Khủng hoảng nước ở Việt Nam

English: WATER IN CRISIS – VIETNAM

Việt Nam có tổng cộng 2360 con sông với chiều  dài trên 10km và đáng lẽ sẽ phải cung cấp được nguồn nước dồi dào cho đất nước này. Tuy nhiên, do thiếu cơ sở hạ tầng và khả năng tài chính nên việc tận dụng nguồn cung từ các con sông này còn thấp cộng với phân bổ không đồng đều của lượng mưa đã dẫn đến tình trạng thiếu nước ở khắp nơi.

Mặc dù Việt Nam đã cải thiện tình trạng cung cấp nước của mình trong vài thập kỷ gần đây nhưng vẫn không có sự cải thiện nào đáng kể ở nhiều khu vực nông thôn, những vùng mà tập trung dân số nghèo nhất. Theo báo cáo thì chỉ 39% dân số ở nông thôn được tiếp cận nguồn nước và hệ thống vệ sinh an toàn.  Người dân ở nông thôn đã chuyển từ sử dụng nước mặt từ những chiếc giếng khoan nông sang nguồn nước ngầm được bơm từ các ống nước tư. Ở vùng phía Bắc của Việt Nam quanh Hà Nội, có bằng chứng cho thấy nguồn nước uống có chứa asen (thạch tím). Khoảng 7 triệu người đang sống ở khu vực này có nguy cơ cao bị nhiễm độc asen và đây là một vấn đề thật sự nghiêm trọng vì lượng asen cao như thế có thể gây ung thư, các vấn đề về da và hệ thống thần kinh.

Ngoài ra, do sự phát triển kinh tế nhanh chóng ở Việt Nam, chất lượng nước sông ngòi cũng bị ảnh hưởng cùng với sự gia tăng nồng độ của nhiều chất độc khác nhau ở trong nước. Nước trên bề mặt các dòng sông thường bị ô nhiễm bởi các chất gây ô nhiễm hữu cơ như chất thải dầu và chất rắn. Cũng có ô nhiễm từ nước thải chưa được xử lý được thải ra từ các hoạt động công nghiệp và nông nghiệp. Vị trí địa lý và địa thế của mình cũng khiến cho VN này dễ bị ảnh hưởng bởi mối nguy hiểm thiên nhiên như siêu bão, bão, ngập lụt và hạn hán. Điều này sau đó dẫn đến vô số những vấn đề như ô nhiễm nguồn nước và các bệnh lây lan qua việc sử dụng nước ô nhiễm cùng với ảnh hưởng lên đất nông nghiệp và gia súc. Cả ô nhiễm môi trường ở những lưu vực các con sông này và các thảm họa thiên tai đều ảnh hưởng đến sức khỏa cộng đồng của Việt Nam.

Bộ Tài nguyên và môi trường cho rằng 80% bệnh tật ở Việt Nam là do nguồn nước bị ô nhiễm. Mỗi năm Việt Nam có rất nhiều ca mắc bệnh tả, thương hàn, kiết lị và sốt rét. Điều không phải nghi ngờ là ngành nông nghiệp chịu gánh nặng lớn nhất về tài nguyên nước ở Việt Nam. Việt Nam là một trong những nước có các vùng nông nghiệp màu mỡ nhất trên thế giới và cũng là nước sản suất và tiêu thụ gạo hàng đầu. Hiện nay, nước sử dụng cho các mục đích nông nghiệp chiếm hơn 80%  tổng lượng nước. Lúa là cây trồng chủ yếu chiếm đa số tổng diện tích tưới tiêu. Nghề cá, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và dịch vụ cũng góp phần làm tăng nhu cầu nước.

Tài nguyên nước vô cùng quan trọng, đặc biệt là các nguồn nước tự nhiên ở những vùng nông thôn của Việt Nam bởi vì chúng là khởi nguồn cho các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa. Chính phủ Việt Nam đang khắc phục các vấn đề quản lý tài nguyên nước  ở Việt Nam bằng cách thi hành các chinh sách và chương trình liên quan đến vấn đề này. Nhiều thách thức vẫn còn tồn tại bao gồm cải thiện việc tiếp cận nguồn nước sạch và vệ sinh cho cả dân cư ở nông thôn và thành thị, cải thiện sự tham gia và kiến thức của người dân và tăng cường quản lý lưu vực sông.

 

Advertisements

One thought on “Khủng hoảng nước ở Việt Nam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s