85 năm ngày ra mắt bút nhóm Tự lực văn đoàn – 2 kỳ

***

Thứ sáu, ngày 13 tháng 7 , 2018   

85 năm ngày ra mắt bút nhóm Tự lực văn đoàn – Kỳ I: Tôn chỉ hay hoài bão và khát vọng đổi thay…

NHNLTS: Văn học Việt Nam từ 1930 đến 1945 với sự xuất hiện của Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn (TLVĐ) đã được đánh giá là một giai đoạn văn học quan trọng đánh dấu sự chuyển biến cùa văn học dân tộc từ trung đại sang hiện đại. Vì thế nhắc tới giai đoạn văn học 1930 – 1945 không thể không nhắc tới Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn.

85 năm ngày ra mắt bút nhóm Tự lực văn đoàn - Kỳ I: Tôn chỉ hay hoài bão và khát vọng đổi thay...
ảnh 1(51) Tuần báo Phong hóa và tuần báo Ngày nay đăng tải các tác phẩm của bút nhóm Tự lực văn đoàn.

Lấy tên là Tự lực văn đoàn, những người thành lập nhóm đã ngầm ý khẳng định rằng: đây là một tổ chức tự sức mình đứng ra thành lập, tự sáng tác văn học chủ yếu là văn xuôi để làm giàu cho văn học dân tộc. Điều đó cũng có nghĩa rằng văn đoàn đó không cậy nhờ bàn tay chính phủ hoặc một thế lực chính trị nào, ngoài đường lối do chính họ tự vạch ra.

Do đó khi đi vào hoạt động, Tự lực văn đoàn đã thể hiện hoài bão lớn của mình khi đưa ra tôn chỉ hoạt động nhằm vạch ra đường lối sáng tác của văn đoàn. Để nhận rõ tôn chỉ của nhóm Tự lực văn đoàn về mặt sáng tác không gì bằng chép ra đây chính lời tuyên bố của họ khi văn đoàn ra đời (đăng trên tờ Phong hóa số 67 ngày 2/3/1933: “Tự lực văn đoàn họp những người đồng chí trong văn giới, người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở cho nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương”.

Tôn chỉ ấy gồm 10 điều, nguyên văn như sau:
“1 – Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm cho văn sản trong nước.
2 – Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn lên.
3 – Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
4 – Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam.
5 – Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6 – Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của đất nước mà có tính cách bình dân, khiến người nghe đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái.
7 – Trọng tự do cá nhân.
8 – Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9 – Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt Nam.
10 – Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái với những điều khác”.

Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn trên đây đã thể hiện hoài bão về văn hoá dân tộc, mong muốn xây dựng một nền văn chương hoàn toàn có tính cách An Nam, chống lại mọi yếu tố ngoại lai trái với tinh thần ấy. Trong bối cảnh xã hội – văn hoá những năm đầu thế XX, tôn chỉ ấy như những tuyên ngôn nghệ thuật hùng hồn vạch ra đường lối cách tân văn học, trên những nét lớn sau:

Đối với quan niệm về văn học: thứ nhất,  Đoàn chủ trương tự sức mình làm ra những tác phẩm văn chương có giá trị, giản dị, bình dân; chú ý đến sáng tác hơn là dịch thuật, mô phỏng. Đây là một phản ứng chống lại giai đoạn trước chỉ chuyên chú vào học thuật còn văn học thì chỉ đi phiên dịch ngoại văn.

Thứ hai, đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chương cũng là một quan điểm đúng đắn của Tự lực văn đoàn. Đây không chỉ là phần hình thức, phần trình bày của tác phẩm – áp dụng kĩ thuật viết tiểu thuyết hiện đại phương Tây vào quá trình sáng tác nhằm đổi mới nền tiểu thuyết Việt Nam theo hướng hiện đại từ kết cấu, xây dựng nhân vật, miêu tả nội tâm đến diễn đạt sao cho trong sáng, gọn gàng, uyển chuyển mà còn là ở nội dung – đem tinh thần duy lý của phương Tây vào việc nhận xét, phân tích, phán xét người và việc trong câu chuyện. Tức là chống lại quan niệm thần bí, tính cách bịa đặt vô lý ở những tình tiết hoang đường trong những truyện Nôm hay tiểu thuyết kiếm hiệp. (Điều này đã được Nhất Linh chứng minh qua Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng).

Đối với quan niệm về xã hội và tư tưởng: thứ nhất, soạn những cuốn sách có mục đích phục vụ công cuộc cải cách xã hội và có tính cách bình dân để chống lại khuynh hướng quan liêu phong kiến. Quả vậy, những nhân vật chính trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đều là những người thuộc thành phần trung lưu: Mai, Loan đều là những cô gái “bình dân”; Dũng là con cụ Tuấn nhưng bỏ đi làm cách mạng. Lộc là con bà Ân, bản thân làm tham tá rồi được chức tri huyện. Ngọc là sinh viên trường canh nông nhưng không phải là “trưởng giả, quý phái”. Họ chọn bạn đời, không chú ý đến môn đăng hộ đối, không phân biệt giàu nghèo. Chương là giáo sư trung học yêu Tuyết là gái giang hồ… Khi có phong trào bình dân, chính Tự lực văn đoàn là những người đầu tiên viết những truyện ngắn, tiểu thuyết bình dân: Gánh  hàng hoa, Tối tăm, Anh phải sống, Hai vẻ đẹp…

Thứ hai, diễn tả những vẻ đẹp của đất nước, quảng bá những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để chống lại khuynh hướng cóp nhặt những cảnh sắc nước ngoài vốn đã tồn tại dai dẳng trong văn học trung đại.

Thứ ba,  làm cho người ta biết đạo Khổng không còn hợp nữa. Đây là vấn đề thuộc ý thức hệ: chống lại đạo Khổng vì đạo Khổng không hợp thời nữa, tức là chống lại những tư tưởng về luân thường đạo lý, về đẳng cấp, tôn ti. Thời đại thay đổi thì tư tưởng cũng phải đổi mới. Bây giờ người ta cảm thấy chán đọc những quyển truyện hay bài báo mà rặt những lời dạy bảo về luân lý tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức…, người ta chỉ ham mê những truyện chỉ cốt tả sự thật, “không giảng luân lý không dạy gì ai hết”… miễn sao làm cho người ta vui và cảm động.

 Đối với quan niệm về con người: Điểm nổi bật là trọng tự do cá nhân. Điều này thì ai cũng thấy rõ. Đó là tinh thần chống lễ giáo phong kiến, đòi quyền tự do yêu đương cho tuổi trẻ, đề cao hạnh phúc cá nhân. Các tác phẩm của Tự lực văn đoàn như Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Gia đình, Thoát ly, Thừa tự… đều chĩa mũi nhọn đả kích lễ giáo và nếp sống cổ hủ của đại gia đình phong kiến. Họ hô hào giải phóng phụ nữ khỏi cảnh mẹ chồng nàng dâu, mẹ ghẻ con chồng, cảnh thủ tiết của những người đàn bà trẻ goá bụa. Họ đòi cho nam nữ có quyền được hưởng hạnh phúc riêng. Nhân vật của họ có người là nạn nhân đáng thương, có người đương diện đấu tranh với các lễ giáo khắc nghiệt ấy.

Văn chương lãng mạn trước năm 1930 tức trước Tự lực văn đoàn ra đời là một thứ văn lãng mạn đầy giọng bi quan, giận đời, chán đời của những người thất bại, bất lực trước thời cuộc. Thơ văn chuyển sang một dòng khác hẳn thời Đông Kinh Nghĩa Thục trở nên ủy mị, sướt mướt, thương bạn, nhớ bạn, than thân trách phận, phổ vào những lời réo rắt nỉ non, không còn chút sinh sắc, sinh khí nào nữa. Chẳng hạn, trong Nam Đông Hồ khóc vợ sướt mướt, ngoài Bắc Tương Phố khóc chồng để cho giọt lệ thu còn thấm đẫm cả trang hồi ký. Còn Trần Tuấn Khải hễ cất giọng là “rặt những lời thảm sầu ai oán”. Chính thời đó đã đẻ ra những nhân vật điển hình như Tố Tâm, Đạm Thủy… Đa sầu đa cảm đã trở thành cái mốt trong sáng tác văn thơ: không ốm mà rên, không đau cũng khóc. Người ta gọi đó là “bệnh thời đại”.

Tự lực văn đoàn chủ trương “lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời” là nhằm xua tan đi bầu không khí u uất, ảm đạm đó. Tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn cũng lãng mạn, cũng viết về tình yêu dang dở (Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đôi bạn, Đoạn tuyệt…) nhưng không ai khóc, không ai ốm tương tư, không ai tự vẫn quyên sinh vì tình. Nhân vật của Tự lực văn đoàn cũng buồn, buồn vì hạnh phúc không thành, nhưng lòng ham sống của họ thì chưa bao giờ nguội lạnh. Mai trong Nửa chừng xuân giàu nghị lực và lòng hi sinh. Loan trong Đoạn tuyệt luôn luôn hướng về lý tưởng của cô là lấy được người mình yêu. Dũng vẫn ôm mộng làm cách mạng dù là hoạt động phiêu lưu. Trong hoàn cảnh thời Pháp thuộc, cái nhân văn tiểu tư sản đó tiến bộ hơn nhiều so với cái nhân văn cổ hủ, hẹp hòi thời phong kiến. Trong tác phẩm Tự lực văn đoàn thanh niên chưa dám đứng lên cứu nước mà đang tìm mọi cách thoát ly khỏi thực tế đời sống.

Nhìn chung với những điểm đã phân tích trên về tôn chỉ của Tự lực văn đoàn cho thấy: Tự lực văn đoàn đã trở thành nhóm văn học hiện đại đầu tiên đề ra được tôn chỉ, mục đích rõ ràng trong sáng tác. Những đóng góp của Tự lực văn đoàn trên phương diện này vào việc cách tân, đổi mới văn học dân tộc từ đầu thế kỉ XX là khá rõ. Với những yếu tố tích cực như chủ trương giải phóng cá nhân, cảm thông với họ về lòng kháo khát tự do, tình yêu tuổi trẻ, tìm tòi một tư tưởng mới, ham muốn hạnh phúc chân chính, hướng về dân tộc, yêu đất nước quê hương…

Tự lực văn đoàn đã đề ra  một đường lối sáng tác mới mẻ, hiện đại nhưng vẫn gắn với truyền thống dân tộc, và kết quả họ đã sáng tác được những tác phẩm văn học hay mang nhiều giá trị nhân bản, nhân văn đẹp đẽ  về con người, khác hẳn với những dòng văn học trước đó. Nói như Hoài Thanh bởi vì “nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này – Quan niệm cá nhân”. Như thế cũng có nghĩa là đường lối của họ đi ngược lại với những quan niệm trọng đạo đức và ưa những lí tưởng ước lệ của các văn gia lớp trước còn chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Hán Nôm. Họ muốn đưa cuộc đời thực tế vào văn học và không bận tâm đến những giáo điều luân lý của Nho gia. Có thể nói họ đã chủ trương làm “văn học nghệ thuật thuần tuý” tách rời người nghệ sĩ với nhà đạo đức, cho người đó cái quyền chỉ biết đến nghệ thuật của mình mà thôi.
——————-
Đón đọc bài 2: Sự chuyên nghiệp và sáng tạo

 Một hiện tượng văn học độc đáo 

Tự lực văn đoàn xuất hiện năm 1932 và kết thúc vai trò lịch sử của mình vào năm 1944. Đây là một tổ chức gồm 8 người: Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Trần Tiêu hoạt động có tôn chỉ, mục đích rõ ràng, có cơ quan ngôn luận riêng (Tờ Phong hóa, Ngày nay)

Tự lực văn đoàn là một hiện tượng văn học độc đáo nhưng khá phức tạp của văn học Việt Nam. Do đó, tuy chỉ tồn tại trong vòng 10 năm nhưng từ khi ra đời cho đến nay Tự lực văn đoàn đã trở thành một tiêu điểm chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học trên nhiều mặt.

Hơn 80 năm qua đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn ở thời kì trước Cách mạng tháng Tám, trong đô thị miền Nam thời chống Mỹ và ở miền Bắc khi hoà bình lập lại, rồi cả nước sau Đổi mới. Bài viết này được tiếp thu và kế thừa những ý kiến của các nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Hà Minh Đức, Bùi Xuân Đào, Phạm Thế Ngũ, Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Mai Hương… khi tìm hiểu “Những đóng góp của Tự lực văn đoàn vào đời sống văn học dân tộc từ đầu thế kỉ XX”. Với tinh thần tôn trọng một phần di sản văn chương của văn học dân tộc trong thời kì hiện đại, bài viết mong muốn làm sáng rõ những đóng góp của Tự lực văn đoàn trên những bình diện như tôn chỉ, các hoạt động từ đó sẽ đưa ra những đánh giá công bằng, đúng đắn, khách quan.

Nguyễn Hương Giang
***

Chủ nhật, ngày 22 tháng 7 , 2018

85 năm ngày ra mắt bút nhóm Tự lực văn đoàn – Kỳ II: Sự chuyên nghiệp và sáng tạo

NHNNhững đóng góp của Tự lực văn đoàn vào đời sống văn học dân tộc từ đầu thế kỉ XX không chỉ thể hiện ở tôn chỉ mà còn ở cả những hoạt động nổi bật như hoạt động báo chí, xuất bản, giải thưởng và việc cổ vũ cho sự thắng thế của Thơ mới.

Từ những hoạt động báo chí, nhà xuất bản chuyên nghiệp…

Nền văn học hiện đại tất không thể phát triển, không thể được phổ biến rộng rãi nếu không có một nghề cực kì quan trọng và một phương tiện hỗ trợ cực kì hiệu quả: nghề in và báo chí. Bởi vậy, ngay sau khi xuất hiện ở Việt Nam, ba mươi năm đầu thế kỷ XX, thậm chí cho tới hết thời kỳ 1932 – 1945, báo chí  đã trở thành “bà đỡ” cho văn chương mới đang thành hình.

Thời gian này, các văn nhân hiện đại đã xuất hiện và trưởng thành trong môi trường báo chí. Xung quanh một số tờ báo lớn thời đó đã quy tụ những nhà văn, những nhóm nhà văn chủ chốt đương thời. Sáng tác của họ đều cơ bản xuất hiện trên báo rồi sau mới được các nhà xuất bản in lại thành sách.

Tự lực văn đoàn là nhóm đứng đầu về sự chuyên nghiệp nghề văn trong những năm 1930 – 1945.

Tính chất đặc biệt của báo chí giai đoạn này thể hiện ở chỗ nó không chỉ đơn thuần đưa tin mà có thể nói – là bách khoa thư. Trên báo có tất cả: dạy viết chữ quốc ngữ, phép chính tả, đưa tin, dạy viết văn làm thơ theo lối mới, lối cũ, đăng các tác phẩm văn học mới, dịch thuật (những kiệt tác về văn học và tư tưởng của cả phương Đông lẫn phương Tây), hình thành nên những thể loại văn học hiện đại… Một cách tổng quát, hai nhiệm vụ cơ bản của báo chí thời kỳ này là: Tổng duyệt những giá trị cũ làm nền tảng cho mai hậu và tiếp nhận những nguồn ảnh hưởng văn học mới từ phương Tây.

Nhắc tới hoạt động báo chí của Tự lực văn đoàn người ta nhớ ngay tới tờ Phong hóa và Ngày nay. Chính qua tuần báo Phong hóa mới mà nhóm ra mắt quốc dân. Tờ báo nổ ra như một trái bom, mang lại cho xã hội Việt Nam khi đó một món quà người ta chưa hề được thưởng thức: Cái cười. Xã hội ta xưa vốn đã có những câu thơ trào phúng, những câu chuyện tiếu lâm song thường là những cái cười vụn vặt tài tử. Ở Phong hóa thì khác. Cái cười được hiện diện trong một chuyên tập, như một chuyên môn, do những người chuyên vắt óc nghĩ cách cù cho người khác cười. Nhất là không chỉ bằng những câu chuyện kể mà còn bằng những bức tranh khôi hài nhiều chân dung hí hoạ có khi động chạm đến cả những nhân vật tai to mặt lớn thời bấy giờ như Hoàng Trọng Phu trong loạt bài hoạt kê “Đi xem mũ cánh chuồn”. Báo trào phúng Việt Nam quả đến đây mới có.

Phong hóa hoạt động sôi nổi đến năm 1936 thì bị đóng cửa vĩnh viễn. Song song với Phong hóa nhóm Tự lực văn đoàn còn cho ra mắt một mặt trận nữa để chinh phục độc giả, đó là tờ Ngày nay (ra đời sau Phong hóa hai năm). Ban đầu Ngày nay chỉ chuyên về phóng sự điều tra với rất nhiều hình chụp có tính cách mỹ thuật tựa như những tạp chí ngoại quốc như Paris Match, News Magazine, Life… Sau khi Phong hóa bị thu giấy phép, nhóm tập trung vào tờ Ngày nay với hai phần chính là tiểu thuyết và “trông tìm”.

Đến cuối năm 1936 thời cuộc chính trị sôi nổi vì phong trào kiến nghị để chờ đón Ủy ban điều tra của chính phủ bình dân Pháp khai sáng, Tự lực văn đoàn lại cho tái sinh phần trào phúng nhưng giảm bớt so với Phong hóa, gọi là “cười nửa miệng” thôi. Ngày nay trong những năm 37, 38, 39 thường là nơi diễn đàn thời sự cho cây bút sắc sảo Hoàng Đạo đưa ra những vấn đề chính trị và xã hội đòi chính quyền thực dân giải quyết như vấn đề tự do của nghiệp đoàn, của báo chí, vấn đề đời sống dân quê trong mục “Bùn lầy nước đọng”, vấn đề công bằng và luật pháp trong “Trước vành móng ngựa”. Đây cũng là nơi diễn ra những cuộc bút chiến văn chương. Nhưng quan trọng hơn cả, Ngày nay còn là nơi mà đa số những mầm non nghệ thuật trong nước hướng vào như một thứ “hàn lâm viện”, với những giải thưởng văn chương công bố hàng năm. Với Ngày nay, Tự lực văn đoàn mở rộng cửa để đón thêm nhiều văn thi gia có giá trị khác như Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận…

Không chỉ thế, ra báo Phong hóa được vài tháng, nhóm Tự lực được thành hình, Nguyễn Tường Tam nghĩ ngay đến sự cần thiết có một nhà xuất bản. Mới đầu ông nhờ người ngoài có vốn thành lập hội An Nam xuất bản cục. Mấy tác phẩm đầu tiên như Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên đều in ở đó. Sau để bảo toàn tính cách tự lập, văn đoàn mới dựng lên nhà xuất bản Đời nay. Những tiểu thuyết của văn đoàn thường đăng trên báo trước, sau đó mới xuất bản ra sách. Nếu báo bán rất chạy thì sách của họ in ra cũng không kém.

Sau 12 tháng làm việc, tính ra họ đã tung ra công chúng được 54 ngàn cuốn, tất cả đều là tiểu thuyết, trừ hai tập thơ của Thế Lữ và Tú Mỡ. Mới đầu, Đời Nay chỉ xuất bản những sách của nhóm Tự lực văn đoàn sau đó mở rộng ra, xuất bản những sách được giải thưởng Tự lực văn đoàn, hoặc sách của các nhà văn mà họ công nhận giá trị và thấy không sai ngược với tôn chỉ của mình, như tiểu thuyết của Nguyên Hồng, Nguyễn Khắc Mẫn, thơ của Anh Thơ, Tế Hanh. Mới đầu chuyên chú vào làm sách đẹp, sau để văn phẩm phổ cập đến những tầng lớp ít tiền, họ ra những loại cũng in những tác phẩm ấy nhưng bán rẻ hơn, loại Lá mạ, Nắng mới thường ra cuốn nào bán hết cuốn ấy.

Không những văn chương được yêu chuộng, mà sách trình bảy dưới con mắt của Nguyễn Tường Tam cũng mới hẳn, có mỹ thuật, đẹp mắt, từ bìa ngoài đến trang trong, khác hẳn cách luộm thuộm cổ lỗ của các thư quán thương mại bấy giờ. Lần đầu tiên nước ta có một nhà xuất bản theo đuổi một mục đích văn học, làm việc dưới một tôn chỉ văn học, nó khác hẳn với một số nhà xuất bản thời đó chỉ chú trọng đến vấn đề thương mại, làm giàu, bắt chẹt những nhà văn mới vào nghề như Tân Dân.

Ở đây ta có thể nói Đời Nay đã mở ra môt kỉ nguyên mới cho cuốn sách trong lịch sử văn học Việt Nam đồng thời giúp văn đoàn họ truyền bá rộng rãi những tác phẩm cùng tư tưởng và quan niệm của văn đoàn. Đến năm 1940, tờ Ngày nay đóng cửa, song nhà xuất bản vẫn còn và tiếp tục công việc phổ biến các sách của họ.

Đến sáng kiến mở giải thưởng và cổ vũ cho sự thắng thế của Thơ mới

Công bằng mà nói, nếu nói về sự chuyên nghiệp làm nghề văn thì Tự lực văn đoàn là nhóm đứng đầu thời đó. Họ biết cách làm ăn, tôn trọng thị hiếu độc giả, một phần vì tiền nhưng một phần vì nghệ thuật văn chương, không chèn ép nhà văn, không chú ý đến lợi nhuận. Nhà xuất bản Đời Nay bên cạnh việc in sách của anh em Nhất Linh thì họ cũng đặc biệt ưu ái, “lăng xê” những tên tuổi khác như Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… Không những thế, Tự lực văn đoàn còn có sáng kiến mở giải thưởng. Từ năm 1935, Tự lực văn đoàn mở giải thưởng hàng năm.

Tính đến 1939 họ trao 4 lần giải. Nhiều nhà thơ, nhà văn sau này nổi tiếng đều do họ chọn ra. Đỗ Đức Thu (Ba), Vi Huyền Đắc (Kim Tiền), Nguyên Hồng (Bỉ vỏ), Mạnh Phú Tứ (Làm lẽ), Anh Thơ (Bức tranh quê), Nguyễn Bính (Tâm hồn tôi), Lê Đại Thanh (Hai người học trò), Tế Hanh (Nghẹn ngào), Trần Mai Ninh (Rạng đông), Cung Khanh (Cách ba ngàn năm)… Giải thưởng không chỉ có ý nghĩa trong việc phát hiện tài năng mà còn khích lệ những tài năng ấy tiếp tục cống hiến, sáng tạo nhiều hơn nữa. Điều này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao trước cách mạng nhờ có Tự lực văn đoàn mà thị trường sách của nước ta sầm uất hẳn lên.

Sự xuất hiện của Thơ mới là tất yếu khi xã hội Việt Nam va chạm với phương Tây, như Hoài Thanh đã xác nhận trong cuốn Thi Nhân Việt Nam: “Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hoá phương Tây, cái mầm sau này sẽ nảy thành thơ mới”. Nhưng sự thắng thế của Thơ mới không thể không nhắc tới vai trò của báo chí, trong đó có hai tờ Phong hóa và Ngày nay của Tự lực văn đoàn. Điều này đã được tác giả Thi Nhân Việt Nam nói rõ: “Báo Phong hóa mới ra ngày 22/9/1932.

Ngay số đầu tiên đã có bài công kích thơ Đường luật và kết luận rằng: “Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”. Từ đó cho đến cuối năm 1932 Phong hóa không đăng Thơ mới nhưng cũng không đăng thơ cũ. Phong hóa lại còn giễu thơ cũ bằng cách giễu Tản Đà – người đại biểu chính thức cho nền thơ cũ. Bài Cảm thu tiễn thu của Tản Đà đã làm đầu đề cho một bức tranh khôi hài của Đông Sơn và một bài hát nói khôi hài của Tú Mỡ. Họ so sánh cảnh thực với cảnh mộng trong trí tưởng tượng của thi nhân… Phá hoại rồi kiến thiết. Nhận được của ông Lưu Trọng Lư bức thư gửi cho ông Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa số Tết ra ngày 24/1/1933 cùng với ít bài Thơ mới của Lưu Trọng Lư, Tân Việt, Thế Lữ. Tiếp theo đó Phong hoá luôn luôn đăng thơ mới của Lưu Trọng Lư, Tứ Ly, Thế Lữ, Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông… Bước sang năm 1936, sự toàn thắng của Thơ mới đã rõ rệt… “Lưu Trọng Lư nở một cười kiêu hãnh, đăng trên Hà Nội báo (19/2/1936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng hai câu:

Nắn nót miễn sao nên bốn vế,
Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa. Thế Lữ khôn hơn chỉ lẳng lặng nói chuyện với người đồng hương – những người trong làng Thơ mới. Từ mục “Lá thắm” của Tinh Hoa đến mục “Tin Thơ” của Ngày nay, từ tháng 5/1937 đến tháng 10/1938 Thế Lữ chăm chú dạy nghề thơ cho những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở nên thi sĩ” (Thi nhân Việt Nam. NXB VH, H-1999).

Trích dẫn hơi dài dòng nhưng cũng để thấy rằng trong cuộc đấu tranh dai dẳng, căng thẳng giữa Thơ mới và thơ cũ thì quan điểm của Tự lực văn đoàn rất rõ ràng là cổ vũ, ủng hộ cho Thơ mới vì Thơ mới cũng có chung tôn chỉ của họ. Chính việc đăng Thơ mới, phát hiện nhiều tài năng thi ca đã góp phần vào sự thắng thế của Thơ mới. Để rồi nhà phê bình Hoài Thanh phải ngỡ ngàng thốt lên đầy kiêu hãnh: “Tôi quả quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực như Xuân Diệu”.

Tìm hiểu về những đóng góp của Tự lực văn đoàn trong đời sống văn học dân tộc từ đầu thế kỉ XX chúng ta thấy lời nhận xét của những nhà nghiên cứu thật xác đáng “Tự lực văn đoàn không phải là nhóm sớm nhất, duy nhất nhưng lại là nhóm có đóng góp lớn nhất cho sự phát triển văn học dân tộc”. 

 Phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả

 
Cũng trong 6 tháng đầu năm, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội đã phối hợp cùng với 9 hội chuyên ngành triển khai các hoạt động chuyên môn nhịp nhàng và hiệu quả. Ngay từ đầu xuân, Hội Liên hiệp đã tổ chức cuộc gặp mặt đầu xuân cho các văn nghệ sĩ Thủ đô với lãnh đạo thành phố; tổ chức cho cán bộ, hội viên học tập, quán triệt sâu sắc các Nghị quyết Trung ương; các Nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của Thành ủy và các chuyên đề, nội dung được quy định học tập trong năm… Hội cũng đã tổ chức đoàn văn nghệ sĩ Thủ đô dự hội thảo 5 vùng kinh đô xưa và nay, 6 tỉnh Bắc miền Trung… ; giới thiệu 60 hội viên tham gia chuyến đi thực tế tại Ba Vì, Đan Phượng, Bắc Từ Liêm và Gia Lâm do Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì về 10 năm hợp nhất Thủ đô theo Nghị quyết 15 của Quốc hội. Bên cạnh đó, Hội đã cử cán bộ và hội viên tham gia nhiều hội thảo, hội nghị, phát động cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về học tập tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018, tham gia vào ban biên tập sách “Những bông hoa đẹp Thành phố Hà Nội” năm 2018 của UBND thành phố, đóng góp ý kiến cho bản báo cáo của Thành ủy về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2008/QH12 của Quốc hội việc điều chỉnh địa giới hành chính Thành phố Hà Nội và một số tỉnh có liên quan (giai đoạn từ 1/8/2008 đến 1/8/2018).
 
  Nguyễn Hương Giang
Advertisements

One thought on “85 năm ngày ra mắt bút nhóm Tự lực văn đoàn – 2 kỳ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s