Hiểm họa chiến tranh tiền tệ – 3 bài

  • Hiểm họa chiến tranh tiền tệ
  • Hiểm họa chiến tranh tiền tệ: Cái chết của Bretton Woods
  • Hiểm họa chiến tranh tiền tệ: Ẩn số bản vị vàng

***

Hiểm họa chiến tranh tiền tệ

05:49 AM – 13/08/2015 TN

Cuộc chạy đua phá giá đồng tiền giữa các cường quốc kinh tế trong thập niên 1920 và 1930 là trường hợp kinh điển của chiến tranh tiền tệ.

Nước Đức thời lạm phát phi mã vào thập niên 1920 - Ảnh: rarehistoricalphotos.com
Nước Đức thời lạm phát phi mã vào thập niên 1920 – Ảnh: rarehistoricalphotos.com

Chiến tranh tiền tệ lần thứ nhất trong thế kỷ 20 diễn ra một cách ngoạn mục vào năm 1921, khi bóng ma của Thế chiến thứ nhất còn lởn vởn. Cuộc chiến xảy ra với nhiều vòng đấu trên khắp 5 châu lục và những dư âm kéo dài đến tận thế kỷ 21. Đây là thời kỳ các cường quốc thay phiên phá giá đồng tiền, với những chính sách được mô tả là “bần cùng hóa lân bang” hay “lợi mình hại người” (beggar-thy-neighbor).

Đức, nước bại trận trong Thế chiến thứ nhất, là quốc gia đầu tiên ra đòn vào năm 1921 với một đợt lạm phát được Ngân hàng Trung ương Đức (Reichsbank) tính toán nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh nhưng rốt cuộc đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát để phá hủy nền kinh tế bị kìm kẹp bởi gánh nặng chiến phí. Năm 1922, Reichsbank đã phải điên cuồng in tiền để trả lương cho các nhân viên nhà nước và công nhân nghiệp đoàn. Thậm chí, để tiết kiệm mực in, người ta chỉ in tiền ở một mặt giấy.

Hậu quả là một USD khi ấy có giá trị lớn đến nỗi các du khách Mỹ không thể tiêu xài nó vì các chủ cửa hiệu không tìm đâu ra được hàng triệu mark để thối lại. Trong cuốn Currency Wars: The Making of the Next Global Crisis (tạm dịch: Chiến tranh tiền tệ: Cuộc khủng hoảng toàn cầu kế tiếp đang thành hình), tác giả James Rickards kể rằng thực khách tại các nhà hàng ở Đức thời đó thường đề nghị được trả tiền trước vì biết chắc giá sẽ tăng cao hơn nhiều sau khi họ kết thúc bữa ăn. Trước tình hình hỗn loạn về kinh tế, Pháp và Bỉ đã đưa quân chiếm đóng vùng Ruhr ở phía bắc Đức vào năm 1923 để buộc nước này trả chiến phí.

Vòng xoáy trả đũa

Năm 1925, đến lượt Pháp phá giá đồng nội tệ (franc) trước khi quay trở lại với bản vị vàng, qua đó chiếm được lợi thế xuất khẩu so với Anh và Mỹ, vốn trở lại với thước đo vàng theo tỷ giá trước chiến tranh. Như những gì thể hiện trong bộ phim Nửa đêm ở Paris của Woody Allen, kiều dân Mỹ sống rất xa hoa tại Pháp vào giữa thập niên 1920 bởi tình trạng lạm phát phi mã ở nước này. Một người Mỹ với một ít tiền bằng USD có thể đến Pháp và sống cuộc sống của một ông hoàng, theo Rickards.

Trong khi đó, sau nhiều năm ngậm đắng nuốt cay chịu cảnh suy thoái vì quyết định phục hồi hệ thống bản vị vàng trước năm 1914 của Bộ trưởng Tài chính Winston Churchill, Anh từ bỏ kim loại này vào năm 1931 để giành lại những gì đã mất vào tay Pháp năm 1925. Nước Đức tạm trút gánh nặng vào năm 1931 khi Tổng thống Mỹ Herbert Hoover ký lệnh hoãn trả nợ chiến phí. Sau năm 1933, với sự trỗi dậy của Adolf Hitler, Đức từ từ đi theo lối riêng và rút khỏi giao dịch thương mại thế giới, trở thành nền kinh tế tự cấp tự túc, mặc dù vẫn duy trì liên hệ với Áo và Đông Âu. Mỹ bắt đầu tham chiến năm 1933, khi phá giá USD đối với vàng và giành lại lợi thế cạnh tranh về giá xuất khẩu đã mất vào tay Anh năm 1931. Lúc này, lại đến lượt đi của Pháp và Anh. Năm 1936, Paris từ bỏ bản vị vàng trong khi London phá giá bảng Anh thêm lần nữa để giành lại lợi thế mất vào tay USD năm 1933.

Kết quả của cuộc chiến tranh tiền tệ này dĩ nhiên là một trong những đợt suy thoái tồi tệ nhất của lịch sử thế giới – Đại suy thoái. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt và sản xuất công nghiệp sụp đổ, tạo ra thời kỳ tăng trưởng từ rất yếu tới âm. Các nền kinh tế lớn trên thế giới cùng chạy đua xuống vực thẳm, gây ra gián đoạn thương mại, sụt giảm sản lượng và sinh ra đói nghèo. Tình trạng bấp bênh đó đổ thêm dầu vào lửa cho các xu hướng cực đoan về chính trị, với những hậu quả không thể rõ ràng hơn. Chiến tranh tiền tệ lần thứ nhất không được giải quyết dứt điểm cho đến tận Thế chiến thứ hai và Hội nghị Bretton Woods năm 1944. Bản chất mong manh của hệ thống tiền tệ quốc tế thời kỳ ấy biến chiến tranh tiền tệ lần thứ nhất trở thành câu chuyện cảnh tỉnh cho ngày nay, khi thế giới một lần nữa đối mặt với thách thức lớn về kinh tế toàn cầu.

Chiến tranh tiền tệ là gì ?

Giá trị của đồng tiền có thể chắp cánh hoặc hủy diệt nền kinh tế của một quốc gia. Nếu quá cao, nó sẽ khiến hàng xuất khẩu của đất nước mất tính cạnh tranh.

Nếu quá thấp, nó sẽ khiến việc nhập khẩu quá đắt đỏ và châm ngòi cho tỷ lệ lạm phát cao. Cùng lúc đó, sự biến động giá trị đồng tiền đột ngột thường tạo ra hoang mang trên thị trường tiền tệ.

Chiến tranh tiền tệ là thuật ngữ dùng để mô tả sự phá giá tiền tệ để cạnh tranh, khi nhiều nước cố gắng giảm giá trị đồng tiền của họ nhằm giành lợi thế so với đối thủ. Nếu những nước cạnh tranh chủ động can thiệp vào thị trường và phá giá đồng tiền của họ, thì một cuộc chiến tiền tệ sẽ nổ ra.

Công Chính

***

Hiểm họa chiến tranh tiền tệ: Cái chết của Bretton Woods

08:19 AM – 14/08/2015 TN

Chiến tranh tiền tệ lần thứ hai đã đặt dấu chấm hết cho hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành từ Hội nghị Bretton Woods.

Hiểm họa chiến tranh tiền tệ: Cái chết của Bretton Woods

Kho chứa vàng của Ngân hàng Dự trữ liên bang New York – Ảnh: Forbes

Vào đêm chủ nhật ngày 15.8.1971, từ Phòng Bầu dục, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã cắt ngang mọi chương trình truyền hình ăn khách để đưa ra quyết sách mới về kinh tế. Trong một quyết định quan trọng mà ảnh hưởng của nó sẽ kéo dài đến tận ngày nay, ông Nixon tuyên bố đình chỉ quy đổi USD ra vàng, áp mức thuế đặc biệt 10% đối với hàng hóa nhập khẩu và kiểm soát giá cả trong nước. Quyết định được đưa ra giữa lúc Mỹ chật vật xoay xở giữa cuộc khủng hoảng mà nhiều người gọi là cuộc chiến tiền tệ thứ hai.

Kỷ nguyên Bretton Woods

Khi Thế chiến thứ hai khép lại, các cường quốc kinh tế khối Đồng minh, dưới sự dẫn đầu của Mỹ và Anh, vạch ra một trật tự tiền tệ mới cho thế giới nhằm tránh lặp lại sai lầm của Hiệp ước Versailles và cuộc chiến tiền tệ lần thứ nhất.

Các kế hoạch này được đưa ra tại Hội nghị Bretton Woods ở bang New Hampshire vào tháng 7.1944, với kết quả là một loạt các quy định và thể chế sẽ định hình hệ thống tiền tệ thế giới trong 3 thập niên kế tiếp. Mặc dù bị ngắt quãng bởi một vài đợt suy thoái, về tổng thể, kỷ nguyên Bretton Woods được đánh giá là thời kỳ ổn định tiền tệ, lạm phát thấp, tỷ lệ thất nghiệp thấp, tăng trưởng cao và thu nhập thực tế gia tăng, theo tác giả James Rickards trong cuốn Currency Wars: The Making of the Next Global Crisis (tạm dịch: Chiến tranh tiền tệ: Cuộc khủng hoảng toàn cầu kế tiếp đang thành hình).

Trong thời kỳ này, hệ thống tiền tệ quốc tế dựa vào vàng thông qua việc USD được tự do chuyển đổi thành vàng với giá cố định 35 USD/ounce. Các đồng tiền khác gián tiếp neo giá vào vàng thông qua tỷ giá cố định với USD. Các quốc gia chỉ có thể phá giá tiền tệ với sự chuẩn thuận của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và chỉ trong những trường hợp thâm hụt kéo dài đi kèm lạm phát cao. Dù hình thành dưới hình thức một thỏa thuận quốc tế rộng lớn, cấu trúc Bretton Woods gần như chịu sự chi phối duy nhất của Washington vào thời hoàng kim của sức mạnh kinh tế và quân sự Mỹ.

Bất chấp sự tồn tại của Bretton Woods đến đầu thập niên 1970, những hạt giống của chiến tranh tiền tệ lần thứ hai đã được gieo rắc vào giữa thập niên 1960, với chương trình “súng và bơ” của Lyndon B.Johnson, ám chỉ cuộc chiến tranh VN và chương trình phúc lợi Đại xã hội do vị tổng thống này phát động. Gánh nặng chi phí chiến tranh và chương trình Đại xã hội đè nặng lên nền kinh tế Mỹ, làm tỷ lệ lạm phát leo thang. Tuy vậy, Anh mới là nước nổ phát pháo đầu tiên của cuộc chiến.

Ngày tàn của bản vị vàng

Mặc dù đã mất đi vị thế so với USD trong hệ thống Bretton Woods, bảng Anh vẫn là đồng tiền dự trữ quan trọng. Năm 1945, bảng Anh chiếm tỷ lệ cao hơn USD trong dự trữ toàn cầu. Tỷ lệ này giảm dần và đến năm 1965 chỉ còn chiếm 26%. Cán cân thanh toán của Anh xấu đi nghiêm trọng và vào giữa thập niên 1960, lượng bảng Anh lưu hành trên thế giới gấp 4 lần dự trữ vàng của London, khiến nước này đứng trước nguy cơ sụp đổ hệ thống ngân hàng nếu những người giữ bảng Anh cố gắng đổi sang vàng và USD hàng loạt. Cũng trong giai đoạn này, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle lớn tiếng chỉ trích hệ thống Bretton Woods, đòi chấm dứt vị thế thống lĩnh của USD và kêu gọi quay trở lại với bản vị vàng cổ điển. Năm 1965, Pháp cùng Tây Ban Nha đã chuyển đổi một lượng lớn USD sang vàng. Tổng thống De Gaulle thậm chí còn đề nghị cử hải quân Pháp đến Mỹ chở vàng về nước.

Sau khi ngăn chặn thành công vài cuộc khủng hoảng nhỏ, London buộc phải phá giá đồng bảng vào ngày 18.11.1967, từ 2,8 USD/bảng xuống còn 2,4 USD/bảng, tương đương 14,3%. Vết nứt đầu tiên của hệ thống Bretton Woods đã xuất hiện sau hai thập niên. Nếu Anh có thể phá giá thì những nước khác cũng có thể và những gì xảy ra sau đó đã đi vào lịch sử tiền tệ thế giới. Pháp cùng nhiều nước khác tiến hành chuyển đổi USD thành vàng hàng loạt. Hậu quả là dự trữ vàng của Bộ Tài chính Mỹ giảm từ 20.000 tấn năm 1950 xuống còn 9.000 tấn vào thời điểm Tổng thống Nixon đưa ra quyết định lịch sử năm 1971. “Cú sốc Nixon” trên thực tế đã kết liễu chế độ bản vị vàng cùng với hệ thống Bretton Woods. Thế nhưng, điều khiến châu Âu và Nhật Bản choáng váng không phải là việc Mỹ từ bỏ bản vị vàng mà là mức thuế 10% với mọi hàng hóa nhập khẩu, vốn tương đương với sự phá giá 10% USD trên thực tế.

Quyết định của Nixon bị xem là vi phạm Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT). Tuy nhiên, với những ký ức về cuộc chiến tiền tệ lần thứ nhất cùng vai trò của Mỹ trong việc bảo vệ Nhật Bản và Tây Âu về mặt quân sự cũng như là đối trọng với Liên Xô, những đối tác của Mỹ đã chùn bước trước viễn cảnh một cuộc chiến tranh thương mại. Nhật Bản và châu Âu chỉ đơn giản chấp nhận việc phá giá USD. Vấn đề còn lại chỉ là với mức độ nào và theo những điều khoản của ai.

Công Chính

***

Hiểm họa chiến tranh tiền tệ: Ẩn số bản vị vàng

06:00 AM – 15/08/2015 TN

Việc Trung Quốc phá giá nhân dân tệ chỉ là một bước ngoặt mới trong cuộc chiến tiền tệ bắt đầu cách đây nhiều năm, theo một số chuyên gia.

Chiến tranh tiền tệ đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi trên thế giới - Ảnh: Reuters

Chiến tranh tiền tệ đang diễn ra mọi lúc, mọi nơi trên thế giới – Ảnh: Reuters

Hãy tưởng tượng một cuộc chiến tranh giả lập mà các bên tham chiến không được sử dụng súng, bom và tên lửa. Vũ khí họ có trong tay là những công cụ tài chính như chứng khoán, trái phiếu, tiền tệ, thương phẩm… Một cuộc diễn tập chiến tranh như thế từng được Lầu Năm Góc tổ chức tại một phòng thí nghiệm tối mật năm 2009.

Luật sư James Rickards, một chuyên gia tài chính có 35 năm lăn lộn tại Phố Wall, là một trong những người tham gia chính. Cuộc diễn tập chiến tranh tài chính đầu tiên trong lịch sử này được ông mô tả kỹ lưỡng trong cuốn Currency Wars: The Making of the Next Global Crisis (tạm dịch: Chiến tranh tiền tệ: Cuộc khủng hoảng toàn cầu kế tiếp đang thành hình) xuất bản năm 2012.

Những người tham gia khác bao gồm sĩ quan quân đội, tình báo, quan chức Bộ Tài chính, Cục Dự trữ liên bang (Fed), chuyên gia tài chính…, được chia vào 6 đội: Mỹ, Trung Quốc, Nga, châu Âu, Vành đai Thái Bình Dương (Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, VN…) và cuối cùng là các ngân hàng và quỹ đầu tư.

Rickards “chơi” cho đội Trung Quốc, phía vạch ra kịch bản liên kết với Nga và sử dụng lượng vàng cả hai cùng tích trữ để phát hành một đồng tiền mới dựa vào vàng và quay lưng lại với USD. Hay nói cách khác, 2 thế lực này đang muốn quay trở lại với một hình thức bản vị vàng từng bị kết liễu vào năm 1971. Những bước đi có thể xảy ra là Nga tuyên bố chỉ chấp nhận thanh toán bằng vàng cho dầu khí xuất khẩu, rồi đến lượt Trung Quốc “siết sợi dây thòng lọng quanh cổ USD”.

“Một số người đã cười nhạo chúng tôi khi ấy. Nhưng từ lúc đó, mọi thứ thực sự diễn ra theo đúng cách mà chúng tôi cảnh báo Lầu Năm Góc từ năm 2009”, Rickards nói vào năm 2014, khi Trung Quốc và Nga bắt đầu đẩy mạnh việc tích trữ vàng cũng như xích lại gần nhau về kinh tế.

Chiến tranh tiền tệ lần 3

Theo Rickards, những diễn biến trên là một phần cuộc chiến tranh tiền tệ lần thứ 3, đã được khai mào cách đây hơn 5 năm khi Tổng thống Mỹ Barack Obama thông báo về Sáng kiến xuất khẩu quốc gia trong Thông điệp liên bang vào tháng 1.2010, với mục tiêu tăng gấp đôi sản lượng xuất khẩu trong 5 năm. “Cách quen thuộc và nhanh nhất để đẩy mạnh xuất khẩu luôn là hạ giá đồng tiền”, Rickards viết.

Cũng trong năm 2010, Fed triển khai gói Nới lỏng định lượng (Quantitative easing) thứ hai, tức tiếp tục bơm tiền mặt vào hệ thống tài chính. “Bằng cách sử dụng nới lỏng định lượng để gây lạm phát ở nước ngoài, Mỹ đẩy cao cấu trúc chi phí của hầu hết các nước xuất khẩu lớn và nền kinh tế mới nổi trong cùng một lúc”, theo Rickards. Và như vậy, cuộc chạy đua đã bắt đầu, với những vòng phá giá cạnh tranh mới, khiến Bộ trưởng Tài chính Brazil Guido Mantega phải thốt lên vào tháng 9.2010: “Chúng ta đang ở giữa một cuộc chiến tranh tiền tệ quốc tế”.

Nhiều nhà báo chuyên về tài chính có cùng quan điểm với ông Mantega và củng cố nó bằng cách chỉ ra những đợt can thiệp của nhiều nước nhằm giảm tỷ giá hối đoái khi ấy, bao gồm Trung Quốc, Nhật, Colombia, Israel và Thụy Sĩ. Cột mốc trên cũng được một số chuyên gia nhắc lại khi Trung Quốc bất ngờ phá giá nhân dân tệ trong tuần này. “Chúng ta đã ở trong cuộc chiến tranh tiền tệ. Trung Quốc đang chuyển dịch đồng tiền của họ, và các quốc gia khác cũng đang sử dụng đồng tiền làm công cụ trút bớt áp lực, điều đó có tiềm năng gây bất ổn”, chuyên gia nghiên cứu cấp cao Stephen S.Roach tại Viện Các vấn đề toàn cầu Jackson, Đại học Yale (Mỹ) nói với tờ The New York Times ngày 14.8.

Theo Rickards, chiến tranh tiền tệ diễn ra liên tục trên toàn cầu, tại mọi trung tâm tài chính lớn, giữa giới chủ ngân hàng, nhà buôn, chính khách và các hệ thống tự động, “khiến số phận của những nền kinh tế và những công dân treo lơ lửng”. Sẽ không có ai an toàn với cuộc chiến lần thứ 3 nhưng nó chủ yếu diễn ra trên 3 chiến trường chính: Đại Tây Dương giữa euro và USD; lục địa Á – Âu giữa euro và nhân dân tệ và Thái Bình Dương giữa USD và nhân dân tệ. Trong đó, chiến trường thứ 3 nhiều khả năng sẽ là nguồn gốc cho một cuộc đối đầu toàn diện.

Cuộc đột kích Nhật – Trung

Dưới góc độ chiến tranh tiền tệ, tác giả Rickards thuật lại một vụ căng thẳng ngoại giao khi Nhật Bản bắt giam một thuyền trưởng Trung Quốc bị cáo buộc đâm tàu cá vào tàu tuần duyên nước này gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư vào ngày 7.9.2010.

Bắc Kinh giận dữ yêu cầu Tokyo phóng thích ngay viên thuyền trưởng và xin lỗi. Khi Nhật chưa kịp phản ứng, Trung Quốc dừng toàn bộ việc xuất khẩu đất hiếm sang nước láng giềng. Đến ngày 14.9, Nhật phản công bằng một vụ phá giá đột ngột đồng yen trên thị trường quốc tế, khiến yen giảm giá 3% so với nhân dân tệ trong 3 ngày.

Nếu điều này kéo dài, xuất khẩu của Trung Quốc vào Nhật có thể bị ảnh hưởng trước sự cạnh tranh từ những nước sản xuất hàng giá rẻ khác. Vài tuần sau đó, tình hình được dàn xếp, viên thuyền trưởng được thả, Nhật đưa ra lời xin lỗi chiếu lệ, yen bắt đầu tăng giá và nguồn cung đất hiếm từ Trung Quốc được nối lại.

Công Chính

4 thoughts on “Hiểm họa chiến tranh tiền tệ – 3 bài

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: