Ký sự 3 kỳ “Giữ cho đại ngàn Tây Nguyên xanh mãi”

Rừng Tây Nguyên- “Lá phổi xanh” đặc biệt quý giá xưa nay đã góp phần sinh thủy, điều hòa nguồn nước, cân bằng sinh thái và môi trường không chỉ trên cao nguyên mà còn cho các tỉnh duyên hải Miền Trung, Miền Đông Nam Bộ và toàn bộ vùng hạ lưu sông Mê Kông. Thực trạng rừng Tây Nguyên bị tàn phá không ngừng, chất lượng rừng nhanh chóng suy giảm, đã khiến việc tìm kiếm và triển khai các giải pháp khả thi nhằm quản lý rừng bền vững trở nên cấp bách hơn bao giờ hết!

Rừng tự nhiên bị chặt phá ở huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai

Ký sự 3 kỳ “Giữ cho đại ngàn Tây Nguyên xanh mãi”

Kỳ I- Thực trạng về nạn phá rừng tự nhiên

Số liệu từ Tổng cục Thống kê và tổng hợp từ Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho thấy: năm 1975 dân số Tây Nguyên khoảng 1,2 triệu người, 18 dân tộc. Tới nay, Tây Nguyên đã có đến 5,6 triệu người, gần như đủ cả 64 dân tộc anh em, là khu vực có tỉ lệ tăng dân số cơ học cao nhất của cả nước.

Sức ép của di dân tự do

Tuyệt đại đa số dân di cư tự do (DCTD) lên Tây Nguyên suốt nhiều thập kỷ qua là nông dân nghèo, cần đất canh tác. Vậy nên, riêng phần diện tích rừng tự nhiên biến thành nương rẫy, đã là con số khổng lồ. Đây là lý do cơ bản nhất, trong các nguyên nhân làm mất rừng tự nhiên. Đa số dự án quy hoạch ổn định đời sống cho dân DCTD đều không thực hiện được trọn vẹn, do trung ương không đáp ứng nổi nhu cầu vốn hỗ trợ của các tỉnh phải nhận dân đến. Cái vòng đói nghèo lẩn quẩn ở những vùng dân DCTD thiếu đất canh tác, ít học, con đông dẫn đến tiếp tục phá rừng, vì thế, luôn là gánh nặng khó tháo gỡ nhất trên khu vực này.

Hồi âm qua email cho Tiền Phong về hiện trạng rừng trên phạm vi quốc gia của ông Nguyễn Quốc Trị- Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm, cho thấy: so với cả nước, rừng Tây Nguyên suy giảm nhanh hơn hẳn cả về số lượng lẫn chất lượng.  

Theo quyết định công bố hiện trạng rừng đến ngày 31/12/2016 của Bộ NN&PTNT, ký ngày 16/5/2017, thì diện tích rừng cả nước hiện có 14.377.682 ha, tăng 315.826 ha so với năm 2015. Trong đó: Rừng tự nhiên 10.242.141ha, tăng 66.621ha so với năm 2015; Rừng trồng 4.135.541 ha, tăng 249.203 ha so với năm 2015; Độ che phủ tương ứng là 41,19%, tăng 0,35% so với năm 2015.

Còn Tây Nguyên, tổng diện tích có rừng 2.558.646 ha, giảm 3.170 ha so với năm 2015. Trong đó: Rừng tự nhiên 2.234.441 ha, chiếm 87,33%, giảm 11.473ha; Rừng trồng: 324.204 ha, chiếm 12,67%, tăng 8.304 ha so với năm 2015; Độ che phủ rừng đạt 46,01%, giảm 0,07% so với năm 2015.

Ai từng gắn bó với rừng đều hiểu: rừng tự nhiên vốn đa dạng, phong phú các giống loài động thực vật có giá trị cân bằng sinh học, điều hòa khí hậu và môi trường hơn hẳn với khoảng cách rất xa, so với rừng trồng nghèo nàn đơn điệu. Vậy mà nhiều nơi trên Tây Nguyên, rừng tự nhiên vẫn bị phá để dân nghèo lấy đất làm rẫy, trồng cây ăn trái hoặc… trồng rừng. Vì rừng trồng có chu kỳ thu hoạch nhanh, các loại cây như tràm hoa vàng, keo tai tượng chỉ vài ba năm cắm xuống đã có thể chặt, bán.

Nhằm ngăn chặn tốc độ đẩy lùi rừng tự nhiên, gần 20 năm qua nhiều mô hình giao khoán quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) cho cộng đồng, doanh nghiệp, cá nhân… đã được triển khai trên khắp địa bàn Tây Nguyên. Nhưng thực tế phũ phàng ai cũng thấy, là đa số các mô hình QLBVR này đều lần lượt thất bại. Nếu không vì chính những người được QLBVR lại đi phá rừng để lấy đất canh tác hoặc bán đất, bán gỗ, thì cũng vì họ bất lực trước đủ loại thủ đoạn phá rừng tinh vi khác nhau.

Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tổng diện tích rừng, đất rừng các tỉnh Tây Nguyên đã giao quản lý, sử dụng tới nay lên đến gần 2,9 triệu hécta, chiếm hơn 87,8% tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp. Trong đó, giao cho các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khoảng 1,2 triệu hécta (chiếm 40%), giao cho các tổ chức là 1,24 triệu hecta (chiếm 37,3%) và giao cho các UBND xã gần 368.000ha (chiếm 20,7%).

Riêng tại Đắk Lắk, tỉnh giao khoán gần 36.056 ha rừng, đất rừng cho 5.026 gia đình, cộng đồng quản lý và bảo vệ. Trong đó 26.984 ha đất có rừng giao khoán cho đồng bào các dân tộc ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Krông Bông, Ea Kar, Cư M’gar và Krông Ana bảo vệ, kiểm tra thấy hơn 10.610 ha rừng trong số này đã bị phá, bị lấn chiếm trái phép.  

Nhiều cánh rừng tự nhiên ở Đắk Nông bị tàn phá lấy đất sản xuất

Hỏi chuyện các hộ nhận khoán QLBVR nhưng lại để rừng bị phá nát, hầu như ai cũng nói khi họ được giao, thì nơi này đã là rừng nghèo sau khai thác cạn kiệt, không còn trữ lượng gỗ. Bảo dân nghèo không có nguồn thu nhập ổn định phải ôm bụng đói để bảo vệ, chờ rừng tái sinh, là điều không thể !

Nhận rừng để … cưa cây, bán đất !

Những năm qua, Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường hiệu quả quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, người nhận khoán rừng được hưởng lợi toàn bộ sản phẩm trên diện tích rừng được giao, ngoài ra còn được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông, hỗ trợ lương thực, cấp năm triệu đồng làm nhà ở, năm triệu đồng để khai hoang diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 400 nghìn đồng xây dựng bể nước sinh hoạt, cùng nhiều chính sách ưu đãi khác.

Lợi dụng chính sách này, không ít nơi trên Tây Nguyên đã giao hàng chục hécta rừng và đất rừng cho… cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện để họ thuê người khai hoang, bán gỗ, canh tác, sử dụng. Nhiều cán bộ nhận đất rừng rồi bán lại, thu lợi cá nhân.

Trên đoạn đường khoảng 9 km từ trạm bảo vệ rừng đầu tiên của xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (trực thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa), càng đi sâu vào tiểu khu 1691, chúng tôi càng thấy nhiều cây gỗ mới bị cưa xẻ ngổn ngang. Còn tại tiểu khu 1684, tự bao giờ rừng đã bị cạo gọt nham nhở để trồng bơ, tiêu, cà phê… Đi càng sâu vào lâm phần QLBVR của xí nghiệp, chúng tôi gặp càng nhiều hộ dân làm rẫy trên đất nhận khoán trồng rừng theo Nghị định 135 của Chính phủ.

Rừng tự nhiên ở xí nghiệp lâm nghiệp Nghĩa Tín xã Quảng Thành thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắk Nông bị dân DCTD phá để trồng tiêu
Rừng giao khoán cho Cty TNHH Gia Nghĩa bị dân phá để lấy đất sản xuất

Chị Phạm Thị Hường từ huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng mới đến lập nghiệp tại xã Quảng Thành từ năm 2015. Chưa có hộ khẩu tại đây, gia đình chị Hường vẫn được xí nghiệp cấp cho hơn 1 ha đất rừng với giá nhận khoán 2 triệu đồng để trồng rừng theo Chương trình 135. Thực tế, chị đã trồng muồng xen tiêu và cà phê. Những vạt rừng cạnh rẫy nhà chị Hường cũng đã bị chặt phá để trồng nhiều loại cây khác.

Theo Thanh tra tỉnh Đắk Nông, việc giao khoán trồng rừng theo Nghị định 135 ở Cty TNHH Gia Nghĩa chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa ưu tiên giải quyết đất cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong 90 hộ nhận khoán, có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú như đã khai nhưng vẫn được giao khoán hơn 83 ha đất rừng. Thậm chí, công ty còn giao khoán hơn 204 ha đất có nguồn gốc từ phá rừng trái phép cho 67 hộ dân khác, dù chưa xử lý xong, chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Công ty giải trình: đã bỏ qua thủ tục lập dự án do áp lực phải trồng lại rừng ngay trên diện tích rừng bị phá, theo chỉ đạo của UBND tỉnh Đắk Nông (!)

Không riêng gì Công ty Gia Nghĩa, nhiều công ty lâm nghiệp khác trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên… cũng giao đất trồng rừng theo Nghị định 135 một cách tràn lan, dẫn đến những hậu quả tương tự.

Theo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, trong tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã giao cho các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng, có tới 282.896 ha đất lâm nghiệp đang bị “tranh chấp”. Còn UBND các cấp đã để mất 209.993 ha, các BQL rừng để mất 112.130 ha, doanh nghiệp nhà nước để mất 87.192 ha, hộ gia đình để mất 25.553 ha…

 

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm Nguyễn Quốc Trị nhận định: hiện tượng lượng mưa thiếu hụt từ 30-50% so với trung bình nhiều năm; hàng trăm hồ chứa ở các tỉnh Tây Nguyên chỉ còn dưới 30-40% so với dung tích thiết kế, mực nước ngầm giảm sâu từ 3-4m khiến hơn 100.000 hộ dân thiếu nước, diện tích cây trồng bị hạn trên 170.000ha trong năm 2016, có nguyên nhân từ chỗ rừng Tây Nguyên đã suy giảm cả về diện tích và chất lượng.

Hoàng Thiên Nga- Lữ Hồ

Ký sự 3 kỳ “Giữ cho đại ngàn Tây Nguyên xanh mãi”  

Kỳ II- Rừng mất do giao khoán sai lầm và cán bộ tiếp tay

Bảo vệ rừng, chính là bảo vệ phúc lợi về môi trường cho toàn xã hội. Chuyển nhiệm vụ này cho các doanh nghiệp chỉ nhắm vào mục tiêu kiếm tiền là chọn sai đối tượng giao khoán. Đã thế, trong khi hàng trăm doanh nghiệp triệt để lợi dụng chính sách giao rừng và đất lâm nghiệp để khai thác gỗ, san nhượng đất đai trái phép, thì hàng nghìn cán bộ cũng không ngại ngần che chắn, ăn chia.

Cao su lấn rừng, lợi bất cập hại

Theo chủ trương của Chính phủ, từ năm 2009- 2020, Tây Nguyên trồng mới 100.000 ha cao su. Chạy theo mối lợi trước mắt, nhiều địa phương khoanh cả các cánh rừng giàu vào diện “rừng nghèo” để được phép chuyển sang trồng cao su. Chỉ đến cuối năm 2016, diện tích cao su toàn vùng đã lên tới hơn 180.000 ha.

Doanh nghiệp được phá rừng trồng cao su cạnh Vườn quốc gia Chư Mom Ray ở Kon Tum

Năm 2011, một chủ doanh nghiệp (DN) quê ở Tây Ninh tiết lộ với Tiền Phong chuyện nhờ quan hệ tốt, ông được cấp tới gần 2000 ha rừng và đất rừng tại huyện Ea H’Leo (tỉnh Đắk Lắk) để thực hiện dự án trồng cao su. Nhằm lách khỏi quy định chuyển đổi mục đích sử dụng quá 500 ha rừng phải trình qua Quốc hội theo Nghị quyết 49/2010, có sếp đã bày ông cách huy động cả con cháu, dâu rể trong gia đình lập 4 công ty khác nhau để triển khai dự án.

Những chiêu bài lách luật tương tự được triệt để vận dụng trong giai đoạn này, đã nhanh chóng làm bốc hơi nhiều vạn hecta rừng tự nhiên Tây Nguyên, để lại phía sau những cánh đồng bạt ngàn cao su non mới trồng. Mà, khi chúng sắp cho thu hoạch, thì thị trường cao su toàn cầu đã rơi vào thời kỳ đại hạ giá.

Từ năm 2006-2011, tỉnh Kon Tum cấp phép chuyển đổi rừng và đất rừng trồng cao su cho 10 đơn vị (56 dự án) với diện tích lên tới hơn 39.000ha. Trong đó, riêng xã Mô Rai (huyện Sa Thầy) đã có 9 đơn vị được cấp phép với diện tích hơn 37.500ha. Tới khi tỉnh Kon Tum tạm dừng việc cấp phép dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su, thì gỗ quý vẫn hàng ngày tuồn ra khỏi địa bàn xã Mô Rai.

Theo quy hoạch của tỉnh Gia Lai đến năm 2015, diện tích đất rừng chuyển đổi sang trồng cao su là trên 66.000 ha, trong đó hơn 51.000 ha đã được phê là rừng nghèo, và tỉnh cũng đã cấp phép 44 dự án trồng cao su cho 17 DN. Trong khi số cao su thực trồng mới đạt gần nửa so với kế hoạch, thì phần lớn diện tích rừng và đất rừng đã bị nhiều DN tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, mua bán, san nhượng trái phép.

Đau xót, là nhiều cánh rừng khộp rất quý giá về đa dạng sinh học lại bị hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cho phép DN ủi phá để trồng cao su. Kết quả, những mảng rừng một mùa rụng lá, đổi màu, tạo phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp bị xóa sổ. Còn cây cao su trồng đi, dặm lại vẫn chẳng lớn nổi vì không phù hợp với thổ nhưỡng nơi này. Rừng hết, vốn DN cũng teo!

Nhận rừng xanh, trả đất trống…

Mười năm qua, Tây Nguyên đã chuyển đổi hơn 80.000 ha đất rừng các loại để xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện. Nhiều DN dù không đủ năng lực tài chính, kỹ thuật nhưng vẫn trình dự án thủy điện nhằm mục đích khai thác khoáng sản, lâm sản. Một số dự án vận hành thành công thì không chịu trồng bù rừng thay thế hoặc chây ì chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.

Tỉnh Đắk Nông từng cho phép triển khai 41 dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp với tổng diện tích rừng hơn 31.600 ha, trong đó có hơn 14.300 ha rừng tự nhiên phải quản lý, bảo vệ. Chỉ sau vài năm bàn giao, gần 4.800 ha rừng tự nhiên đã bị tàn phá, gần 8.300 ha rừng và đất rừng bị lấn chiếm, xâm canh. Tuy Đức là huyện được tỉnh giao tới 18 dự án, với diện tích hơn 9.100ha, và hơn 5.500ha rừng tự nhiên phải quản lý bảo vệ. Đây cũng là địa phương để mất rừng nhiều nhất (hơn 2.200ha) và diện tích bị xâm canh lớn nhất (gần 3.000ha).

Rừng khộp ở huyện Chư Pưh tỉnh Gia Lai bị phá để trồng cao su

Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su tại Tây Nguyên vào năm 2009, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…trên đất lâm nghiệp với diện tích hơn 215.720 ha. Một tỉ lệ lớn rừng tự nhiên vì thế cũng đã không còn. Một số cá nhân và “nhóm lợi ích” liên quan giàu lên, còn thiệt hại thì cộng đồng xã hội cùng chịu.

Doanh nghiệp, cán bộ cùng tiếp sức phá rừng!

Được giao quản lý gần 1 triệu hecta rừng và đất rừng trong tình trạng “cái khó bó cái khôn”, hầu hết trong số 56 công ty lâm nghiệp (CTLN) trên Tây Nguyên rơi vào tình trạng hoạt động không hiệu quả, nợ lương, nợ bảo hiểm… Nhiều CTLN tự cứu bằng cách tổ chức “liên kết trồng rừng” tràn lan. Rốt cục, rừng trồng được thì ít, mà đất rẫy nở ra thì nhiều, với sự tiếp tay đắc lực của cán bộ nhân viên công ty.

Từ năm 2008-2014, Đắk Lắk có hơn 26.400 ha rừng bị phá và lấn chiếm, trong đó các CTLN để mất hơn 11.100ha. Tại tỉnh Đắk Nông, diện tích rừng bị mất và xâm chiếm từ năm 2004 đến nay tới hơn 27.600ha. Trong đó, chỉ  riêng CTLN Trường Xuân (huyện Đắk Song) đã để mất hơn 4.500ha. Còn CTLN Quảng Tín (huyện Tuy Đức) được giao quản lý 9.800ha rừng và đất rừng. Do “liên kết trồng rừng” với 9 doanh nghiệp tư nhân khác, CTLN Quảng Tín đã để mất tới 1.300ha rừng, khiến nguyên dàn 8 cán bộ gồm cả giám đốc, phó giám đốc phải hầu tòa về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Xẻ gỗ trên đất rừng tự nhiên đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng

Đến Kon Tum, dọc quốc lộ 14C từ huyện Ngọc Hồi đi vào xã Mô Rai, phóng viên chứng kiến nhiều xe container ùn ùn chở gỗ ra. Nhiều xe chất gỗ quá tải khiến quốc lộ dập nát, trơ sỏi đá. Vườn quốc gia Chư Mom Ray nằm cạnh quốc lộ 14C có nhiều toán lâm tặc canh giữ cho nhau vào rừng chặt gỗ. Ở xã vùng sâu này, việc lâm tặc hay ai chở gỗ lấy từ Vườn quốc gia đã thành chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.

Nhưng hiếm có nơi nào mà việc phá rừng tự nhiên diễn ra trắng trợn như Ea Súp- huyện giáp biên của tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, nhiều thời điểm trong năm, nhóm phóng viên đều tận mắt thấy những cánh rừng do các CTLN quản lý bị chặt phá tràn lan. Ai cũng có thể gặp những đoàn xe cày độ chế ngang nhiên chở gỗ lậu từ rừng sâu ra trung tâm xã; những tốp hàng chục chiếc xe máy lặc lè chở gỗ công khai chạy trên đường liên xã Ja Lơi; những đoàn xe chở gỗ sao còn ứa nhựa do lâm tặc đốn hạ từ rừng của CTLN Rừng Xanh chạy vào trung tâm xã Cư K’bang xuyên qua tuyến đường đất đỏ liên xã Ea Rốk, Cư K’bang và Ea Lê, trước khi “qua mặt” trạm kiểm lâm địa bàn để tuồn hàng vào các xưởng gỗ.

Tháng 5/2017, tại huyện Ea Kar (tỉnh Đắk Lắk), phóng viên cũng tận thấy rừng bị tàn phá công khai ở xã Cư Yang mà không có cơ quan chức năng nào vào cuộc. Người dẫn đường chua chát  nói: Ôi dào! Trạm kiểm lâm, CTLN rồi UBND xã ở đây có cũng như không! Ngày nào lúc sáng sớm và chiều tối, trên đường liên xã cũng đủ các loại xe chở gỗ phóng bạt mạng. Nhiều năm rồi, đối với dân tôi đây là “chuyện cơm bữa”!

Thế nhưng ông Quách Trung Hiếu, Trạm trưởng trạm kiểm lâm liên xã Cư Yang-Cư Bông-Cư Prông vẫn thản nhiên khẳng định: Từ ngày Thủ tướng lệnh đóng cửa rừng, huyện này đâu có khai thác gỗ rừng nữa ?

Còn ông Y Rốt, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ea Kar thì đoan chắc vùng rừng mà chúng tôi phản ánh bị phá, thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar, không thuộc trách nhiệm của Hạt.

Trong 5 tỉnh Tây Nguyên hiện nay, việc xử lý cán bộ làm trái trong việc QLBVR đang được thực hiện mạnh tay, quyết liệt nhất ở tỉnh Đắk Nông. Hai năm qua, hàng trăm cán bộ từ cấp xã đến cấp tỉnh đã bị kỷ luật, nhiều người đã bị khởi tố. Ông Hà Trung Ký- Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Đắk Nông cho biết: Từ nay đến cuối năm, hàng loạt cán bộ nữa sẽ tiếp tục bị kỷ luật cũng vì liên quan tới việc làm mất rừng. “Nếu không cương quyết, rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh thành đồi trọc hết. Thế nhưng, kỷ luật cán bộ tuy khó, vẫn không quan trọng bằng việc xử lý dứt điểm các nguyên nhân, tìm ra giải pháp sửa sai từ cơ chế, để cán bộ muốn làm bậy cũng không thể, đó mới là điều đáng trăn trở nhất!”- Ông Ký chia sẻ.

Tại một cuộc họp do Ban chỉ đạo Nhà nước về “Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020” tổ chức ở tỉnh Đắk Lắk, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông Nguyễn Đức Luyện thẳng thắn nói: Báo cáo đã nêu nhiều nguyên nhân dẫn đến mất rừng, nhưng tôi nghĩ nguyên nhân đầu tiên chính là cán bộ. Nhiều vụ phá rừng trước đây không xử lý được vì cán bộ có nhận đất nhận rừng, có buôn bán đất đai, “bật đèn xanh” cho phá rừng để sau đó mua bán kiếm lời. Thậm chí có vụ giao công an tỉnh vào cuộc điều tra cũng không thể làm đến cùng, vì có “quân ta” trong đó (!)

Hoàng Thiên Nga- Lữ Hồ

Ký sự 3 kỳ “Giữ cho đại ngàn Tây Nguyên xanh mãi”  

Kỳ 3- Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc

Những cách thức giao khoán bảo vệ rừng đầy khiếm khuyết sau khi triển khai thất bại trên Tây Nguyên, đã trở thành bài học kinh nghiệm buộc các nhà chức trách phải nhìn nhận rõ nguyên nhân, tìm ra các giải pháp khắc phục. Tiến trình hướng tới mục tiêu quản lý rừng bền vững hiện còn vướng nhiều trở ngại, nhưng những mô hình quản lý rừng bền vững đã xuất hiện, và trở nên  đáng chú ý hơn bao giờ hết.

Không thể quản lý rừng theo lối cũ !

Theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2017, thì trong 135 quốc gia, Việt Nam được đánh giá cao về Tài nguyên văn hóa và Du lịch công vụ (hạng 30), Tài nguyên tự nhiên (hạng 34), Sức cạnh tranh về giá (hạng 35)…Tuy nhiên, Việt Nam lại tuột xuống gần chót bảng do Nạn phá rừng (hạng 103), Mức độ bền vững về môi trường (hạng 129).

Sự bất ổn về Rừng và Môi trường trên phạm vi cả nước khiến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhất là đối với khu vực Tây Nguyên. Báo cáo số 55 ngày 23/5/2017 của Ban chỉ đạo Tây Nguyên phản ánh kết quả bước đầu việc triển khai các chỉ thị của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ về quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), và các giải pháp khôi phục rừng bền vững.

Theo đó, kết quả rà soát hiện trạng cho thấy chủ thể nào được giao QLBVR Tây Nguyên những năm qua cũng để mất rừng. UBND các cấp đứng đầu danh sách để mất rừng tới 209.993 ha, tiếp đến là các Ban quản lý rừng phòng hộ để mất 112.130 ha, doanh nghiệp nhà nước 87.192 ha, hộ gia đình 25.553 ha, tổ chức kinh tế 23.446 ha, đơn vị vũ trang 21.436 ha, cộng đồng 5.167 ha, tổ chức khác 2.179 ha.

Sau khi phân tích rõ các nguyên nhân mất rừng, lãnh đạo 5 tỉnh Tây Nguyên lần lượt chốt chương trình hành động, chỉ đạo các sở ngành liên quan sắp xếp lại các mô hình QLBVR, tập trung bảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại, tăng cường trách nhiệm quản lý của các cấp chính quyền, đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, vận động các tổ chức và người dân cùng tham gia.

Ban Bảo vệ rừng Vi Chring hăng hái tuần tra

Là tỉnh “nóng” nhất Tây Nguyên về nạn phá rừng, giữa tháng 7/2017 Đắk Nông xác nhận độ che phủ của rừng ở tỉnh này chỉ còn có 38,8% (tỉ lệ toàn vùng Tây Nguyên là 43,5%). Mạnh tay xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ các cấp vi phạm  QLBVR, Đắk Nông đồng thời đề nghị Bộ NN&PTNN trình Chính phủ hàng loạt kiến nghị tháo gỡ khó khăn.

Các kiến nghị của Đắk Nông đều liên quan đến túi tiền eo hẹp của ngân sách. Như đề nghị tăng mức trần hỗ trợ kinh phí khoán QLBVR lên 400 nghìn đồng/ha cho các công ty lâm nghiệp nhà nước ( CTLN) và doanh nghiệp tư nhân; Đề nghị được chủ động cân đối nguồn thu Dịch vụ môi trường rừng để điều tiết, phân bổ cho tất cả các chủ rừng; Đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ 98,9 tỉ đồng để tỉnh thực hiện chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp; Đề nghị được sử dụng nguồn Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng do các nhà máy thủy điện nộp để trồng 500 ha rừng năm 2017. Riêng các dự án ổn định dân di cư tự do, Đắk Nông đã đề nghị được hỗ trợ tới hơn 1.123 tỷ từ  nay đến năm 2020.

Trai làng Vi ChRing điều tra tài nguyên rừng của cộng đồng- Ảnh FREM

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Đăk Nông còn có 6 CTLN đang lâm vào thế bí, sau lệnh triệt để đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng. Đắk Nông đề nghị Bộ NN&PTNT cho phép tỉnh chuyển đổi loại hình hoạt động của các CTLN này thành các Ban quản lý rừng, hoặc sáp nhập để thành lập 2 khu bảo tồn thiên nhiên mới, theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập có thu. Không riêng Đắk Nông, các tỉnh lân cận cũng đưa ra nhiều kiến nghị tương tự.

Một chuyên gia lâm nghiệp uy tín của Tây Nguyên là PGS.TS Bảo Huy, khi trao đổi với Tiền Phong về các kiến nghị này, đã bày tỏ quan điểm đồng tình. Ông cho rằng cách cho thuê rừng, giao rừng tràn lan như lâu nay tất yếu khiến rừng bị phá. Vì việc QLBVR là dịch vụ công ích, không đem lại nhiều lợi nhuận cho cá nhân hay doanh nghiệp, khó buộc họ mặn mà với việc giữ rừng. Nhà nước cần khoanh diện tích rừng còn lại, đưa vào các khu bảo tồn và bỏ tiền ra để bảo vệ.

Giao rừng cho những người con của đại ngàn

Là giảng viên cao cấp của trường Đại học Tây Nguyên, PGS.TS. Bảo Huy cùng cộng sự đã trải qua nhiều năm tháng “ba cùng” với lực lượng kiểm lâm và đồng bào hàng trăm buôn làng, thôn xã trong việc kiên trì xây dựng thành công các mô hình quản lý rừng bền vững.  Ông đặc biệt tâm đắc với kết quả giữ rừng hữu hiệu của thôn Vi Ch’Ring (xã Hiếu, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum), làng Đê Tar (Xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai), bon Bu Nor (Xã Quảng Tâm, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông), buôn Tul (Xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk) .

Cộng đồng M_Nông bon Bu Nor xã Quảng Tâm huyệnTuy Đức điều tra trữ lượng rừng cộng đồng- Ảnh Bảo Huy

 

Theo PGS.TS Bảo Huy, với quy mô rừng 500-1000 ha có thể giao cho một cộng đồng khoảng 100 hộ để cùng bảo vệ, kinh doanh quay vòng khép kín. Để tránh lạm dụng, người giữ rừng chỉ hưởng lợi từ rừng theo hạn mức nhất định của kỹ thuật quản lý rừng bền vững, dưới sự giám sát của nhân viên lâm nghiệp và cộng đồng địa phương. Thực chất thu nhập từ rừng chỉ đóng góp từ 10-25% cho thu nhập hộ. Tuy nhiên, cộng vào đó, đồng bào còn được thu hái thực phẩm, cây thuốc, lấy củi, và vui với môi trường sống xanh tươi, là giá trị tinh thần không thể đong đếm.

Nơi nào chính quyền địa phương quan tâm hỗ trợ, động viên đồng bào, thì nơi đó mô hình càng phát huy tác dụng. Những cộng đồng tham gia QLBVR thành công cho tới nay đều có nguồn tài trợ từ các dự án của nhà nước hoặc quốc tế, từ khâu xây dựng cho đến quá trình giám sát. Ví dụ như Vi ChRing thì có dự án REDD về chi trả carbon, ở Đê Tar (Gia Lai) và Bu Nor (Đắk Nông ) thì có dự án GTZ hỗ trợ. Thực chất, nguồn tiền tài trợ không lớn. Giá trị là ở phương pháp, cách làm khả thi, đã được các chuyên gia dự án hướng dẫn, chuyển giao.

PGs Bảo Huy thảo luận với đồng bào Mơ Nâm làng Vi ChRing về khu vực giao rừng cho cộng đồng

Thông qua UBND huyện Kon Plông, Tiền Phong đã tiếp cận được những người gắn bó với mô hình quản lý rừng bền vững của thôn Vi Chring, thuộc xã Hiếu phía Bắc tỉnh Kon Tum. Anh A Triệu trưởng thôn Vi Chring kể: 37 hộ đồng bào dân tộc Mơ Nâm được giao quản lý 808 ha từ năm 2008 tới nay. Cá nhân anh chỉ học hết lớp 9 nhưng được dự nhiều cuộc tập huấn, biết rõ giá trị của rừng nên truyền đạt lại. Đồng bào hiểu rừng đầu nguồn nguyên vẹn, thì những cánh đồng dưới thung lũng mới đủ nước để cày cấy. Vì thế, 9 năm qua  trai làng liên tục thay nhau đi tuần tra bảo vệ rừng, không cho đám lâm tặc nào vào rừng chặt phá.

Ông Hoàng Thanh Hải- Chủ tịch UBND xã Hiếu cho biết: Tỉ lệ che phủ rừng ở xã này trên 83%. Với dự án Jica giai đoạn 2008-2015, PGS.TS Bảo Huy cùng các cộng sự về Vi Chring tuyên truyền cho đồng bào hiểu về giá trị của rừng tự nhiên, hướng dẫn các bên tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng thôn quản lý bảo vệ. Nguồn thu chính của đồng bào thôn Vi Chring từ nương rẫy. Kết thúc dự án Jica,  thôn Vi Chring tiếp tục được chọn vào dự án KfW10, tháng 6/2017 mỗi hộ được nhận đợt đầu 1 triệu đồng tiền bảo vệ rừng, phấn khởi lắm.

Được mệnh danh là “Hạ Long trên Tây Nguyên”, Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng có cảnh quan tuyệt đẹp, hiện quản lý 20.338 ha rừng đặc dụng giáp ranh giữa 2 tỉnh Đắk Nông- Lâm Đồng. Lãnh đạo Khu BTTN này nhiều năm qua rất tin cậy giao khoán hơn 8.000 ha đất rừng cho 199 hộ đồng bào dân tộc Mạ ở các xã Ðắk Som, Ðắk P’lao (Ðắk Glong-Đắk Nông) và Ðạ K’nàng, Phi Liêng (Ðam Rông-Lâm Đồng). Mỗi hộ nhận công sá chỉ 7-8 triệu đồng/năm nhưng ngày nào cũng hăng hái tuần tra với tình yêu rừng bất tận, và cam kết sẽ bảo vệ đại ngàn xanh mãi.

PGS.TS. Bảo Huy khẳng định: Thực tế cho thấy không ai thật sự yêu rừng, quyết tâm bảo vệ rừng hơn cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa. Hữu hiệu hơn nữa, khi rừng được gắn liền với văn hóa truyền thống, hoặc huyền tích linh thiêng. Được cấp sổ đỏ giao rừng lâu dài, được hưởng lợi từ lâm sản và dịch vụ môi trường theo cơ chế rõ ràng chặt chẽ, đồng bào thường bảo vệ rừng rất tốt. Minh chứng là khu rừng do đồng bào M’Nông ở bon Bu Nor quản lý, suốt từ năm 1999 đến nay vẫn gần như nguyên vẹn, trong khi rừng của các CTLN xung quanh hầu như đã mất hết.

 Hoàng Thiên Nga- Lữ Hồ

 

 

Advertisements

2 thoughts on “Ký sự 3 kỳ “Giữ cho đại ngàn Tây Nguyên xanh mãi”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s