Thiên đường ô nhiễm từ FDI Trung Quốc

Hồ Quốc Tuấn (1) – Nguyễn Thị Ngọc Trang (2) – Trần Ngọc Thơ (2)Thứ Hai,  6/6/2016, 17:46 (GMT+7)

Các doanh nghiệp Trung Quốc đang tìm kiếm cơ hội đầu tư vào thị trường Mỹ. Ảnh: Chinanews

(TBKTSG Online) – Bài viết này trích từ nghiên cứu đã được các tác giả trình bày tại hội thảo “Vietnam Forum 2016: Vietnam Thirty years of Doi Moi and beyond” diễn ra ngày 7 và 8- 4-2016 tại Singapore do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS-Yusof Ishak tổ chức.

Chiến lược ép mua trọn gói của FDI Trung Quốc

Năm 2008, UNCTAD đã đưa ra báo cáo World Investment Report để cảnh báo các nước rằng Trung Quốc (TQ) sẽ sử dụng chính các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) để thực hiện chiến lược “tiến ra toàn cầu”. Ưu tiên số một của chiến lược này là tạo ra các con quái vật thật sự, đó là công ty đa quốc gia vô địch toàn cầu (global champions). Với sự hỗ trợ tối đa về chính trị và nguồn lực tài chính từ chính quyền trung ương TQ, các nước chủ nhà rất dễ bị khuất phục bởi chiến lược “ép mua trọn gói” (bundling strategy) bởi các FDI TQ. Chẳng hạn, để nhận được FDI, nước chủ nhà bị ép phải nhận nhà đầu tư, nhà thầu xây dựng là người TQ; hoặc phải trả nợ vay bằng các nguồn nguyên liệu thô; hay phải cho phép họ phát triển các dự án bất động sản ở những vị trí đắc địa hoặc nhạy cảm. Thậm chí là những đề xuất có khả năng ảnh hưởng đến chủ quyền tiền tệ của nước chủ nhà như đề xuất thanh toán bằng đồng nhân dân tệ trong giao dịch thương mại. Tuy chưa có bằng chứng ở nước ta, nhưng cách thức này này có thể thấy thấp thoáng trong các dự án FDI TQ (rõ nhất là các điều khoản đính kèm phải có lao động người TQ?). Có thể nói ngắn gọn đây là một chiến lược mà các nước phải chịu đánh đổi bằng cách “thế chấp tương lai” cho TQ.

Giả thuyết thiên đường ô nhiễm từ FDI của Trung Quốc

Trước sức ép của người dân trong nước do các doanh nghiệp (DN) tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng, chính phủ TQ buộc phải gia tăng các tiêu chuẩn về môi trường một cách khắt khe hơn. Nghiên cứu của George Bush Shool of Government and Public Service (2012) đã đặt ra giả thuyết thiên đường ô nhiễm của FDI TQ khi phát biểu rằng các công ty đa quốc gia hoạt động trong các lĩnh vực gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở TQ đang tìm cách chuyển nguồn lực sang các quốc gia đang phát triển, nơi có rất ít những chuẩn mực thỏa đáng về môi trường, cơ sở hạ tầng yếu kém, tỷ lệ tham nhũng cao và những yếu kém trong thể chế quản trị quốc gia. Nghiên cứu này cho thấy tăng trưởng kinh tế ở một số nước điển hình ở châu Á là Mông Cổ và Myanmar (và nhiều nước châu Phi) hầu như được dẫn dắt bởi FDI TQ. Điều đặc biệt nguy hiểm là sự phụ thuộc này đã lớn đến mức tạo nên cái gọi là một thứ “quyền lực ngầm” (unconscious power) làm cho chính phủ nước chủ nhà hoàn toàn bất lực và để mặc cho FDI TQ mặc sức tàn phá môi trường ở nước mình.

Như vậy chiến lược ép mua trọn gói từ FDI TQ có thể tóm lược như sau: “nhận đầu tư trọn gói: không quyền con người, không dân chủ, không bảo vệ môi trường, chỉ có hảo hảo”.

Các DNNN tiến ra nước ngoài là công cụ chính trị của chính phủ Trung Quốc

Theo ước tính, số lượng FDI TQ đi ra toàn cầu có đến trên 60% là DNNN, thậm chí nếu tính luôn FDI không có quốc tịch TQ thì con số có thể lên đến 80%. Trong bài báo “The uniqueness of Chinese outward foreign investment” đăng trên tạp chí Asian Business & Management (tháng 12/2013), tác giả bài báo cho rằng mô hình các DNNN chịu sự lãnh đạo của đảng và nhà nước TQ khi đầu tư ra nước ngoài là mô hình độc nhất vô nhị trên thế giới hiện nay. Nhiều nghiên cứu cho thấy mục tiêu chính của FDI TQ (có nguồn gốc DNNN) là không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì những động cơ chính trị. Trong trường hợp này, họ sẽ nhận được chỉ đạo trực tiếp từ chính phủ, nhất là các DN trong các lĩnh vực khai thác tài nguyên và viễn thông. Dựa vào ưu đãi về cơ chế, về nguồn vốn giá rẻ từ chính phủ, các DNNN tiến ra toàn cầu luôn là 1 thế lực đáng sợ. Họ nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ các định chế tài chính nhà nước lớn là các ngân hàng quốc doanh thông qua việc cấp phát hạn mức tín dụng ưu đãi và lãi suất thấp. Thậm chí họ còn nhận được sự hỗ trợ rất lớn từ chính phủ, thông qua SASAC (Ủy ban quản lý và giám sát DNNN) để nhận ưu tiên mua bán ngoại tệ, bảo hiểm các loại rủi ro, kể cả bảo hiểm rủi ro tỷ giá, hoặc nhận được các khoản miễn giảm thuế rất đáng kể. Chính phủ TQ ưu ái các DNNN tiến ra nước ngoài đến mức độ công khai khi Thứ trưởng Bộ Tài chính Chu Quang Diệu tuyên bố thẳng thừng trong phiên hội thảo song phương TQ và Mỹ năm 2011: “Chúng tôi yêu cầu chính phủ Mỹ phải tạo môi trường thuận lợi cho các công ty của chúng tôi, đặt biệt là các DNNN”. Đối với Mỹ mà họ còn dám nói thẳng thừng như thế huống hồ gì đối với các nước đang khát vốn.

Lựa chọn của Việt Nam

FDI TQ chỉ đứng thứ 7 trong các nước đầu tư vào Việt Nam. Nhưng với những đặc điểm độc nhất vô nhị như trên, theo chúng tôi, cần có sự “giám sát đặc biệt” FDI TQ hơn so với các các khu vực FDI từ các nước khác. Thứ nhất, so với các nước khác, FDI TQ phần lớn là các DNNN (hoặc chịu sự kiểm soát của chính phủ) và đều có sự hỗ trợ mạnh mẽ về chính trị và tài chính từ phía chính quyền trung ương. Thứ hai, FDI TQ luôn đi kèm với các chiến lược ép mua trọn gói. Đây là 2 đặc điểm chính phân biệt FDI TQ với các khu vực FDI khác.

Các khu vực FDI từ các quốc gia khác đều không thể có đầy đủ cả hai tính chất này. Đây là hiện tượng mà chúng tôi gọi là Việt Nam đang đứng trước tình thế hai nửa FDI: một của TQ và một của phần còn lại. Dựa trên những thông tin báo chí, trước mắt có thể khái quát một số dấu hiệu và hệ lụy của FDI TQ như sau:

1. Phần lớn FDI TQ đều hướng đến các lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên, những lĩnh vực mà chính phủ TQ luôn có rất nhiều ưu đãi cho các DN tiến ra toàn cầu. Tỷ lệ các dự án đầu tư vào dầu mỏ và khai khoáng của TQ vào nước ta chiếm tới 70% tổng số các dự án, trong đó đáng chú ý là các dự án sắt, thép, xi măng, bauxite.

2. Dòng thác người lao động theo sau các dự án FDI TQ ngày càng phức tạp và tồn tại những làng TQ ngay trên lãnh thổ nước ta. Tình trạng này nếu để kéo dài có thể gây ra những hệ lụy và vượt quá tầm kiểm soát của chính phủ.

3. FDI TQ không quan tâm đến chuyển giao công nghệ và ngày càng có xu hướng gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt, việc TQ đón đầu xu hướng TPP ở nước ta nên thời gian qua đã có một làn sóng đột biến FDI TQ đầu tư vào các ngành dệt nhuộm. Điều này vừa giết chết ngành sản xuất dệt may trong nước đồng thời cũng biến Việt Nam thành một bãi rác ô nhiễm khổng lồ.

4. FDI TQ mang theo những thiết bị mà Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng được hoặc có thể có lựa chọn khác từ những nhà đầu tư thân thiện với môi trường hơn. Điều đáng quan ngại là xu hướng này diễn ra đồng thời với việc thời gian qua chính phủ TQ đã đóng cửa hàng chục ngàn nhà máy do công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Liệu có mối quan hệ nào giữa việc các DN gây ô nhiễm ở TQ đóng cửa và sau đó chuyển sang Việt Nam?

5. Các yếu tố FDI TQ ngày càng lớn mạnh kéo theo nhập siêu từ TQ ngày càng cao đến mức không còn kiểm soát có khả năng sẽ dẫn đến cái gọi là quyền lực ngầm giống như ở Mông Cổ, Myanmar (và nhiều nước châu Phi) đã đề cập ở phần trên.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, bức tranh dòng vốn FDI chảy vào nước ta sau 30 năm đổi mới có thể tóm lược ở tình thế tiến thoái lưỡng nan như sau:

– Sự thu hẹp của khu vực kinh tế tư nhân nội địa so với khu vực kinh tế FDI.

– Sự tồn tại riêng biệt của khu vực FDI công nghệ cao không lan tỏa đến phần còn lại của nền kinh tế.

– Đang tồn tại một khu vực FDI độc nhất vô nhị của Trung Quốc với những vấn đề kinh tế-xã hội riêng của nó.

Nếu vẫn không tìm ra cách giải quyết được tình thế này, chẳng những không thể giải quyết được tình trạng hai nửa của nền kinh tế trong thu hút FDI sau 30 năm đổi mới mà còn tiếp theo một vấn đề nan giải khác là một nền kinh tế 3 làn xe (the three-lane economy). Ở làn xe thứ nhất là các DN FDI với các ưu thế về công nghệ, kỹ năng quản trị và nhận được các ưu đãi từ các chính sách của chính phủ. Ở làn xe thứ hai là khu vực DNNN nhận được những hỗ trợ công khai hoặc ngấm ngầm từ chính phủ. Ở làn xe thứ ba là các DN tư nhân đơn thương độc mã vận động với rất nhiều bất lợi (trừ một số ít DN tư nhân có mối liên hệ tốt với các quan chức địa phương). Kết quả cuối cùng có thể dự báo trước là 2 khu vực ở làn thứ hai và thứ ba sẽ cùng chạy đua xuống đáy, trong khi chỉ có một số ít tập đoàn thân hữu của lãnh đạo địa phương nổi lên.

Thách thức trước mắt đòi hỏi Việt Nam phải tìm cách giải quyết là vấn đề một nền kinh tế FDI hai nửa, với FDI TQ và phần FDI còn lại của thế giới. Điều khó giải quyết là thách thức này lại không liên quan nhiều đến cải cách thể chế, mà thuộc về cách tiếp cận của những nhà hoạch định chính sách đối với các vấn đề TQ có phù hợp với nhận thức và lựa chọn của hầu hết người dân Việt Nam.

Về mặt pháp lý (de jure), không thể nào có một chính sách thu hút FDI phân biệt theo quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhưng về thực tế (de facto), cũng không có gì cấm cản để 1 nước có những ứng xử và giám sát đặc biệt đối với những dự án FDI thuộc về hai nửa không giống với hầu hết phần FDI còn lại của nền kinh tế. Nhưng điều đáng lo và để lại hậu quả lâu dài nhất là các dự án FDI mà gắn liền với chúng là các thứ “quyền lực ngầm” được tạo ra tại các địa phương tiếp nhận FDI (như Myanmar, Mông Cổ và nhiều nước châu Phi đã sập bẫy). Chí ít, giải pháp cho vấn đề này là phải minh bạch tất cả thông tin trước và sau khi các dự án FDI đi vào vận hành. Phải giải quyết thỏa đáng những bức xúc liên quan đến các dự án có biểu hiện gây ra ô nhiễm môi trường. Để tin rằng không có bất kỳ thứ “quyền lực ngầm” hay thỏa thuận “mua trọn gói” nào gắn với các dự án FDI đầu tư vào Việt Nam.

(1) Đại học Bristol, UK
(2) Đại học Kinh tế TPHCM

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s