Nạn buôn bán người ở Việt Nam – Báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ 2017

English: Trafficking in Persons Report 2017 

Chính phủ Việt Nam chưa đạt đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người; tuy nhiên, đã có những nỗ lực đáng kể. So sánh với kỳ báo cáo trước, chính phủ VN đã thể hiện nỗ lực ngày càng tăng; vì vậy, Việt Nam vẫn được duy trì ở nhóm 2.

Chính phủ thể hiện sự tăng thêm nỗ lực thông qua việc xác định các nạn nhân; mở rộng các chương trình đào tạo về chống buôn người và chiến dịch nhận thức cho các cán bộ thực thi pháp luật, cán bộ địa phương, thành viên của các nhóm có nguy cơ bị buôn bán; và ban hành hướng dẫn tới các bộ liên quan, lãnh đạo các tỉnh về kế hoạch hành động quốc gia chống nạn buôn người. Tuy nhiên, chính phủ đã không đạt được những tiêu chuẩn tối thiểu ở một số lĩnh vực chính. Nỗ lực chống nạn buôn người bị cản trở do thiếu sự hợp tác giữa các ngành, các cán bộ tỉnh chưa nắm rõ luật chống buôn bán người, thủ tục xác định nạn nhân, và thu thập dữ liệu chưa đầy đủ.

Việc thực hiện Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015, gồm các điều khoản mới chống buôn bán người, tiếp tục bị chậm trễ, khiến sự thiếu sót trong luật cản trở sự hợp tác liên ngành và nỗ lực thi hành pháp luật. Các dịch vụ bảo vệ nạn nhân vẫn thiếu nguồn lực và thiếu liên kết trong cơ chế chuyển tuyến; các nhà chức trách đã không tích cực kiểm tra hoạt động buôn bán người trong các nhóm có nguy cơ hoặc chuyển nạn nhân vào chăm sóc một cách có hệ thống. Ngoài ra, các nhà chức trách đã trục xuất một số lượng lớn nạn nhân người nước ngoài mà không cung cấp cho họ các dịch vụ bảo vệ.

 Khuyến nghị cho Việt Nam

Ban hành và thực thi đầy đủ điều khoản 150 và 151 của Bộ luật hình sự mới; kiên quyết truy tố tất cả các hình thức buôn bán người, kết án và trừng phạt những kẻ buôn người, đặc biệt trong các trường hợp liên quan tới lao động cưỡng bức hoặc nhân viên nhà nước phạm tội đồng lõa; tăng cường nỗ lực giám sát các công ty tuyển dụng lao động và thực thi các quy định cấm thu các khoản phí tuyển dụng bất hợp lý; sắp xếp và thi hành các chính sách để xác minh và hỗ trợ nạn nhân trong các nhóm có nguy cơ, như lao động di cư, mại dâm, lao động trẻ em, và đào tạo cán bộ có liên quan về những quy trình này; hoàn thiện và tiến hành khảo sát các nạn nhân nhằm cải thiện dịch vụ và cơ chế chuyển tuyến nạn nhân; cải thiện hợp tác liên ngành để thực hiện có hiệu quả kế hoạch hành động quốc gia chống nạn buôn bán người, bao gồm việc làm rõ vai trò của các cơ quan cấp trung ương và cấp tỉnh, kết hợp đầy đủ việc thu thập dữ liệu buôn bán người với nỗ lực thực thi pháp luật, và đảm bảo đủ nguồn lực dành cho kế hoạch hành động quốc gia; tăng them nỗ lực để đào tạo cán bộ trong việc thực thi Bộ luật hình sự sửa đổi, với trọng tâm là xác định và điều tra lao động cưỡng bức và các trường hợp buôn bán người trong nước; cho phép xác minh độc lập về việc người sử dụng ma túy không bị ép buộc lao động cưỡng bức trong các trung tâm cai nghiện của Chính phủ; mở rộng đào tạo cho nhân viên lãnh sự về quyền của người lao động và tiêu chuẩn lao động quốc tế; phát triển các chương trình nhằm giảm kỳ thị và thúc đẩy tái hòa nhập với những nạn nhân bị buôn bán; và thực hiện đầy đủ Công ước ASEAN về chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em.

Qúa trình truy tố

Chính phủ tiếp tục duy trì những cố gắng ở mức khiêm tốn trong thực thi pháp luật. Luật chống buôn bán người năm 2012 đã mở rộng điều 119 và 120 của Bộ luật hình sự trong việc quy định và tội phạm hóa việc hành vi buôn người vì mục đích tình dục và buôn bán người lao động; tuy nhiên, những luật này không ngăn cấm tất cả các hình thức buôn bán người, và chưa từng có ai bị truy tố bởi các điều khoản buôn bán người trong luật chống buôn bán người năm 2012. Năm 2015, Quốc hội thông qua Bộ luật hình sự mới, gồm các điều khoản bổ sung tăng cường, và làm rõ một số quy định chưa đầy đủ của điều 119 và 120; mặc dù vậy, những sửa đổi này không có hiệu lực vào cuối kỳ báo cáo do Quốc hội quyết định ngày bắt đầu thi hành là tháng 7 năm 2016. Điều 119 và 120 quy định khung hình phạt từ 2-20 năm và 3 năm đến tù chung thân tùy từng trường hợp, và phạt tiền đối với người phạm tội mua bán người từ 5 đến 50 triệu đồng (220$-2.196$); những hình phạt này đủ nghiêm khắc và tương xứng với các hình phạt cho các tội nghiêm trọng khác, như tội cưỡng hiếp. Bắt đầu vào năm 2014, chính phủ duy trì dữ liệu tin học quốc gia để theo dõi các vụ việc buôn người; tuy nhiên, mức độ sử dụng hệ thống này trong suốt thời kỳ báo cáo là không rõ ràng, do các cơ quan chính phủ khác nhau vẫn tiếp tục báo cáo các dữ liệu không thống nhất, chồng chéo, hoặc không đầy đủ trong việc thực thi luật chống buôn người và xác định nạn nhân.

Cảnh sát và bộ đội biên phòng đã báo cáo việc điều tra 234 vụ và bắt giữ 308 nghi can, nhưng không báo cáo trong số những người này có bao nhiêu người bị truy tố. Chính phủ thực hiện quy trình khởi tố 355 nghi can buôn bán người theo điều 119 và 120 của Bộ luật hình sự. Trong số này, hệ thống tòa án đã thông báo truy tố 295 bị cáo với tội danh buôn bán người, trong đó 275 người bị kết án, so với 217 người bị kết án năm 2015 và 413 người bị kết án năm 2014; với bản án từ 2 đến 20 năm tù giam. Các nhà chức trách đã không phân tách tội phạm buôn bán người với các trường hợp tội phạm buôn lậu.

Chính phủ đã gửi các phái đoàn liên ngành tham gia các cuộc điều tra trong các vụ việc cụ thể ở Kazakhstan, Ba Lan, Nga, Singapo, Thái Lan và Vương quốc Anh, và thường xuyên hơn ở Trung Quốc, Campuchia, và Lào cho các hoạt động cứu hộ thực thi pháp luật. Trong suốt thời gian báo cáo, Chính phủ đã sửa đổi các hiệp định song phương với Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, và Lào để tăng cường hợp tác chống nạn buôn người.

Nỗ lực thực thi pháp luật gặp nhiều khó khăn do thiếu hợp tác giữa các cơ quan cấp tỉnh, ngân sách hạn chế, cán bộ địa phương còn thiếu hiểu biết về luật chống buôn người, và vai trò và trách nhiệm của các tỉnh trong bối cảnh kế hoạch hành động quốc gia còn chưa rõ ràng. Các nhà lãnh đạo tỉnh thường không thực hiện đúng theo hoạt động và cơ chế hợp tác của chính phủ trung ương theo kế hoạch hành động quốc gia, và không có cơ chế cho Bộ Công an (MPS) – cơ quan dẫn đầu hợp tác liên ngành trong nỗ lực chống buôn người – để chuyển giao những khoản viện trợ cần thiết cho các cơ quan chính phủ khác nhằm thực hiện các hoạt động chống buôn bán người. Những trở ngại này ảnh hưởng khiến nỗ lực thực thi luật chống buôn người không đồng đều.

Ngành công an đã bổ sung một học phần về chống buôn người trong chương trình đào tạo cho cán bộ mới được tuyển dụng, và MPS đã tổ chức tập huấn cho cảnh sát địa phương ở một số thành phố. Chính phủ cũng làm việc với các tổ chức quốc tế để triệu tập hai khóa đào tạo cho 38 công tố viên làm việc ở cấp tỉnh, một buổi semina cho 25 công tố viên nhằm thực hành tốt chống buôn người, và một khóa đào tạo cho 15 công tố viên cấp cao. Hội phụ liên hiệp phụ nữ tổ chức các buổi tập huấn về việc nhận dạng nạn nhân, cũng như sử dụng đường dây nóng cho hơn 10.000 cán bộ địa phương. Bộ Tư lệnh bộ đội biên phòng cũng hoàn thành quy trình tiêu chuẩn mới để điều tra các trường hợp buôn bán bất hợp pháp trong quyền hạn cho phép, nhưng tính đến hết thời gian báo cáo, quy trình này vẫn chưa được áp dụng. Một số cán bộ đồng lõa, chủ yếu ở cấp xã, huyện, nhận hối lộ từ những kẻ buôn lậu, đã bỏ qua các dấu hiệu buôn người, và moi tiền từ nạn nhân để đổi lấy việc đưa họ về đoàn tụ với gia đình. Chính phủ đã không công bố thông tin bất kỳ về điều tra, truy tố hay kết án những quan chức đồng lõa trong việc phạm tội buôn bán người.

Bảo vệ nạn nhân

Chính phủ vẫn gặp nhiều lúng túng trong việc bảo vệ nạn nhân. Năm 2016, nhà chức trách thông báo đã xác định được 1.128 nạn nhân – tăng lên so với 1.000 người năm 2015 và 1.031 người năm 2014 – nhưng không cung cấp số liệu thống kê chi tiết các trường hợp bị buôn bán theo hình thức buôn người, độ tuổi và giới tính nạn nhân, nguồn gốc, hoặc điểm đến. Một cách không chính thức, quan chức MPS ước tính 85% trường hợp được xác định có liên quan tới buôn người xuyên quốc gia. Chính phủ đã thông qua tiêu chuẩn xác định nạn nhân chung như một phần của Sáng kiến phối hợp cấp Bộ trưởng về phòng chống buôn bán người khu vực tiểu vùng sông Mekong, và giữ nguyên quy trình chính thức của sáng kiến này cho việc xác định nạn nhân, nhưng không chủ động hoặc mở rộng cơ chế đối với các nhóm có nguy cơ như phụ nữ bị bắt làm gái mại dâm, lao động di cư trở về từ nước ngoài, và lao động trẻ em. Chính phủ đã tài trợ và thực hiện cuộc khảo sát quốc gia về việc hồi hương và tái hòa nhập của các nạn nhân để thực hiện tốt hơn thủ tục hỗ trợ nạn nhân, nhưng cuộc khảo sát vẫn đang được tiến hành tính đến thời điểm bản báo cáo hoàn thành. Chính phủ đã không đưa nạn nhân vào các dịch vụ bảo vệ một cách có hệ thống do sự không đầy đủ trong quy trình chuyển cấp chính thức, bao gồm sự thiếu hiểu biết về tội phạm buôn người của bộ đội biên phòng, thiếu sự hợp tác quốc tế, quy trình thu thập dữ liệu không đầy đủ. Thêm vào đó, các nhà chức trách đã trục xuất một số lượng lớn các nạn nhân mà không đưa họ vào các dịch vụ bảo vệ, như khoảng 218 nạn nhân Campuchia – 152 trong số đó là trẻ em. Một số cán bộ nhà nước vẫn gộp hành vi buôn người với hành vi buôn lậu, ngăn cản việc xác định các nạn nhân tự nguyện di cư sang nước ngoài.

Năm 2016, chính phủ đã thông báo hỗ trợ khoảng 600 nạn nhân – giảm nhẹ so với 650 nạn nhân năm 2015 và 668 nạn nhân năm 2014. Các nạn nhân có thể yêu cầu tư vấn tâm lý ban đầu, tư vấn chăm sóc sức khỏe, và hỗ trợ tài chính và pháp luật; Chính phủ thông báo đã cung cấp cho nhiều nạn nhân khóa đào tạo nghề, cơ hội việc làm và gói tín dụng với lãi suất thấp. Bộ Lao động thương binh và xã hội (MOLISA) và Hội Liên hiệp phụ nữ thường chuyển các nạn nhân đến các tổ chức phi chính phủ tùy thuộc vào nhu cầu của từng cá nhân. Mặc dù vậy, do hồ sơ lưu trữ không đầy đủ, số lượng nạn nhân được hưởng lợi ích từ các dịch vụ bảo vệ của chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ còn chưa rõ ràng. Các nhà chức trách đã không báo cáo có bao nhiêu nạn nhân nhận được khoản tiền trợ cấp 1 lần của Chính phủ lên đến 21,5 triệu đồng (944$). Bộ Lao động thương binh và xã hội tiếp tục vận hành 400 trung tâm bảo trợ xã hội thông qua chính quyền địa phương để cung cấp các dịch vụ cho một số lượng lớn các nhóm có nguy cơ, bao gồm cả nạn nhân buôn người; những trung tâm này được bố trí nhân viên không đồng đều, không đủ nguồn lực, thiếu nhân viên được đào tạo phù hợp để hỗ trợ nạn nhân. Các tổ chức phi chính phủ đã báo cáo các dịch vụ tư vấn tâm lý xã hội cho các nạn nhân vẫn chưa được phát triển, và cán bộ cấp tỉnh vẫn còn nặng về xóa đói giảm nghèo hơn là các dịch vụ bảo vệ nạn nhân cần thiết hơn.

Hội liên hiệp phụ nữ, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ và với nguồn tài trợ từ nước ngoài, đã tiếp tục vận hành 3 cơ sở tạm lánh ở các thành phố lớn, trong đó có 1 cơ sở dành riêng cho nạn nhân buôn người. Hội liên hiệp báo cáo đã hỗ trợ 25 nạn nhân trong năm 2016, gồm 18 người mới và 7 người đã đến trong thời gian báo cáo trước đó, và giúp 42 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra nước ngoài. Không có các cơ sở tạm lánh dành riêng cho nạn nhân là nam giới hoặc trẻ em, mặc dù những cơ sở tạm lánh đang hoạt động hỗ trợ tất cả nạn nhân khi cần thiết.

Chính phủ đã duy trì các tùy viên lao động tại các đại sứ quán ở các nước có số lượng lớn người lao động Việt Nam nhập cư, nhưng số lượng phái đoàn đó đã giảm từ 9 xuống 6 trong thời gian báo cáo. Những phái đoàn này có thể cung cấp những nhu yếu phẩm cơ bản, dịch vụ vận chuyển và chăm sóc sức khỏe cho công dân Việt nam bị bán ra nước ngoài. Tuy nhiên, một số nhân viên ngoại giao được báo cáo là thiếu sự đào tạo cần thiết để hỗ trợ thích đáng cho nạn nhân, và các tổ chức phi chính phủ cho biết một số phái đoàn Việt Nam ở nước ngoài đã không có động thái gì trước những cố gắng của nước ngoài để kết nối họ với những nạn nhân Việt Nam. Chính phủ đã thông báo có 106 yêu cầu xác minh nạn nhân ở các đại sứ quán, cao điểm nhất có 102 lần hồi hương với sự hỗ trợ của chính phủ; tuy nhiên, tổng số nạn nhân chính quyền địa phương tiếp nhận gần như cao hơn.

Chính phủ khuyến khích nạn nhân buôn người hỗ trợ trong qui trình tố tụng hình sự chống lại những kẻ buôn người và đưa ra một số biện pháp bảo vệ và bồi thường; tuy nhiên, mức độ áp dụng của những phương pháp này vẫn chưa xác định. Luật pháp bảo vệ nạn nhân không bị truy tố do những tội họ gây ra do hậu quả của việc bị trở thành nạn nhân của nạn buôn người, nhưng các tổ chức phi chính phủ đã báo cáo các nạn nhân ít khi đứng ra làm chứng về việc bị lạm dụng trong việc xét xử do sợ hãi họ có thể bị bắt hoặc trục xuất. Sự kỳ thị của cộng đồng và sự lo sợ bị trả thù ở địa phương khiến cho các nạn nhân không thiết tha với việc tìm kiếm hoặc phúc lợi từ dịch vụ bảo vệ. Chính phủ không cho các nạn nhân nước ngoài các lựa chọn pháp lý thay thế cho việc rời khỏi các nước mà họ có thể phải đối mặt với sự trả thù hoặc khó khăn.

Phòng ngừa

Chính phủ đã tăng cường nỗ lực để phòng ngừa nạn buôn người. Trong suốt thời gian báo cáo, các bản hướng dẫn đã được ban hành tới các bộ liên quan và chính quyền cấp tỉnh về kế hoạch hành động chống buôn người giai đoạn 2016-2020 để giải quyết vấn đề lao động cưỡng bức, cải thiện dịch vụ hỗ trợ nạn nhân, và thi hành Bộ luật hình sự chống buôn người đã được sửa đổi; tuy nhiên chính phủ chưa phân bổ ngân sách cần thiết để thực hiện kế hoạch này trong năm thứ 2, và sự thiếu sự hợp tác giữa các bộ thường làm cản trở hiệu quả của việc thực thi. Chính phủ tiếp tục phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia về thống kê nạn buôn người cho năm thứ 3, nhưng hệ thống dữ liệu này chưa cho thấy bất kỳ tiến bộ nào trong việc mang nó đến gần hơn tới nỗ lực thực thi pháp luật hoặc tiến trình tố tụng. Chính phủ đã tổ chức các buổi hội thảo và đối thoại cộng đồng về tình trạng dễ trở thành nạn nhân của buôn bán lao động, nhắm đến khu vực với tỷ lệ lao động nông nghiệp, xây dựng, lao động hợp đồng nước ngoài cao – đặc biệt là phụ nữ. Các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng gồm có quảng cáo, can thiệp ở các trường nằm trong khu vực địa lý có nguy cơ cao, và các chiến dịch quảng bá truyền thông. Trong suốt thời gian báo cáo, Bộ Thông tin và truyền thông đã chỉ đạo các phương tiện truyền thông quốc gia để thông tin hơn 1.300 tài liệu và tin tức để nâng cao nhận thức cộng đồng, so sánh với 570 chương trình phát thanh và truyền hình năm 2017. Trong năm, chính phủ đã thông qua Hiệp ước ASEAN chống buôn người, sửa đổi bản ghi nhớ thỏa thuận với bốn quốc gia tiếp nhận lao động, và kí kết một số hiệp định song phương bổ sung gồm những điều khoản hợp tác chống buôn người. Các tổ chức phi chính phủ báo cáo các khoản phí trước khi đi và tiền đặt cọc đối với lao động Việt Nam xuất khẩu – trong khoảng từ 6,5 đến 65 triệu đồng (285$ – 2.855$) – tăng nguy cơ về tình trạng nô lệ do nợ nần ở nước ngoài. Chính phủ đã có những nỗ lực rõ ràng nhằm làm giảm các hoạt động tình dục thương mại trong suốt năm báo cáo bằng việc thực hiện các cuộc vây bắt ở các cơ sở mại dâm, môi giới mại dâm và áp đặt tiền phạt đối với các cá nhân mua bán tình dục. Chương trình phòng chống mại dâm đang diễn ra (2016-2020) mục tiêu là giảm nhu cầu thông qua các chiến dịch giáo dục nhằm vào người sử dụng tình dục thương mại và các chương trình tạo thu nhập cho người mại dâm, nhưng những ảnh hưởng của nó chưa rõ ràng, và thống kê về các hoạt động liên quan không khả dụng tại thời điểm kết thúc báo cáo. Chính phủ đã yêu cầu giáo dục chống buôn bán người cho nhân viên ngoại giao trước khi họ đi công tác nước ngoài.

Hồ sơ buôn bán người

Theo báo cáo trong 5 năm qua, Việt Nam là quốc gia nguồn và trong một quy mô nhỏ hơn, là điểm đến của buôn bán người, từ đàn ông, phụ nữ và trẻ em cho mục đích buôn bán tình dục và lao động cưỡng bức. Đàn ông và phụ nữ Việt Nam di cư ra nước ngoài để lao động tự do hay thông qua các công ty tuyển dụng lao động của nhà nước, tư nhân, hoặc cổ phẩn. Một số công ty tuyển dụng không đáp ứng yêu cầu trợ giúp của người lao động trong trường hợp họ bị bóc lột, và một công ty thu phí quá cao khiến cho người lao động dễ bị rơi vào hoàn cảnh nô lệ do nợ nần. Một số nạn nhân bị bắt phải lao động cưỡng bức trong xây dựng, đánh cá, nông nghiệp, khai thác mỏ, khai thác gỗ và sản xuất, phần lớn ở Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc, Lào, Angola, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Nhật Bản; số lượng báo cáo về nạn nhân buôn bán lao động Việt Nam ở Anh, châu Âu, và Trung Đông đang tăng lên. Phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị buôn bán tình dục ra nước ngoài; rất nhiều người bị lừa gạt bởi những cơ hội việc làm không có thật và bị bán cho các chủ nhà chứa ở biên giới Trung Quốc, Campuchia, Lào và một số nước châu Á khác, trong đó có Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore.

Một số phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài để kết hôn theo môi giới quốc tế hoặc làm việc trong các nhà hàng, cửa hiệu massage, quán bar karaoke – phần lớn ở Trung Quốc, Malaysia và Singapore – trở thành nô lệ giúp việc gia đình hoặc bị ép buộc làm gái mại dâm. Quảng cáo sai sự thật, nô lệ nợ nần, giữ hộ chiếu và đe dọa trục xuất là các thủ đoạn phổ biến được sử dụng để buộc nạn nhân Việt Nam trở thành nô dịch. Những kẻ buôn bán người ngày càng gia tăng việc sử dụng internet, các kênh trò chơi, và mạng xã hội để lôi kéo những nạn nhân tiềm năng vào tình trạng dễ bị tổn thương; ví dụ, nam giới dụ dỗ những phụ nữ trẻ và trẻ em gái bằng mối quan hệ hẹn hò online và thuyết phục họ đi nước ngoài, sau đó ép buộc họ lao động cưỡng bức hoặc buôn bán tình dục. Mạng lưới tội phạm có tổ chức ở Việt Nam tuyển dụng người lớn và trẻ em với những cơ hội việc làm hấp dẫn và đưa họ đến châu Âu, đặc biệt là Vương quốc Anh – và buộc họ phải lao động cưỡng bức trong các trang trại trồng cần sa. Trong nước, đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam – gồm cả trẻ em đường phố và trẻ khuyết tật – bị bắt lao động cưỡng bức, mặc dù có ít thông tin về những trường hợp như vậy. Trẻ em bị buộc bán hàng rong trên phố và ăn xin ở những trung tâm thành phố lớn.

Một số trẻ em bị bắt lao động cưỡng bức và lao động ràng buộc trong những cơ sở may mặc và nhà máy gạch không chính thức, trong những gia đình thành phố, và trong những mỏ khai thác tư nhân ở nông thôn. Rất nhiều trẻ em từ khu vực nông thôn nghèo đói, và số lượng ngày càng tăng các trẻ từ nhóm trung lưu và khu vực đô thị, bị ép buộc buôn bán tình dục. Khách du lịch tình dục trẻ em, theo báo cáo từ một số nơi ở Châu Á, vương quốc Anh và một số nước châu Âu, Australia, Canada, và Hoa Kỳ, bóc lột trẻ em ở Việt Nam. Một điều luật năm 2014 yêu cầu một quy trình tố tụng trước khi bắt giam người sử dụng ma túy vào các trung tâm cai nghiện bắt buộc và hạn chế thời gian làm việc tối đa của người bị tạm giam là 4 giờ.

Mặc dù chính phủ báo cáo người sử dụng ma túy không còn bị buộc phải lao động cưỡng bức trong các trung tâm phục hồi, nhưng vẫn chưa có những sự thẩm tra độc lập của những lời tuyên bố, và các tổ chức quốc tế báo cáo rằng các nhà chức trách vẫn đang tiếp tục thực hiện điều này. Cán bộ đồng lõa, chủ yếu ở cấp xã và thôn, tiếp tay cho việc buôn bán người hoặc bóc lột nạn nhân bằng việc nhận những khoản hối lộ của bọn buôn người, bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo buôn người, và moi tiền nạn nhân để đổi lấy sự đoàn tụ với gia đình của họ.

Advertisements

One thought on “Nạn buôn bán người ở Việt Nam – Báo cáo của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ 2017

  1. Very heartaching, one of my friends shared just now on her facebook about one trafficking case in the UK

    I was about to cry this morning interpreting for my client in the UK to investigate a young Vietnamese girl, who was a victim of human trafficking. Van arrived in London last week, on Thursday mid- night, without money, no document, only with a pair of shoes and the clothes on her body. My little girl from a remote area in the North of Vietnam talked on the phone without any feelings, but politely asked for my help as she knows no one in the UK and can’t speak the language. The code of professional Interpreter job does not allow me to have any conversation with her – an LEP, but only interpreting what my client and her were talking with each other. I know many aids and humanitarian organizations in the UK will join their hands to help the girl to settle down, but emotionally, who can be by her side when she needs it the most right now? My 17 y.o Van, from Village no. 6, My Lien ward, Can Loc Dist., Ha Tinh, Vietnam. Her poor parents and grandma have all passed away. She was cheated, lost all her real estate and property, sent to the UK in a van, arrived in London on August 17, 2017, saved by a group of patrolling police officers in a suburban area of London. Please pray for my little Van!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s