Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên: Nỗ lực cải thiện dinh dưỡng cho người nghèo

BDL – Cập nhật lúc 09:25, Thứ Hai, 30/05/2016 (GMT+7)

Thống kê những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ hộ nghèo ở Đắk Lắk liên tục giảm, bình quân mỗi năm từ 3-4%, đến cuối năm 2015 chỉ còn trên 7%, thấp hơn trung bình cả nước.

Sản xuất gạch không nung tại Công ty TNHH xây dựng Đại Tín (Khu công nghiệp Hòa Phú, TP. Buôn Ma Thuột).
Được Dự án hỗ trợ, gia đình chị H’Thái Lào, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn bước đầu tự chủ hơn về nguồn thực phẩm trong gia đình

Song, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, thể thấp còi vẫn không giảm mà còn cao so với trung bình cả nước. Điều này cho thấy, suy dinh dưỡng không chỉ liên quan đến kinh tế, xã hội mà còn bị chi phối bởi những kiến thức và hiểu biết khoa học về vấn đề dinh dưỡng. Đứng trước thực tế này, Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên đã và đang có những can thiệp thiết thực trong việc cải thiện điều kiện dinh dưỡng cho người dân vùng Dự án.

Các khảo sát tại 25 xã, thuộc 5 huyện nghèo Lắk, Krông Bông, M’Đrắk, Buôn Đôn, Ea Súp cho thấy, ở phần lớn các hộ nghèo, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, việc cho con cái ăn uống đủ chất dinh dưỡng hầu như chưa được quan tâm. Để giúp người dân tiếp nhận và vận dụng tốt các hỗ trợ từ Dự án, Dự án đã hướng dẫn những hộ nghèo có điều kiện khó khăn về lương thực và dinh dưỡng hình thành nên 142 nhóm cộng đồng (LEG). Mỗi nhóm LEG an ninh lương thực và dinh dưỡng (ANLT-DD có từ 10 đến 20 hộ, 100% thành viên của nhóm là phụ nữ, đặc biệt ưu tiên phụ nữ hiện đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, những gia đình có con bị suy dinh dưỡng.

Dựa vào đặc điểm sản xuất và nhu cầu của các nhóm, Dự án đã hỗ trợ cải thiện sản xuất cho 64 nhóm trồng lúa; 3 nhóm trồng ngô; 75 nhóm cải tạo vườn hộ. Các hỗ trợ của Dự án gồm giống, vốn và đặc biệt là theo sát hướng dẫn kỹ thuật trong từng công đoạn sản xuất. Kết quả thu được là các mô hình trồng lúa, trồng ngô mặc dù gặp hạn nặng nhưng đều cao hơn so với trước đây từ 2-3 tạ/sào; các mô hình cải tạo vườn hộ cũng đã được các nhóm thực hiện tốt với những khu đất trống quanh vườn bỏ hoang trước đây đã được cải tạo trồng rau xanh, trồng cây ăn trái kết hợp chăn nuôi heo, gà, ngan… Bước đầu, dự án đã đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao chất lượng bữa ăn cho người dân. Chị Cát Nông Lào, buôn Tul A, xã Krông Na (huyện Buôn Đôn), một thành viên tham gia nhóm LEG ANLT-DD vui mừng cho biết: “Trước đây đất vườn nhà mình bỏ hoang thôi, nhờ  tham gia Dự án, mình và các chị em trong buôn đã được hỗ trợ giống, vốn rồi hướng dẫn về cách trồng rau, nuôi gà, cách chăm sóc sao cho hiệu quả. Cứ vài ngày là cán bộ Dự án đến thăm, kiểm tra và chỉ mình cách làm. Nhờ vậy vườn rau, đàn gà cả chục con nhà mình phát triển ổn định, giờ gia đình mình thường xuyên có cái ăn rồi. Cán bộ Dự án cũng hướng dẫn mình cách kết hợp để nấu bữa ăn đủ dinh dưỡng cho gia đình, mình thấy hay lắm”.

Hướng dẫn viên cộng đồng giám sát trồng lúa trên cánh đồng xã Đắk Nuê, huyện Lắk.
Hướng dẫn viên cộng đồng giám sát trồng lúa trên cánh đồng xã Đắk Nuê, huyện Lắk.

Cùng với việc tổ chức giúp người dân cải thiện sản xuất, Dự án cũng đã tổ chức 5 lớp tập huấn “TOT về dinh dưỡng” cho gần 200 học viên là cộng tác viên y tế thôn buôn, cán bộ chuyên trách dinh dưỡng tại 25 xã vùng dự án. Các nội dung được chú trọng là: can thiệp dinh dưỡng quan trọng, hướng dẫn can thiệp dinh dưỡng dự án, thực hành dinh dưỡng thiết yếu, hướng dẫn tổ chức và quản lý nhóm dinh dưỡng cộng đồng. Đồng thời để nâng cao nhận thức và góp phần thay đổi hành vi của cộng đồng trong việc nuôi dưỡng trẻ nhỏ, Dự án đã tiến hành cấp phát các bộ tài liệu, vật phẩm truyền thông về dinh dưỡng cho cán bộ Dự án và các nhóm LEG ANLT-DD. Các bộ tài liệu, vật phẩm truyền thông này bao gồm các nội dung như: Sách hướng dẫn ăn bổ sung, các bộ tranh về tư vấn/cổ động, biểu đồ tăng trưởng cho trẻ, các tờ rơi về nội dung trẻ bú mẹ/ăn bổ sung… Qua đó, các học viên có thể nắm bắt được các nội dung về dinh dưỡng thiết yếu theo yêu cầu đề xuất của các nhóm cải thiện sinh kế (LEG) tại địa phương; hướng dẫn được các nhóm LEG triển khai mô hình can thiệp; theo dõi tăng trưởng và giáo dục dinh dưỡng, họp nhóm theo các chủ đề cho người dân tại cộng đồng của mình; đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của dinh dưỡng và sự cần thiết của các can thiệp dinh dưỡng trong Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên.

Cũng chính từ hoạt động này, rất nhiều chị em đã nhận ra những nhầm lẫn trong cách nghĩ về nguồn dinh dưỡng trước đây của mình. Sau 2 ngày tham gia lớp tập huấn, học viên Phùng Thị Bé (cộng tác viên y tế xã Tân Hòa, huyện Buôn Đôn) chia sẻ: “Trước giờ chị em hiểu phải có điều kiện kinh tế mới có thể chăm sóc tốt cho người thân, đặc biệt là trẻ em về dinh dưỡng. Nhưng thật ra, để cho con có đủ dinh dưỡng chỉ cần người mẹ quan tâm cho con ăn cân đối bằng các sản vật sẵn có tại gia đình và địa phương với chi phí không cao như rau, trứng, cá, cua… Mặc dù trước đây, chúng tôi cũng tuyên truyền về điều này, nhưng do tiếp cận đơn lẻ theo từng hộ nên hiệu quả chưa cao. Qua lớp tập huấn tôi sẽ có nhiều kỹ năng, kiến thức cùng với việc tổ chức tuyên truyền và thực hành theo nhóm tôi tin là hiệu quả sẽ cao hơn”.

Sau các lớp tập huấn, Dự án cũng đã phối hợp với Hội Phụ nữ xã, Trạm Y tế tổ chức các buổi hướng dẫn thực hành về dinh dưỡng tại một số nhóm LEG ANLT-DD, bước đầu đã góp phần thay đổi nhận thức và thói quen dinh dưỡng của người dân trong vùng Dự án. Bữa cơm của các hộ tham gia trong nhóm Leg không còn đơn sơ với những món ăn truyền thống nghèo dinh dưỡng như cà đắng, rau rừng… mà thêm vào đó họ còn biết kết hợp với các vật phẩm như:  rau, trái và thịt gà, ngan từ chính tay họ làm nên.

Như vậy, bằng việc hướng dẫn bà con thay đổi tập quán canh tác, tận dụng điều kiện sẵn có để sản xuất nhằm đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời trang bị cho người dân những kiến thức khoa học về dinh dưỡng, các can thiệp của Dự án đã thu được những hiệu quả thiết thực. Đây cũng được xem là tiền đề quan trọng giúp các mục tiêu của Dự án được thực hiện đúng hướng, đúng tiến độ, mở ra triển vọng xóa đói, thoát nghèo bền vững.

Bảo Uyên

***

gntn – Dự án giảm nghèo khu vực Tây Nguyên
 

GIỚI THIỆU DỰ ÁN

      Với sự hỗ trợ từ Ngân hàng thế giới (NHTG), Chính phủ Việt Nam thực hiện Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên (GNTN) dưới hình thức một dự án phát triển cộng đồng ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên của Việt Nam. Dự án tập trung vào 130 xã, thuộc 26 huyện nghèo của 6 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Mục tiêu phát triển của Dự án là cải thiện cơ hội sinh kế cho các hộ nghèo và cộng đồng ở khu vực Miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam thông qua: (i) cải thiện khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ bản ở cấp cộng đồng, đặc biệt là liên quan đến sản xuất nông nghiệp và khả năng tăng thu nhập; (ii) giải quyết khó khăn trong tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên và các cơ hội thị trường; và(iii) hỗ trợ đầu tư địa phương (từ cấp huyện trở xuống) để tăng cường sự liên kết.

Dự án sẽ được đánh giá dựa trên các chỉ số kết quả chủ yếu sau: (i) gia tăng thu nhập của hộ gia đình, (ii) tăng cường kết nối về kinh tế và xã hội cho các cộng đồng, (iii) tạo việc làm thông qua việc cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ vận hành, duy tu bảo dưỡng, (iv) nâng cao (ổn định) năng suất sản xuất nông nghiệp, (v) tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng cơ sở hạ tầng xã hội và sản xuất, và (vi) tăng cường sự tham gia của những thành viên nghèo trong cộng đồng trong quá trình ra quyết định phát triển của địa phương.

Dự án gồm 4 hợp phần:

– Hợp phần 1: Phát triển cơ sở hạ tầng cấp xã và thôn bản, có tổng giá trị ước tính khoảng 45 triệu USD (chưa bao gồm vốn đối ứng của chính quyền địa phương, tương đương 945 tỷ đồng,  gồm 2 tiểu hợp phần (THP): (i) Phát triển CSHT cấp xã và thôn bản, (ii) Vận hành và bảo trì. Dự án đẩy mạnh phân cấp cho xã làm chủ đầu tư đối với các tiểu dự án trong hợp phần này và không khuyến khích các công trình CSHT đồi hỏi phải thu hồi đất và GPMB. Các TDA sẽ được lựa chọn thông qua quá trình lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng.

– Hợp phần 2: Phát triển sinh kế bền vững, có tổng giá trị ước tính khoảng 30,24 triệu USD, tương đương 635 tỷ đồng gồm 02 THP: (i) Tự chủ và Đa dạng hóa thu nhập và (ii) Phát triển kết nối thị trường. THP Tự chủ và Đa dạng hóa thu nhập bao gồm các hoạt động củng cố an ninh lương thực và dinh dưỡng và đa dạng hóa thu nhập cho người hưởng lợi thông qua cải thiện và thúc đẩy các mô hình sinh kế. THP Phát triển kết nối thị trường bao gồm các hoạt động tập trung vào phát triển liên kết thị trường  cho một số loại hình sinh kế tiềm năng, thúc đẩu mối quan hệ đối tác giữa nông dân với các doanh nghiệp thông qua các hỗ trợ của dự án. Các hỗ trợ của dự án cho người dân trong HP này được thực hiện thông qua hình thức hỗ trợ cho các tổ nhóm cải thiện sinh kế (LEG), gồm: (i) LEG an ninh lương thực, (ii) LEG đa dạng hóa sinh kế, (iii) LEG kết nối thị trường. Mỗi LEG có quy mô từ 10-20 hộ, được thành lập trên cơ sở tham gia tự nguyện của các hộ thành viên. . Giá trị ước tính của hợp phần là 33 triệu USD. Các hỗ trợ của Dự án cho người dân trong Hợp phần 2 được thực hiện thông qua hình thức hỗ trợ cho các tổ nhóm cải thiện sinh kế (LEG), gồm: (i) LEG an ninh lương thực, (ii) LEG đa dạng hóa sinh kế, (iii) LEG kết nối thị trường. Mỗi LEG có quy mô từ 10-20 hộ, được thành lập trên cơ sở tham gia tự nguyện của các hộ thành viên.

– Hợp phần 3: Phát triển cơ sở hạ tầng kết nối cấp huyện, nâng cao năng lực và truyền thông, có giá trị ước tính khoảng 44,2 triệu USD, tương đương 928 tỷ đồng,  gồm 03 THP: (i) Phát triển cơ sở hạ tầng kết nối cấp huyện, (ii)  Nâng cao năng lực, (iii) Truyền thông. Xây dựng năng lực cấp huyện và cơ sở hạ tầng liên kết, bao gồm các lựa chọn cơ sở hạ tầng liên xã và cấp huyện mà nó sẽ hỗ trợ việc liên kết sản xuất nội tại và liên quan đến các khu vực kinh tế địa phương. Hợp phần cũng sẽ hỗ trợ quy hoạch tổng hợp kinh tế xã hội huyện và xây dựng năng lực kỹ thuật cho cán bộ cấp huyện để hỗ trợ lập kế hoạch và thực hiện xây dựng  cơ sở hạ tầng ở cấp xã.

– Hợp phần 4: Quản lý dự án, có giá trị ước tính khoảng 8,4 triệu USD tương đương 176,4 tỷ đồng, có các mục tiêu cơ bản: (i) đảm bảo quản lý hiệu quả các hoạt động của Dự án theo đings thiết kế và (ii) hệ thống giám sát và đánh giá cung cấp đầy đủ thông tin về hoạt động, kết quả và tác động của Dự án.

Dự án GNTN sẽ do Ban Điều phối dự án trung ương (BĐPTW) tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) điều phối, hỗ trợ và giám sát, và sáu đơn vị quản lý dự án tại mỗi sáu tỉnh, được đặt tại các Sở KHĐT trong mỗi sáu tỉnh, sẽ có trách nhiệm điều hành dự án, theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh, và sẽ giao quản lý hàng ngày hầu hết các công việc thực hiện dự án đối với các Ban Quản lý dự án(BQLDA) hiện có ở từng huyện.

Bộ máy tổ chức QLDA  ở các cấp bao gồm: BĐPTW, BQLDA tỉnh, BQLDA huyện. Riêng tại cấp xã, Dự án không có mô hình BQLDA xã mà chỉ hình thành Ban Phát triển xã trên cơ sở huy động một số cán bộ chủ chốt của Ủy ban nhân dân xã kiêm nhiệm thêm các công việc tổ chức thực hiện các hoạt động của Dự án do cấp xã làm chủ đầu tư. Nguyên tắc chung của Dự án là huy động tối đa bộ máy và cán bộ các cấp để thực hiện công tác QLDA và chỉ tuyển thêm cán bộ mới theo cơ chế hợp đồng khi các cơ quan chủ dự án không bố trí được cán bộ kiêm nhiệm.