cải tiến, vẫn có rất nhiều vấn đề không minh bạch. Ngay cả cái quy trình làm ra cái gọi là “giá cơ sở” cũng không minh bạch. “Giá cơ sở” là giá do liên bộ Công thương – Tài chính ban hành, nhưng thực chất là do Bộ Công thương đưa ra, trong khi Bộ Công thương là cơ quan chủ quản, là “chủ sở hữu” của doanh nghiệp có thị phần lớn nhất là Petrolimex. Từ đâu để có cơ sở để tính giá? Không lấy thông tin từ Petrolimex và các doanh nghiệp xăng dầu lớn khác thì lấy từ đâu ra? Nó có khách quan không? Chắc chắn là không.

Theo bảng giá mới nhất được công bố (7.11.2014) thì giá cơ sở 1 lít xăng 92 là 21.361 đồng, trong đó giá CIF 12.696 đồng, 4 sắc thuế gồm thuế nhập khẩu 2.279 đồng, thuế tiêu thụ đặc biệt 1.494 đồng, thuế giá trị gia tăng 1.942 đồng, thuế bảo vệ môi trường 1.000 đồng, “chi phí định mức” 1.050 đồng, “lãi định mức” 300 đồng và trích quỹ bình ổn giá 600 đồng. Chưa nói tiền thuế cao một cách vô lý sẽ đề cập sau, tất cả các yếu tố cấu thành giá cơ sở đều không minh bạch hoặc không hợp lý.

Về giá nhập khẩu, một mặt hàng chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước mua vào theo giá thị trường trên thế giới và do nhà nước định giá bán ra trong nước với kim ngạch mỗi năm lên tới 8 – 9 tỉ USD, nhưng giá nhập khẩu không hề có cơ chế kiểm soát. Ai cũng biết giá thị trường thế giới được công bố và giá mua thực tế không giống nhau, mua ít hay mua nhiều, mua theo chuyến hay mua thường xuyên, cùng một loại xăng dầu nhưng hàm lượng lưu huỳnh cao hay thấp, mua trả tiền trước hay mua trả tiền sau… đều có giá khác nhau. Petrolimex và các doanh nghiệp nhà nước khác mua theo phương thức nào và mua theo giá nào? Chất lượng thực tế có bảo đảm với tiêu chuẩn về khí thải của Việt Nam và có đúng với chất lượng và giá ghi trên hóa đơn hay không? Cơ chế nào để buộc các doanh nghiệp nhà nước phải mua được xăng dầu giá rẻ nhất? Không có sự kiểm soát nào cả, không có cơ chế bắt buộc nào cả. Vào năm 2007, chúng tôi đã có loạt bài đề cập đến sự lừa dối trong việc lưu hành xăng dầu không bảo đảm chất lượng và kiến nghị các cơ quan chức năng có biện pháp kiểm tra, nhưng từ đó đến nay vẫn không thấy có động thái làm rõ (Loạt bài “Euro 2” và chất lượng xăng dầu: Những “nỗ lực” làm nhỏ đất nước). Cho nên giá nhập khẩu cho đến nay không thể nói là minh bạch.

Về “chi phí định mức”, là chi phí gì? Có hợp lý hay không? Cái gọi là “định mức” đó so với chi phí thực tế đã diễn ra là cao hay thấp? Không ai biết được.

Về “lãi định mức”, cơ chế thị trường gì mà lạ lùng vậy? Đã kinh doanh thì khi có lời, khi phải lỗ, nó tùy thuộc vào năng lực hoạt động của doanh nghiệp, lời hay lỗ có lúc nhiều có lúc ít, sao Nhà nước lại cho sẵn doanh nghiệp một khoản lãi cố định, còn lỗ thì đẩy cho người tiêu dùng? Còn tiền trích quỹ bình ổn cũng thật là vô lý, đây là khoản tiền mà người tiêu dùng tự bình ổn giá cho mình, nó giống như lấy tiền túi bên trái ra cất một thời gian rồi cho vào túi bên phải, nhưng lại được đưa vòng đến một nơi khác, dù nơi đó có sử dụng đúng mục đích đi chăng nữa thì người tiêu dùng cũng chẳng được thêm chút lợi lộc nào.

Về thuế, tổng số tiền 4 sắc thuế của 1 lít xăng kê ra ở trên cộng lại lên tới 6.715 đồng, bằng 53% giá CIF và chiếm hơn 31% giá cơ sở, là mức thuế nặng một cách phi lý. Đặc biệt phi lý là việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu cũng giống như áp dụng đối với rượu bia, thuốc lá. Sự phi lý này báo chí đã nói nhiều. Lãnh đạo Bộ Tài chính giải thích rằng xăng dầu là mặt hàng không tái tạo và không khuyến khích sử dụng, rằng nhiều nước cũng đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng này. Các vị lãnh đạo của chúng ta quên rằng, mỗi nước có đặc điểm riêng của mình, chế độ ta không giống Bắc Triều Tiên cũng không giống Mỹ, không phải cái gì các nước khác làm cũng có thể đem vào nước ta áp dụng. Khác với các nước phát triển, tỷ trọng người dân phải sử dụng xăng dầu ở nước ta là cao nhất, là phổ biến nhất, vì hầu hết các công dân của chúng ta đều đi xe máy, hầu hết nông dân ta phải dùng xăng dầu để cày bừa thu hoạch, ngư dân ta phải dùng xăng dầu để đánh cá…, sao lại bảo xăng dầu là mặt hàng không khuyến khích? Các vị cũng không phân biệt được “tiết kiệm xăng dầu” và “không khuyến khích sử dụng xăng dầu” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Tóm lại, sự không minh bạch do độc quyền và tình trạng lạm thu đã khiến cho giá xăng dầu biến dạng làm vênh vẹo cơ chế thị trường. Bản thân nó đã đành là không đẹp, nó còn làm giảm đi vẻ đẹp tự nhiên của một loạt giá cả các loại hàng hóa khác…(còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

*****

Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 4: Câu chuyện giá cước vận tải

(TNO) Xăng dầu là đầu vào của phần lớn các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ khác trong xã hội, đặc biệt là cước vận tải. Bởi vậy, giá xăng dầu tăng hay giảm sẽ gây tác động dây chuyền, nhưng một bên là giá độc quyền còn bên kia là giá thị trường nên sự tác động diễn ra vô cùng phức tạp trong nền kinh tế, không thể dùng những bài toán giản đơn để suy luận.

Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 4: Câu chuyện giá cước vận tải - ảnh 1Giá xăng dầu tăng hay giảm sẽ gây tác động dây chuyền – Ảnh minh họa của Nguyễn Tuấn

>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 3: Giá xăng dầu làm vênh vẹo cơ chế thị trường
>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 2 : ‘Dịu dàng’ giá lúa
>> Vẻ đẹp của giá cả – Kỳ 1: Một ‘phép lạ

Hãy bàn riêng về giá cước vận tải. Khi giá xăng dầu tăng thì giá cước vận tải vội vàng tăng theo “cho kịp”, nhưng khi giá xăng dầu giảm, các hãng vận tải lại không vội, nhiều hãng coi như không biết. Khi giá xăng dầu giảm liên tiếp đến lần thứ 9 mà giá cước vận tải vẫn không giảm hoặc mới bắt đầu giảm túc tắc thì dư luận hết chịu nổi. Báo chí đồng loạt lên tiếng, vừa phê phán mạnh mẽ các hãng vận tải chây ì trong việc giảm giá cước, vừa kiến nghị các cơ quan chức năng “ra tay”.

Trước sự phê phán đồng loạt của báo chí, Bộ Tài chính cũng không thể im lặng. Bộ này đã ra công văn gửi Bộ Giao thông vận tải và chính quyền các địa phương yêu cầu giảm giá cước, đồng thời tổ chức các đoàn kiểm tra nhằm mục đích buộc các doanh nghiệp vận tải phải giảm giá cước và răn đe các doanh nghiệp chây ì.

Mới nhìn qua thì thấy báo chí lên tiếng đúng, Bộ Tài chính làm cũng kịp thời. Nhưng nghĩ kỹ lại thì thấy có vấn đề. Vận tải là thị trường tự do cạnh tranh không bị giới hạn, có hàng ngàn hàng vạn doanh nghiệp, thậm chí có hàng chục vạn thương nhân tham gia, các thương nhân chỉ đăng ký giá cước chứ Nhà nước không can thiệp, không quản lý giá cước, Nhà nước chỉ “quản lý” giá cước mà doanh nghiệp đăng ký mà thôi. Không có Bộ nào, ngành nào, cơ quan chức năng nào có thể buộc được doanh nghiệp vận tải giảm giá cước, nếu buộc được thì sẽ phải sử dụng lại phương pháp quản lý thời bao cấp và như vậy sẽ phải “giải tán” cơ chế thị trường. Lúc này chính là lúc để cho giá cả làm phận sự để phát huy vẻ đẹp của nó.

Xin lưu ý, sự lên tiếng của báo chí là chính đáng, đó là tiếng nói phản ứng của người tiêu dùng, báo chí có quyền và nên làm như thế. Nhưng phản ứng “lấn tới” bằng cách kêu gọi các cơ quan chức năng vào cuộc là tiếp tay cho những can thiệp phi thị trường, không những không có lợi gì cho người tiêu dùng mà còn gián tiếp gây hại cho công cuộc đổi mới.

Trong nền kinh tế thị trường, theo nhà kinh tế học Friedrich Hayek, giá cả là tín hiệu báo cho một cá thể biết nên làm điều gì và nên điều chỉnh điều gì, sản xuất hoặc kinh doanh nhiều hơn hay ít hơn sản phẩm này hay sản phẩm khác, theo phương pháp nọ hay phương pháp kia. Giá cả cũng là tín hiệu báo cho người tiêu dùng biết nên tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ này hay hàng hóa, dịch vụ khác, tiêu dùng nhiều hơn hay tiêu dùng ít hơn…

 Vẻ đẹp của giá cả - Kỳ 4: Câu chuyện giá cước vận tải - ảnh 2 Một hãng nào đó sẽ giảm giá trước, các hãng khác buộc phải giảm theo nếu không muốn mất khách – Ảnh minh họa của Ngọc Thắng

Nhiều người sẽ bảo giá cả “làm phận sự” của nó đâu không thấy, chỉ thấy giá cước cứ chây ì không chịu giảm. Xin thưa, các biện pháp quản lý của nhà nước, chẳng hạn như “từ 12 giờ trưa nay, giá xăng giảm …”, chúng ta có thể nhìn thấy ngay, còn thị trường thì vận hành tương tác rất chậm chạp. Không thể dùng “con mắt” nhìn các biện pháp can thiệp của nhà nước để nhìn thị trường.

Trong trường hợp giá cước vừa nói, giá cả phát đi tín hiệu cho người tiêu dùng biết chi phí đi taxi hoặc xe khách đang quá cao so với mức mà lẽ ra mà mình phải trả. Khi tín hiệu đó lan tỏa, người ta bắt đầu cân nhắc, sự cân nhắc của người tiêu dùng sẽ dẫn đến việc giảm bớt tần suất đi lại hoặc lựa chọn phương tiện hợp lý hơn. Trước sau gì các hãng vận tải cũng nhận ra được điều này mà chẳng cần ai nhắc nhở, họ sẽ thấy việc giảm giá sẽ có lợi hơn là giữ mức giá cao. Một hãng nào đó sẽ giảm giá trước, các hãng khác buộc phải giảm theo nếu không muốn mất khách. Trong trường hợp này vai trò của báo chí quan trọng ở chỗ, đã giúp các tín hiệu phát ra từ giá cả được lan truyền nhanh chóng. Sự điều tiết chắc chắn sẽ diễn ra một cách hợp lý và bền vững, nhưng hết sức chậm chạp.

Cần phải nói thêm, khuynh hướng tăng nhanh giảm chậm của giá xăng dầu đang gây khó khăn cho việc giảm giá cước của các hãng vận tải. Các hãng này lo ngại tới đây giá xăng dầu sẽ tăng nhanh khiến họ không kịp trở tay, do đó trong khi sự phản ứng bằng hành vi của các khách hàng của họ chưa đủ độ gây bất lợi cho họ, họ cứ giữ giá cao được chừng nào hay chừng đó. Điều này làm cho sự điều chỉnh giá cước trên thị trường vốn đã chậm chạp càng chậm chạp hơn.

Do quán tính ăn sâu từ cơ chế tập trung quan liêu nên người dân (và không ít các nhà báo) vẫn mang khuynh hướng cần sự can thiệp của Nhà nước chứ không chấp nhận sự vận hành chậm chạp đó của thị trường.

Chúng ta thường ca ngợi những doanh nhân có “lòng tốt” và muốn mọi doanh nhân đều như vậy. Nhưng, như vị “sư tổ” của kinh tế học và cũng là “sư tổ” của học thuyết thị trường tự do là Adam Smith đã chỉ rõ, không phải từ lòng tốt của người bán thịt, bán rượu hay bán bánh mì mà chúng ta có được bữa ăn tối, mà từ chính lợi ích của những người đó. Mục đích của mọi doanh nhân đều là lợi nhuận, không nên và không cần phải kêu gọi “lòng tốt” ở họ. Hãy để họ vì lợi ích của chính họ mà đem những điều tốt đẹp đến cho người tiêu dùng.

Thị trường tự do mang lại sự thịnh vượng cho đất nước và sự giàu có khá giả cho dân chúng, gần 30 năm đổi mới ở nước ta là minh chứng đầy thuyết phục, mặc dù thị trường ở nước ta chưa đầy đủ và còn vênh vẹo. Nhưng thị trường tự do cũng mang nhiều rủi ro, điều thường gọi là “mặt trái” của thị trường. Sự chậm chạp trong việc giảm giá cước vừa rồi cũng nằm trong “mặt trái” đó. Đã chấp nhận thị trường thì phải chấp nhận luôn cái “mặt trái” của nó, chẳng thể nào khác được.

Adam Smith cũng không phủ nhận “mặt trái” đó khi ông viết: “Những người cùng kinh doanh một nghề ít khi gặp nhau, ngay cả để vui chơi giải trí, nhưng nếu gặp thì kết thúc câu chuyện bao giờ cũng là một âm mưu chống lại công chúng hoặc vài thủ đoạn chuẩn bị tăng giá” (*). Có lẽ Adam Smith muốn đề cập đến xu hướng hình thành các “nhóm lợi ích” trong cơ chế thị trường.

Ngày nay chúng ta đã thấy các “nhóm lợi ích” phát triển thiên biến vạn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà các Hiệp hội ngành nghề mọc lên như nấm. Nhưng cần phân biệt hai loại: Các “nhóm lợi ích” hình thành một cách tự nhiên và các “nhóm lợi ích” hình thành do sự tiếp tay của các cơ quan nhà nước để lũng đoạn chính sách. Loại thứ nhất sẽ do thị trường điều tiết bằng một môi trường cạnh tranh công bằng và lành mạnh. Còn loại thứ hai thì nhất định phải dùng pháp trị mới có thể triệt phá được.

Tóm lại, câu chuyện về sự vênh váo giữa giá xăng dầu và giá cước vận tải giúp chúng ta nhiều suy tưởng về sự vận hành của thị trường và giá cả.

Hoàng Hải Vân

(*) Trích từ : Adam Smith, An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s