Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min… Tiếng Việt thời LM de Rhodes (phần 2)

Linh mục Alexandre de Rhodes và cuốn Phép Giảng Tám Ngày

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các cách dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất vào thời linh mục (LM) Alexandre de Rhodes đến An Nam truyền đạo. Cách gọi đại từ nhân xưng với các ngôi chính là vết tích của truyền thống ngữ pháp La Tinh như sẽ thấy rõ hơn ở phần sau.

Bài này chú trọng đến cách dùng vào thời các giáo sĩ qua An Nam, chứ không phê bình cách phân loại này có chính xác hay không cho loại hình ngôn ngữ đặc biệt của tiếng Việt.

Một điều rất rõ qua các tài liệu vào thời này là LM de Rhodes phải đối phó với một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ, nhất là cách xưng hô thật là phức tạp khiến ông phải giải thích bằng nhiều trang giấy hơn so với các cách dùng khác như danh từ, động từ, giới từ … Các LM Dòng Tên cũng như các Dòng khác đều đã học ngữ pháp La Tinh kỹ lưỡng ngoài những kinh kệ bằng La Tinh dùng hàng ngày, nên đều có khả năng ghi chép một ngoại ngữ qua ‘mẫu có sẵn’ hay ngữ pháp La Tinh.

Kết quả là tài liệu ghi lại ngôn ngữ địa phương vào thế kỷ XVI và XVII trở nên cần thiết trong việc tìm hiểu lịch sử hình thành chúng. Các tương quan ngữ âm ghi nhận trong bài viết không nhất thiết khẳng định nguồn gốc (Việt, Khme hay Hán cổ) của các đại từ nhân xưng. Các cách dùng đại từ nhân xưng trong bản chữ Nôm Thiên Nam Ngữ Lục (TNNL) cũng được tham khảo vì khả năng xuất hiện cùng thời kỳ hay ngay sau thời VBL.

Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false .

Click vào đây để download toàn bài

***

[Trích phần kết luận]

Tóm lại, qua khung cửa nhỏ của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít vào thời VBL, ta có thể nhận ra phần nào các đẳng cấp trong một xã hội quân chủ phong kiến và cách nói khiêm tốn (tôi, tớ, thần), một bản chất cố hữu của con người Á Đông.

Ngoài ra, LM de Rhodes còn ghi lại vết tích của một số giao lưu ngôn ngữ theo dòng thời gian minva (so với dơngvia là tiếng Khme), qua (tôi, giọng Triều Châu/Mân Nam), và bậu (so với tiếng Thái, Tày Nùng)…

Cách xưng hô phức tạp trên còn phản ánh một tư duy tổng hợp từ truyền thống nông nghiệp, khi đại từ nhân xưng còn có khả năng là một dấu ấn của cơ cấu cộng đồng rộng lớn hơn. “Cái tôi” (tính chất cá nhân) đã mờ nhạt đi khi tận dụng cách xưng hô dựa vào liên hệ gia đình và xã hội, khác hẳn với khuynh hướng của ngôn ngữ Ấn Âu. Đây có thể xem là bức tranh giản lược vẽ lại tình trạng xã hội Việt Nam vào thế kỷ XVII, khi biên giới phía nam còn chung đụng với Chiêm Thành (vĩ tuyến 12/LM de Rhodes).

Cấu trúc “mở”, phản ánh các tương quan xã hội không đơn giản của cách xưng hô tiếng Việt. Cấu trúc “mở” này còn có thể dẫn đến những trường hợp tiếng nước ngoài[22] nhập vào dễ dàng hơn trong quá trình giao thoa ngôn ngữ theo dòng lịch sử.

[/Hết trích]

[1] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ độc lập, hiện ở Melbourne (Úc)  email nguyencungthong@yahoo.com

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s