Hợp tác Công- Tư – Giải pháp thu hút các nguồn lực từ khu vực tư nhân

BNBĐầu tư theo hình thức đối tác công-tư (PPP) là hình thức được áp dụng nhằm thu hút nguồn lực tài chính, quản lý và công nghệ từ tư nhân. Mô hình này đang được thực hiện thí điểm trong cả nước, từ ngày 15-1-2011, theo Quyết định 71/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

ppp-logo-600x340.jpg (460×259)

1.      Hợp tác công – tư ( ppp) là gì?

Mô hình hợp tác công-tư (PPP) thường được nhắc đến như là một cách thức mới và hiệu quả giúp giải quyết vấn đề quá tải cơ sở hạ tầng (CSHT) – một trong những nút thắt cơ bản của nền kinh tế, không những của các quốc gia trên thế giới mà còn đang là vấn đề cần thiết cho nền kinh tế Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh.

PPP là gì?

PPP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Public – Private – Partnership và dịch sang tiếng Việt là hợp tác công – tư. Theo Yescombe, tác giả cuốn sách Public – Private Partnerships: Principles of Policy and Finance (tạm dịch là Hợp tác công – tư: các nguyên lý chính sách và tài trợ), xuất bản năm 2007, thuật ngữ hợp tác công – tư bắt nguồn từ Hoa Kỳ với các chương trình giáo dục được cả khu vực công và khu vực tư cùng tài trợ trong thập niên 1950.

Sau đó, nó được sử dụng rộng rãi để nói đến các liên doanh giữa các chính quyền thành phố và các nhà đầu tư tư nhân trong việc cải tạo các công trình đô thị ở Hoa Kỳ trong thập niên 1960. Kể từ thập niên 1980, thuật ngữ hợp tác công – tư dần phổ biến ở nhiều nước và được hiểu là sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân để cùng xây dựng CSHT hay cung cấp các dịch vụ công cộng. Trên thực tế, mô hình này đã xuất hiện ở Pháp và Anh từ thế kỷ 18 và 19.

Ở Việt Nam, thuật ngữ PPP hay được dùng, nhưng trong tiếng Anh, có ít nhất sáu thuật ngữ tương tự là (1) Private Participation in Infrastructure (PPI), sự tham gia của tư nhân trong cơ sở hạ tầng; (2) Private-Sector Participation (PSP), sự tham gia của khu vực tư; (3) P3, viết tắt của PPP; (4) P-P Partnership, được viết tách ra để phân biệt với viết tắt của thuật ngữ ngang bằng sức mua (PPP – purchasing power parity); (5) Privately-Financed Projects, các dự án được tài trợ bởi tư nhân; và (6) Private Finance Initiative (PFI), sáng kiến tài trợ tư nhân.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình hợp tác công – tư, nhưng cách hiểu phổ biến nhất là nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi bên trong việc xây dựng một CSHT hay cung cấp một dịch vụ công nào đó.

Ở Việt Nam, các nhà đầu tư tư đã có chủ trương tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong phát triển cơ sở hạ tầng trong 10 năm trở lại đây.  Theo trang 3, tạp chí Đầu tư Việt Nam ra ngày 2/11/2009, thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh “ Năm 2009, cơ sở hạ tầng của đất nước không được cải thiện, nó sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam…các hệ thống đường phố của Việt Nam đều có chất lượng thấp, trong khi ngành điện không đủ cung cấp cho nhu cầu của người dân. Thủ tướng cũng phân tích tình hình suy thoái kinh tế thế giới, theo đó Việt Nam xếp hạng thấp nhất về chất lượng cơ sở hạ tầng so với các quốc gia láng giềng” [Oliver Massmann, Partner, Duane Morris LLC Vietnam].

Chuỗi giá trị đầu tư cơ sở hạ tầng đã góp phần tăng 9.5% GDP ở Mỹ, 11% ở Nhật Bản; 21% ở Trung Quốc….Cũng bình luận về hợp tác công-tư, nguyên bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư  Võ Hồng Phúc cũng khẳng định: Trong hợp tác công-tư cả Nhà nước và khu vực tư nhân cùng nhau chia sẻ lợi ích và rủi ro không chỉ nhằm giải quyết khủng hoảng kinh tế vĩ mô mà còn giải quyết những khó khăn về cơ sở hạ tầng [Oliver Massmann, Partner, Duane Morris LLC Vietnam].

2.Các hình thức đầu tư theo hợp tác công – tư

Hiện nay mô hình hợp tác công-tư trên thế giới và Việt Nam được hiểu là  hai thái cực nhà nước hay tư nhân đứng ra làm toàn bộ, các hình thức còn lại, dù ít hay nhiều đều có sự tham gia của cả hai khu vực. Có năm hình thức hợp tác công – tư phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam:

Thứ nhất: Nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu nhưng giao (thường là thông qua đấu giá) cho tư nhân vận hành và khai thác.

Thứ hai: Hơi khác với nhượng quyền khai thác, ở mô hình thiết kế – xây dựng – tài trợ – vận hành (Design- Build – Finance – Operate hay DBFO), khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó vẫn thuộc sở hữu nhà nước.

Thứ ba: Xây dựng – vận hành – chuyển giao (Build – Operate – Transfer hay BOT) là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước. Mô hình này khá phổ biến ở Việt Nam.

Thứ tư: Khác biệt một chút với mô hình BOT, trong mô hình xây dựng – chuyển giao – vận hành (BTO), quyền sở hữu CSHT được chuyển giao ngay cho nhà nước sau khi xây dựng xong, nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình.

Cuối cùng : Là phương thức xây dựng – sở hữu – vận hành (Build – Own – Operate hay BOO). Ở mô hình này, công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành nó. Mô hình BOO rất phổ biến đối với các nhà máy điện cả ở Việt Nam và trên thế giới.

Nguồn thu để trang trải các khoản chi phí đầu tư và vận hành chủ yếu từ: (1) thu phí người sử dụng đối với những dự án có thể thu phí như giao thông chẳng hạn và/hoặc (2) nhà nước trả cho các công ty vận hành khi thuê họ thực hiện một số loại hình dịch vụ không có nguồn thu như quản lý vệ sinh các bệnh viện,  hay các dự án có nguồn thu không đủ bù đắp chi phí. Đối với các dự án có thu phí người sử dụng thì nhà nước là người quyết định mức giá.

Theo tình trạng hiện nay, mô hình  hợp tác công-tư ở Việt Nam đã được thực hiện nổi bật với một số lĩnh vực như:

–    Lĩnh vực Năng lượng điện: Dự án nhà máy điện Phú Mỹ 2-2 và 3 đang dẫn đầu về những dự án công-tư đã được thực hiện. 1500MW điện đã được đầu tư hoàn toàn do khu vực tư nhân. Những nhà máy này sẽ trở thành tài sản quốc gia sau 12 năm và Nhà nước không mất vốn đầu tư.
–    Lĩnh vực cung cấp nước sạch: Dự án nước sạch Thủ Đức cũng có một số hỗ trợ của khu vực công và các doanh nghiệp tư nhân cũng đã tăng thu nhập thông qua bán nước sạch cho khách hàng…
–    Lĩnh vực đường, xử lý chất thải….cũng đã được thực hiện theo mô hình hợp tác công-tư.

Với mô tả ở trên, mô hình PPP trên thực tế đã có mặt ở Việt Nam từ đầu thập niên 1990. Ví dụ, dự án đô thị mới Phú Mỹ Hưng được thực hiện theo cách kết hợp giữa BOT và đổi đất lấy hạ tầng. Đây có thể xem là dự án theo mô hình hợp tác công – tư cũng như đổi đất lấy hạ tầng thành công nhất Việt Nam. Nếu so sánh với nhiều khu đất cũng như tài nguyên khác được giao cho các nhà đầu tư tư nhân mà Nhà nước gần như không thu được gì, thì ở dự án này, Nhà nước đã thu được: khoảng 60% lợi ích tài chính từ dự án, một con đường hiện đại và một mô hình đô thị kiểu mẫu.

Ngoài ra, có thể kể đến nhiều dự án hợp tác công – tư khác đã và đang được triển khai từ thập niên 1990 đến nay như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thức BOO.

Tóm lại, PPP hay hợp tác công – tư không phải là mô hình quá mới ở Việt Nam. Mô hình này có thể góp phần vào việc xây dựng các CSHT hay cung cấp dịch vụ công cộng.

3.Ưu và nhược điểm của mô hình PPP

Theo phân tích của Ngân hàng Phát triển châu Á trong cuốn sách  Public-Private Partnership Handbook (tạm dịch là Sổ tay hướng dẫn mô hình hợp tác công – tư), xuất bản năm 2008, ba động cơ để áp dụng mô hình PPP là thu hút vốn đầu tư tư nhân, gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực có sẵn, và tạo ra động cơ cũng như nâng cao trách nhiệm giải trình.

Nhìn từ góc độ Nhà nước, ưu điểm lớn nhất của hợp tác công – tư là giảm được gánh nặng cũng như rủi ro đối với ngân sách. Ví dụ, đối với một dự án BOT, các nhà đầu tư tư nhân phải chịu hoàn toàn gánh nặng tài chính cũng như rủi ro về vận hành. Hơn thế, mô hình PPP giúp giải quyết được vấn đề kém hiệu quả. Vì mục tiêu lợi nhuận nên các nhà đầu tư tư nhân phải tìm cách để dự án được vận hành hiệu quả hơn. Thêm vào đó, với việc tham gia của khu vực tư nhân, sự sáng tạo, trách nhiệm giải trình cũng như sự minh bạch có khả năng sẽ được cải thiện.

Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của mô hình PPP là chi phí lớn hơn do các nhà đầu tư tư nhân yêu cầu một suất sinh lợi cao hơn. Trong nhiều trường hợp việc thiết kế cơ chế tài chính và cơ chế phân chia trách nhiệm, xác định mức thu phí hay phần trợ cấp của nhà nước là vô cùng phức tạp. Mâu thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân cũng là một vấn đề. Vì một mục tiêu nào đó (ví dụ muốn có một khu đất hay dự án khác) mà nhà đầu tư tư nhân vẽ ra những dự án mà sau khi xây dựng rất ít, thậm chí không có người sử dụng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Hợp tác công-tư (PPP)  trong bối cảnh hiện nay, nếu có sự phối hợp chặt chẽ của  Chính phủ Việt Nam, các tập đoàn xuyên quốc gia và cộng đồng doanh nghiệp thì hiệu quả của nó sẽ lớn hơn rất nhiều. Nền tảng là hình mẫu cho quan hệ đối tác công-tư và hết sức cần thiết để Chính phủ Việt Nam mở rộng phát triển nền kinh tế. Nó sẽ cung cấp động lực để truyền cảm hứng cho nhiều sáng kiến ở cấp tỉnh, cấp quốc gia và khu vực để có thể giảm thiểu rủi ro và huy động tối đa các nguồn lực từ khu vực tư nhân./.

Ths. Nguyễn Duy Hà – Sở KH&ĐT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s