Nguồn lực kiều bào – 10 kỳ

Nguồn lực kiều bào

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 2: Thuốc đặc trị cho người Việt

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 3: Tiên phong ngành kiểm thử phần mềm tại VN

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 4: Nâng sản phẩm ‘made in VN’ lên tầm quốc tế

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 5: Cuộc trao đổi… giống

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 6: Ươm mầm công nghệ sinh học

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 7: Quang điện tử ‘made in VN’

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 8: Phát triển giống rau, hoa VN

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 9: Cha đẻ khái niệm rau sạch

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 10: Đưa ngành phần mềm VN vươn xa

***

Nguồn lực kiều bào

09:00 AM – 25/02/2015 N.Trần Tâm – Mai Phương – Nguyên Nga

TNNhiều doanh nhân Việt kiều đầu tư về VN, dòng kiều hối cũng ngày càng tăng mạnh là đã ghi nhận sự đóng góp to lớn của kiều bào đối với đất nước.

Nguồn lực kiều bào
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang gặp gỡ Việt kiều nhân dịp Tết Ất Mùi – Ảnh: D.Đ.Minh

Nếu như năm 1991 mới chỉ có 35 triệu USD kiều hối về VN nhưng tới năm 2014 con số này đã đạt mức kỷ lục 12 tỉ USD. VN lọt vào danh sách 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất toàn cầu theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới.

Tính chung từ 1991 đến nay, kiều hối về VN đạt hơn 92 tỉ USD, trở thành nguồn vốn lớn thứ hai sau nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), thậm chí còn cao hơn cả vốn ODA đã giải ngân. Năm nay, VN đặt mục tiêu thu hút từ 13 – 14 tỉ USD kiều hối. Trong đó, Mỹ là quốc gia có lượng kiều hối về VN nhiều nhất, chiếm hơn 50% kiều hối chính thức của cả nước, tiếp theo là Úc, Canada, Đức, Campuchia và Pháp. Chính sách mới về kiều hối thay đổi đã thu hút dòng vốn này về VN ngày càng nhiều hơn, như không hạn chế số lượng kiều hối, cho phép nhận và trả bằng ngoại tệ, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, dịch vụ ngân hàng thuận lợi…

Nhiều cơ hội

Gặp 10 nhà đầu tư Việt kiều thì hầu hết than bộ máy hành chính của chúng ta có vấn đề và ai cũng cho rằng tệ nạn nhũng nhiễu của cán bộ hành chính hơi quá đà. Than vãn này có từ hơn 10 hay 15 năm trước, đến nay vẫn còn thì chúng ta nên nhìn lại

Chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành

Vào thời điểm này, nhiều cơ hội đầu tư, kinh doanh ở VN cho các doanh nhân Việt kiều cũng đã được mở rộng ra so với trước. Hiện nay, số lượng dự án đăng ký đầu tư tại VN của kiều bào là hơn 2.000 dự án, với tổng vốn đầu tư 20 tỉ USD. Trong đó, TP.HCM là điểm đến rất quan trọng.

Tại buổi gặp gỡ với kiều bào trước Tết Ất Mùi, Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Hoàng Quân cho biết năm 2014 đã có hơn 756.974 lượt kiều bào về nước qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất, trên 88.100 lượt kiều bào tạm trú tại địa phương và 309 kiều bào đã trở về TP.HCM sinh sống. Riêng TP.HCM, trong năm 2014, kiều bào đã chuyển về TP.HCM hơn 5 tỉ USD.

Theo ông Trần Hòa Phương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về người VN ở nước ngoài TP.HCM, địa phương “rất coi trọng, tạo cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút, phát huy nguồn lực trí thức người VN ở nước ngoài đóng góp cho sự nghiệp phát triển thành phố, đất nước”. Cụ thể, TP.HCM đã thực hiện một số chính sách về bố trí, sử dụng trí thức người VN ở nước ngoài đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo các cơ quan nghiên cứu khoa học như: Viện Khoa học tính toán, Viện Nghiên cứu sinh học, Khu công nghệ cao, với chế độ làm việc bán thời gian và cấp kinh phí hỗ trợ đặc biệt để hoạt động. Hiện nay có hàng trăm chuyên gia, trí thức từ nhiều quốc gia hợp tác làm việc tại TP.HCM. Trong đó có 47 giáo sư và phó giáo sư, 50 tiến sĩ, 11 thạc sĩ.

Cũng theo ông Phương, hiện TP.HCM có trên 2.500 doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư của Việt kiều được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, với tổng vốn điều lệ hơn 35.000 tỉ đồng; 122 dự án đầu tư nước ngoài có vốn kiều bào với tổng vốn đầu tư trên 260 triệu USD. Có những DN có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả như Công ty xử lý chất thải rắn Đa Phước (VWS), Tập đoàn Liên Thái Bình Dương (IPP), Tập đoàn Norfolk VN, Trung tâm Vimcom Plaza… Nhiều Việt kiều cũng tham gia làm cổ đông lớn của các ngân hàng Techcombank, VIBank, Công ty Eurowindow, Tập đoàn Masan…

“Vai trò cầu nối của Việt kiều trong hợp tác quốc tế cũng được phát huy, góp phần chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển ở các ngành hóa, vi sinh, in, quang dẫn, công nghệ thông tin. Nhiều DN nước ngoài ở thành phố do kiều bào trực tiếp hoặc gián tiếp làm cầu nối, dẫn dắt đầu tư về VN như các Tập đoàn Intel (ông Thân Trọng Phúc, Việt kiều Mỹ), Robert Bosch (ông Võ Quang Huệ, Việt kiều Đức), Fujitsu (ông Nguyễn Trí Dũng, Việt kiều Nhật). Riêng tại Khu công nghệ cao thành phố, hiện có 9 nhà đầu tư Việt kiều với tổng vốn đầu tư 113,3 triệu USD”, ông Phương cho biết thêm.

Cần có những quyết sách mạnh hơn

Tuy nhiên, chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu (Việt kiều Mỹ) nhận xét lượng kiều hối chuyển về VN đạt 12 tỉ USD trong năm 2014 thực tế vẫn quá nhỏ bé so với tổng thu nhập của hơn 4,5 triệu kiều bào VN ở khắp nơi trên thế giới.

“Nếu tính bình quân thu nhập của một hộ gia đình (gồm 3 người) ở các nước khoảng 50.000 USD/năm thì số lượng kiều bào đó sẽ có tổng mức thu nhập khoảng 50% GDP của VN. Đó là chưa tính nguồn thu nhập do các DN hay nhiều người làm thêm, làm không chính thức thì con số đó sẽ còn cao hơn. Điều này cho thấy nguồn lực của kiều bào là rất lớn”, ông Hiếu nhấn mạnh. Bên cạnh đó, đóng góp của kiều bào ở các lĩnh vực khoa học, công nghệ về VN vẫn còn khá ít. “Để thu hút nhiều hơn nữa nguồn lực tài chính cũng như các đóng góp phi tài chính từ kiều bào, Chính phủ và Quốc hội VN cần có những quyết sách mạnh hơn. Ví dụ chính sách mở cửa cho kiều bào về mua nhà tại VN vừa được ban hành là thích hợp nhưng cần nhiều chính sách khác. Đó là tạo ra các trung tâm nghiên cứu khoa học, tạo ra những DN trong nước có khả năng tiếp nhận công nghệ và các chuyên gia từ các nước trở về sinh sống và làm việc với chế độ đãi ngộ phù hợp, bao gồm từ hạ tầng cơ sở làm việc, nơi ăn ở, đi lại…”, ông Hiếu nói thêm.

Bên cạnh kiều hối, vốn đầu tư, công nghệ, kỹ thuật cao và kinh nghiệm thâm niên làm việc tại các quốc gia phát triển chính là “nguồn lực mềm” quý giá mà đến nay, những nỗ lực của Chính phủ để thu hút nguồn lực này vẫn chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng. Đó là nhận xét của ông Phan Thành, doanh nhân Việt kiều Canada, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp người VN ở nước ngoài tại TP.HCM. Theo ông Thành, guồng máy hành chính tại VN còn quá cồng kềnh, nếu không nói là rườm rà phức tạp là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này. “Muốn thu hút nguồn lực, VN cần tinh giản bộ máy hành chính gọn nhẹ hơn nữa. Làm thế nào để phát huy tối đa Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người VN ở nước ngoài đến gần với kiều bào hơn chứ không nên để bị tắc tại các địa phương do chờ hướng dẫn”, ông Thành nói.

“Không thể cứ để họ than như vậy”

Theo chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành (Việt kiều Mỹ) – từng là nhà tư vấn cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài và nhà tư vấn Chính phủ về một số chính sách đầu tư, kiều hối chuyển về nước sẽ cao hơn nữa nếu chính sách thu hút đầu tư được rõ ràng và minh bạch hơn. Ông nói: “Gặp 10 nhà đầu tư Việt kiều thì hầu hết than bộ máy hành chính của chúng ta có vấn đề và ai cũng cho rằng tệ nạn nhũng nhiễu của cán bộ hành chính hơi quá đà. Than vãn này có từ hơn 10 hay 15 năm trước, đến nay vẫn còn thì chúng ta nên nhìn lại. Chính phủ cần phải tìm hiểu kỹ vì sao nhà đầu tư than như vậy để có thể giải quyết hiệu quả, không thể cứ để họ than như vậy trong hơn cả chục năm qua”.

TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN cũng nhấn mạnh: “VN cần đơn giản hóa thủ tục và đối xử với doanh nhân kiều bào bình đẳng với các đối tượng DN khác nếu họ muốn đầu tư về quê hương. Họ cần tự do trong kinh doanh hơn là những ưu đãi”. Theo ông Thiên, nguyên nhân chưa thu hút được nguồn lực kiều bào tương xứng chủ yếu do môi trường đầu tư chưa thật sự thông thoáng. Ngoài ra, rất cần tầm nhìn dài hạn và mạnh mẽ hơn trong vấn đề kiều bào.

“Nên xem nhà đầu tư Việt kiều là điểm kết nối giữa VN và các nhà đầu tư nước ngoài khác. Thông qua kiều bào để kết nối với thế giới tốt hơn. Như vậy mới thấy được lợi thế của họ rõ hơn. Chức năng của kiều bào là rất đặc biệt, họ đang ở trong chuỗi của thế giới nên sẽ giúp gắn kết VN với thế giới và ngược lại. Đặt vấn đề như vậy thì sẽ phát huy vai trò của tất cả kiều bào”, TS Thiên nhận định.

Cần có chính sách phù hợp để thu hút chuyên gia

Cần đưa ra những điều cụ thể hơn, phù hợp để thu hút được các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ. Thứ nhất là cần có mức lương thỏa đáng cho các chuyên gia ở nước ngoài trở về VN làm việc. Đặc biệt ở các viện nghiên cứu, các DN nhà nước cần phải có quy chế này thì mới tiếp nhận và tuyển dụng được. Thứ hai là đối với một số chuyên gia đã thành công ở nước ngoài thì vấn đề thu nhập không phải quan trọng hàng đầu. Cái họ cần là được công nhận và giao cho quyền quyết định thuộc lĩnh vực phụ trách thì khi đó mới phát huy được hiệu quả và gia tăng khả năng đóng góp của họ. Nếu chỉ giữ họ ở vai trò cố vấn như nhiều trường hợp từ trước đến nay thì khó khuyến khích sự trở về của các chuyên gia.

Ông Nguyễn Hữu Lệ Việt kiều Canada – Chủ tịch Hội đồng tư vấn Công ty phần mềm TMA Solutions

Những chuyện nhỏ làm giảm nhiệt huyết đầu tư

Sau gần 20 năm làm ăn tại quê nhà, tôi nhận thấy chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ với DN Việt kiều chưa hiệu quả như mong muốn. Tôi đã mua nhà ở hơn 10 năm nhưng vẫn chưa được đứng tên sở hữu. Tôi có một tờ giấy chứng nhận gốc gác là người VN, dùng trong hồ sơ xin giấy phép đầu tư trước đó 15 năm, mang đi làm giấy tờ nhà nhưng không được chấp nhận. Ủy ban quận hướng dẫn tôi sang đại sứ quán VN tại Mỹ để xin giấy chứng nhận khác. Mất nửa tháng, tôi lại được hướng dẫn quay qua các cơ quan VN chứ đại sứ quán không chứng nhận. Những chuyện nhỏ như thế này liệu có làm giảm nhiệt huyết nhà đầu tư Việt kiều không? Tôi nói chắc chắn là giảm rất nhiều.
Ông Nguyễn Đăng Tiến, doanh nhân Việt kiều Mỹ

Hành lang pháp lý còn nhiều bất cập

Nhiều văn bản luật đôi khi vẫn không theo kịp những diễn biến thực tiễn phát triển của xã hội. Đây chính là vướng mắc khiến cho hoạt động của các DN gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Chính sách đối với kiều bào vẫn chưa có sự nhất quán pháp lý, giữa chính sách và thực thi chính sách. Nguồn lực của kiều bào không chỉ dừng lại ở những con số kiều hối mà còn là nguồn lực tri thức. Có vẻ như tri thức vẫn ít được chú trọng. Đó chính là nguồn lực “chìm” mà chúng ta chưa biết tận dụng khai thác.
Ông Nguyễn Hoài Bắc, doanh nhân Việt kiều Canada

Thu hút người trẻ trở về

Tôi chỉ có một mong muốn giá như VN có một tổ chức hay cơ quan nào đó có năng lực thực sự để kêu gọi lực lượng trẻ du học sinh ở nước ngoài, người Việt trẻ ở nước ngoài về nước cống hiến nhiều hơn. Một lần tôi sang Mỹ tham dự buổi lễ ra trường của con trai, trường có trên 90% sinh viên tốt nghiệp là du học sinh từ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc. Tôi hỏi, tất cả đều cho biết sẽ trở về quê nhà làm việc để hưởng chính sách ưu đãi của nước họ mà không dễ gì họ tìm thấy tại Mỹ.
Bà Cecile Phạm, Việt kiều Pháp – Tổng giám đốc Tập đoàn Dacotex

N.Trần Tâm – Mai Phương – Nguyên Nga

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 2: Thuốc đặc trị cho người Việt

03:00 AM – 26/02/2015 Nguyên Nga
TNTừ thành công trong sản xuất thuốc đặc trị tại VN, doanh nhân Việt kiều Mỹ, TS Hồ Nhân được xem là nhà khoa học tiên phong trong ứng dụng công nghệ sinh học ở VN.
TS Hồ Nhân đang giới thiệu một số thuốc đặc trị của công ty

TS Hồ Nhân đang giới thiệu một số thuốc đặc trị của công ty – Ảnh: Ng.Nga

Ép thuốc nhập giảm giá

Đó là khoảng năm 2003, thời điểm mà khái niệm công nghệ sinh học (CNSH) còn khá mới mẻ ở VN. Trước khi quyết định về VN đầu tư, TS Hồ Nhân đã có một phòng thí nghiệm tại Mỹ và làm tư vấn cho nhiều hãng dược lớn của Mỹ, Ấn Độ. “Càng tìm hiểu, tôi thấy người dân mình bị ung thư nhiều quá, tập trung nhiều là người nghèo, trong khi giá thuốc trị bệnh lại quá cao. Điều đáng nói, nhiều nhà khoa học gốc Việt giữ những vị trí quản lý cao cấp trong các hãng dược này. Điều này chứng tỏ người Việt hoàn toàn có khả năng làm những viên thuốc đặc trị chứ không phải thuốc ngoại mới tốt. Tôi chỉ nghĩ đơn giản là trở về để làm ra được sản phẩm tốt, giá rẻ cho người Việt mình”, TS Hồ Nhân cho biết.

Sau hai năm, phòng nghiên cứu và nhà máy của Nanogen đã cho ra đời nhiều dược phẩm ứng dụng CNSH để chữa trị viêm gan siêu vi B, C, suy thận, xơ gan và tăng bạch cầu trung tính hỗ trợ bệnh nhân ung thư đang hóa trị, xạ trị. TS Hồ Nhân nói: “Chúng tôi đã nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành công công nghệ DNA/tái tổ hợp protein, một tiến bộ của CNSH, để sản xuất ra dược liệu và thành phẩm thuốc tiêm đặc trị đầu tiên và duy nhất tại VN hiện nay”.

Sau hơn 10 năm, trong khuôn viên đất rộng hơn 15.000 m2 trong Khu công nghệ cao TP.HCM, Nanogen đã đầu tư  xây dựng hệ thống phòng nghiên cứu, nhà xưởng với số tiền trên 50 triệu USD. Các dược phẩm đặc trị viêm gan B và C của Nanogen hiện chiếm trên 80% thị phần trong nước. Đặc biệt, giá bán chỉ bằng một nửa hoặc 1/3 so với sản phẩm tương đương được nhập khẩu. Điều đáng nói là đã “ép” các công ty dược phẩm nước ngoài phải liên tục giảm giá thuốc có tác dụng tương đương của mình. Ví dụ: Thuốc Feronsure điều trị viêm gan siêu vi B và C hàng nhập có giá 600.000 đồng/liều, Nanogen bán 200.000 đồng/3 liều trong một tuần. Sản phẩm cùng chức năng cao cấp có giá 1,5 triệu đồng/liều/tuần thì với thuốc nhập, người bệnh phải bỏ ra 4,5 triệu đồng/liều/tuần và nay còn giảm thấp hơn nữa”.

“Tôi chỉ nghĩ đơn giản, làm khoa học giỏi trước hết phải biết biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thực tế phục vụ con người”, ông Nhân nói.

Xuất khẩu thuốc           

Nanogen còn nghiên cứu các công nghệ về gien và chuyển giao thành công cho các hãng dược, mỹ phẩm nước ngoài. Đơn cử, đã chuyển giao thành công công nghệ gien chống lão hóa cho một hãng mỹ phẩm nổi tiếng của Pháp, gien làm thuốc trị tiểu đường cho một hãng dược Ấn Độ, gien làm thuốc chữa trị tim mạch cho một hãng dược Thụy Sĩ. Nanogen cũng chủ trương mua bản quyền một số nghiên cứu tại các nước phát triển để sản xuất thuốc.

TS Hồ Nhân kể, năm 2010 có một hãng dược phẩm Mỹ đặt vấn đề mua đứt công nghệ của Nanogen hoặc mua 30% cổ phần với giá 30 triệu USD. Tuy nhiên, ông đã từ chối. Ông bộc bạch: “Ngày trước, tôi đã quyết định trở về làm thuốc chữa bệnh cho người dân mình, tại sao tôi lại bán đi? Nếu ai cũng có suy nghĩ công ty lớn thì bán lấy lời thì rốt cuộc đất nước VN sẽ đi về đâu?”.

Hiện các sản phẩm chữa viêm gan siêu vi B và C, suy thận và xơ gan của Nanogen đã xuất sang các thị trường: Mỹ, Ấn Độ, Myanmar, Bangladesh, Pakistan… với số lượng lớn. Ngoài ra, Nanogen cũng đã nghiên cứu làm thuốc điều trị ung thư. Theo chuyên gia CNSH Mỹ, TS Nguyễn Đức Thái, tư vấn CNSH cho một số trường viện tại VN, nghiên cứu kháng thể đơn dòng (mAb) của Nanogen đã được Cục Quản lý dược và thực phẩm Mỹ phê duyệt và có khả năng ảnh hưởng rất lớn trong điều trị ung thư tại VN. “Thuốc sinh học sẽ là tương lai của ngành dược, bởi ưu điểm của nó là ít phản ứng phụ, nhưng giúp điều trị đúng bệnh”, TS Hồ Nhân khẳng định.

Nguyên Nga

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 3: Tiên phong ngành kiểm thử phần mềm tại VN

05:03 AM – 27/02/2015 Mai Phương
TNNăm 2004, sau gần 30 năm xa quê hương, Nguyễn Quốc Hùng (Việt kiều Mỹ) đã chính thức trở về VN thành lập Công ty LogiGear, đưa công nghệ kiểm thử phần mềm (software testing) phát triển song hành với ngành công nghiệp gia công phần mềm trong nước.
Ông Nguyễn Quốc Hùng (bìa phải) đưa khách tham quan Công ty LogiGear VN - Ảnh: M.P
Ông Nguyễn Quốc Hùng (bìa phải) đưa khách tham quan Công ty LogiGear VN – Ảnh: M.P
Nhìn thấy tầm quan trọng của hoạt động kiểm thử phần mềm sau những năm ngành công nghiệp máy tính Mỹ thiệt hại hàng tỉ USD bởi các lỗi lập trình, năm 1994 ông Hùng thành lập Công ty LogiGear tại Thung lũng Silicon (California, Mỹ).
Cung ứng toàn cầu
Sau đó, LogiGear đã trở thành tên tuổi hàng đầu thế giới trong lĩnh vực kiểm thử phần mềm với những khách hàng như: Cisco, McAfee… Không chỉ làm dịch vụ, ông Hùng còn tham gia viết sách, giảng dạy và đào tạo ở nhiều nơi. Bộ sách đầu tiên về kiểm thử phần mềm máy tính mà ông viết chung với các chuyên gia Cem Kaner và Jack Falk đã bán 100.000 bản.
Mặc dù biết rằng Ấn Độ đang là quốc gia đi đầu về dịch vụ gia công và kiểm thử phần mềm, hay Trung Quốc cũng có nhiều điều kiện, nhưng ông Hùng quyết định lựa chọn VN để xây dựng các trung tâm LogiGear sau Mỹ. Theo ông, VN còn lợi thế về nhân lực rẻ hơn Ấn Độ và có điều kiện để trở thành trung tâm software testing mang đẳng cấp quốc tế khi nhu cầu đang gia tăng. Hằng năm tại Mỹ, các doanh nghiệp phải tốn chi phí trên 60 tỉ USD để sửa lại những lỗi tồn tại trong các phần mềm đã có mặt trên thị trường. Nếu làm tốt khâu kiểm thử để phát hiện lỗi hay nghĩ cách ngăn chặn lỗi phát sinh trước khi đưa sản phẩm vào sử dụng sẽ tiết kiệm chi phí rất lớn.
Trung tâm kiểm thử phần mềm LogiGear tại VN đã trải qua hơn 10 năm cung ứng dịch vụ kiểm thử quy mô lớn cho các khách hàng toàn cầu trong nhiều lĩnh vực quan trọng như hóa dầu, viễn thông, y tế giáo dục, bảo mật. Trong đó có thể kể đến bộ công cụ kiểm thử phần mềm tự động TestArchitect® là thành quả lớn được phát triển hoàn toàn tại VN từ năm 2005. Đến nay TestArchitect® đã được thương mại hóa trong nhiều dự án quy mô lớn và trở thành công cụ phổ biến trong thị trường kiểm thử phần mềm thế giới. Khi công bố tích hợp TestArchitect® vào phiên bản beta Visual Studio 11 hồi tháng 4.2012, ông Tom Lindeman, Giám đốc chương trình đối tác công nghiệp Visual Studio của Microsoft, cho biết Microsoft có nhiều đối tác lớn tạo ra nguồn cung ứng rất cạnh tranh, nhưng nhờ vào tính tùy biến cao nên TestArchitect® được chọn lựa. Hiện LogiGear có 3 trung tâm hoạt động ở TP.HCM và Đà Nẵng với 800 kỹ sư.
Đưa công nghệ đến các trường
Kiểm thử phần mềm không chỉ là một nghề còn rất mới ở VN mà ngay ở nhiều nơi trên thế giới. Vì thế, có thể nói LogiGear là công ty đặt những viên gạch đầu tiên tại thị trường nội địa. Đặc biệt, tính đến hiện tại, LogiGear đã hợp tác với hơn 10 trường đại học của TP.HCM và Đà Nẵng như: ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Văn Lang, ĐH Bách khoa Đà Nẵng, ĐH Duy Tân… để chính thức đưa bộ môn kiểm thử phần mềm vào chương trình giảng dạy cho các sinh viên chuyên ngành công nghệ thông tin. Việc tạo ra hàng ngàn kỹ sư chuyên về kiểm thử phần mềm tại VN là mong muốn của người sáng lập LogiGear nhằm đặt nền tảng cho sự hình thành của ngành kiểm thử phần mềm ở VN và thúc đẩy nhanh sự phát triển của ngành software testing VN trên bản đồ công nghệ thế giới.
LogiGear VN là bộ phận của Tập đoàn LogiGear có trụ sở chính tại Mỹ. Tập đoàn LogiGear đã nhận nhiều giải thưởng lớn như giải thưởng Top 5.000 công ty tư nhân có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nước Mỹ năm 2014 do tạp chí Inc. (Mỹ) bình chọn và xếp hạng; là một trong Top 50 công ty tư nhân phát triển nhanh nhất tại Thung lũng Silicon năm 2014, sau khi đạt doanh thu 15,2 triệu USD trong năm 2013 và mức tăng trưởng 42% trong 3 năm 2011 – 2013.

Mai Phương

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 4: Nâng sản phẩm ‘made in VN’ lên tầm quốc tế

05:55 AM – 28/02/2015 Nguyên Nga
TNLàm thế nào để sản phẩm do chính người Việt thực hiện, được sản xuất ngay tại VN có chất lượng sánh ngang hàng Nhật là giấc mơ mà ông Trần Ngọc Phúc (Việt kiều Nhật) đã và đang biến thành hiện thực.
Ông Phúc (bìa trái) hướng dẫn Nhật hoàng và đoàn Hoàng gia Nhật thăm Nhà máy Metran của ông ở Nhật

Ông Phúc (bìa trái) hướng dẫn Nhật hoàng và đoàn Hoàng gia Nhật thăm Nhà máy Metran của ông ở Nhật – Ảnh: Ông Trần Ngọc Phúc cung cấp

Từ cơ duyên tham gia làm phiên dịch cho đoàn y bác sĩ VN sang Nhật trao đổi nghiệp vụ trước khi thực hiện mổ tách song sinh Việt – Đức tại Bệnh viện Từ Dũ năm 1988, ông Trần Ngọc Phúc – nhà sáng lập, Tổng giám đốc Công ty sản xuất thiết bị y tế Metran (Nhật) – đã đi đến quyết định về nước đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất thiết bị y tế tại Bình Dương.

Người được Nhật hoàng đặt hàng

Năm 2014, trên khuôn viên đất rộng hơn 27.500 m2 đất tại Khu công nghiệp Mỹ Phước 2, Bình Dương, nhà máy có diện tích trên 2.000 m2 đất của Công ty Metran Vitec, công ty con của Metran tại Nhật, đã được hoàn thành. Chủ đầu tư – ông Trần Ngọc Phúc – cho biết tổng đầu tư nhà máy trong giai đoạn đầu trên 1 triệu USD.

Ông Trần Ngọc Phúc (tên Nhật là Kazufuku Nitta) sinh năm 1947 ở Thừa Thiên-Huế. Sang Nhật du học năm 1968, ông tốt nghiệp kỹ sư Đại học Tokai University. Phát minh máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số (HFO) cho trẻ sơ sinh, sinh thiếu tháng đã nhận nhiều giải thưởng lớn tại Nhật và Mỹ. Công ty Metran ở Nhật đã được nhận nhiều giải thưởng lớn của Chính phủ Nhật.

Sản phẩm để đưa tên tuổi Trần Ngọc Phúc nổi tiếng tại Nhật và trong cộng đồng y khoa thế giới chính chiếc máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số (HFO) dành cho trẻ sinh thiếu tháng do ông chế tạo. Đây là một sản phẩm kỹ thuật cao, hiện đã có gần 1.500 chiếc HFO được trang bị tại 90% bệnh viện, phòng chăm sóc trẻ sơ sinh trên toàn nước Nhật. Hàng trăm chiếc đã được xuất khẩu đến 12 quốc gia trên thế giới. Tại VN, chiếc máy cao tần số đầu tiên được Metran tặng cho Bệnh viện Nhi Hà Nội và đến nay, nhiều bệnh viện phụ sản lớn trong nước cũng đã đầu tư chiếc máy này. Giá bán cho mỗi chiếc HFO từ 400 – 800 triệu đồng.

Ông Phúc cho biết Công ty sản xuất thiết bị y tế Metran do ông sáng lập ở Nhật thuộc nhóm 300 doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ có tiềm năng phát triển mạnh và được Chính phủ Nhật  từng hỗ trợ khoảng 1 triệu USD để đầu tư nghiên cứu cách đây 7 năm. Metran tại Nhật cũng là DN duy nhất được Nhật hoàng chọn ghé thăm trong năm 2012. “Gặp được ngài đã là ước mơ của toàn dân Nhật. Với tôi, đây là một kỷ niệm đáng nhớ của đời mình”, ông Phúc nói. Lúc đó, ông Phúc cũng đã được Nhật hoàng đặt hàng nghiên cứu chiếc máy “trợ thở” cho những người lớn tuổi bị hội chứng suy giảm hô hấp cấp để Nhật hoàng có thể dùng làm quà tặng cho các hoàng tộc khác trên thế giới.

Hàng Việt sẽ không thua hàng Nhật

Nhà máy của Metran tại VN hiện chuyên tập trung nghiên cứu và sản xuất một số thiết bị dùng cho chiếc máy HFO. Ngoài ra, công ty đang có 3 bộ phận nghiên cứu và sản xuất 3 dòng sản phẩm chính được dùng cho bệnh viện (các loại máy hô hấp nhân tạo), dùng tại nhà và sản phẩm dùng một lần rồi bỏ (ống thở). Theo ông Phúc, nhiệm vụ của bộ phận nghiên cứu tại Nhật mà trong tương lai gần là tại VN là làm thế nào để cho ra giá thành sản phẩm thấp nhất ở mức có thể để sản phẩm được phổ biến rộng rãi hơn. Được biết, các sản phẩm của công ty được sản xuất tại VN đã được Bộ Y tế Nhật Bản đồng ý cho nhập khẩu vào thị trường Nhật để hoàn tất công đoạn cuối xuất khẩu sang các thị trường khác. Theo nhận xét của các chuyên gia ngành y khoa, đạt được điều này là không dễ chút nào, bởi Nhật là quốc gia nổi tiếng khắt khe trong kiểm định các thiết bị liên quan đến sức khỏe, mạng sống con người.

Đã hơn 40 năm xa quê, ông Phúc nói đã có kế hoạch sau khi về hưu sẽ chuyển toàn bộ sự nghiệp của mình cho hai người con trai, để tiếp tục đưa giấc mơ của ông về một sản phẩm “made in VN” không thua kém “made in Japan” trên thương trường quốc tế. Với ông, chiếc máy HFO của Nhà máy Metran Vitec tại VN đã vượt qua những cánh cửa kiểm soát khắt khe nhất để đĩnh đạc bước vào nước Nhật là bước đầu minh chứng cho giấc mơ có thật của ông.

Nguyên Nga

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 5: Cuộc trao đổi… giống

07:52 AM – 02/03/2015 Lam Ngọc – Quang Thuần
TNÔng Mai Viết Phương, người mang 3 quốc tịch (Úc, Canada, VN), đã chọn vùng đồi núi khô cằn ở H.Đức Trọng (Lâm Đồng) để dành phần đời còn lại cho việc mang giống cam Cara từ xứ sở chuột túi về trồng ở VN.
Ông Mai Viết Phương nâng niu những trái cam đỏ Cara

Ông Mai Viết Phương nâng niu những trái cam đỏ Cara – Ảnh: Lam Ngọc

Ông Phương quê gốc tại Long Xuyên (An Giang), xuất cảnh sang Canada từ thập niên 1960. Sau đó ông sang Úc để theo học chuyên ngành nông nghiệp và trở thành giảng viên chuyên hướng dẫn sinh viên thực nghiệm của Trường đại học Tây Sydney.

 Đổi cây Việt lấy giống Úc

Năm 1976, ông Phương đưa gia đình sang Úc định cư. Thời điểm này, chính phủ Úc muốn đẩy mạnh nghiên cứu xu hướng ẩm thực châu Á thông qua người Việt, nên ông được các tổ chức nghiên cứu “trải thảm đỏ” mời về tham gia dự án. Công việc chính của nhóm nghiên cứu là biến đổi giống cam “Cara Cara” (hay còn gọi là cam Cara) có nguồn gốc từ Venezuela, được đưa sang Mỹ, sau đó du nhập vào Úc. Mục tiêu đặt ra là giống cam sẽ tích hợp được những tính trội như vị cà rốt, cà chua và cam; sống được ở nhiều môi trường khắc nghiệt khác nhau; năng suất và tuổi thọ vượt nhiều lần giống cam thường…

Sau rất nhiều lần thử nghiệm thất bại, nhóm nghiên cứu cũng tạo ra được giống cam Cara tích hợp đủ những ưu điểm như mong muốn. Ngoài ra, các khoáng chất trong giống cam này còn chứa lyconene, một chất kháng ung thư và chất carotenoid đóng vai trò chủ chốt trong kiêng ăn cân đối. Theo đánh giá của các chuyên gia ngành nông nghiệp, Cara Cara là giống cam duy nhất trên thế giới có ruột màu đỏ thẫm chứa hàm lượng lycopene và carotenoid rất cao, vừa giúp cân đối dinh dưỡng trong chế độ ăn kiêng và hạn chế ung thư, như một loại thực phẩm chức năng.

Kể từ đó, ông Phương ấp ủ tâm nguyện sẽ mang giống cam này về trồng tại quê hương VN. Tuy nhiên, giống cam Cara lại là thành quả của cả nhóm nghiên cứu ở Úc. Nếu muốn mang về phải được sự đồng ý của cả nhóm. Hơn nữa, nó chưa có hạt giống nên buộc phải mang cả cây giống về. Giữa lúc chưa tìm ra được giải pháp vẹn toàn, nhóm đang rất muốn thu thập được cây thông hai lá dẹt và cây trà mi tại VN để nghiên cứu. Ông Phương liền thỏa thuận với những giáo sư trong nhóm, nếu ông mang về cho họ gien của cây thông hai lá dẹt và cây trà mi thì đổi lại ông được phép mang cam Cara về nhân giống và trồng ở VN.

Cuộc thương lượng thành công nhanh chóng. Ông Phương trở về VN, suốt một tháng ròng rã trèo đèo lội suối khắp dãy Trường Sơn và các tỉnh phía bắc, ông Phương tìm được hai loại cây cần tìm và mang ngay về Úc để nhận lại giống cam Cara quý giá.

Cung cấp giống miễn phíSau khi nghỉ hưu, năm 2005, ông Phương trở về VN theo đúng tâm nguyện, để lại vợ, hai con trai cùng nông trại ở Úc. Ông tìm đến vùng núi Voi ở H.Đức Trọng và chọn nơi này để trồng thử nghiệm giống cam trên.

Tìm được địa điểm nhưng việc đền bù giải tỏa đất cho người dân tộc thiểu số ở đây thật không đơn giản. Sau rất nhiều lần đàm phán, kết quả, ông Phương chấp nhận đền bù cho đồng bào 20 triệu đồng/ha đất hoang phế. Ông Phương thuê vài chục công nhân để cùng với mình phát quang, xây dựng nông trại, hồ trữ nước trên núi, nhân giống…

Ở đây ông không sử dụng thuốc trừ sâu, phân hóa học mà dùng phân hữu cơ và lấy một ống nhỏ chứa thức ăn thu hút rầy và những côn trùng có hại để bẫy chúng nhằm tránh phải xịt thuốc. Hơn 1 năm ròng cho công tác chuẩn bị, những cây cam Cara lớn dần, ra những trái đầu mùa. Và khi bổ quả cam đầu tiên… quả nhiên cam có ruột đỏ tươi, mọng nước, có vị của cà chua, cà rốt lẫn cam. Để tránh rủi “được mùa mất giá”, ông Phương tiếp tục nghiên cứu và cam Cara trở thành giống cây ra trái quanh năm. Sau 3 năm trồng, cam Cara sẽ cho trái bói, tùy thổ nhưỡng mà năng suất có thể dao động từ 30 – 50 tấn quả/ha/năm.

Cũng từ đó, ông Phương đi khắp dải núi Voi khảo sát, ai có đất rộng ông khuyến khích trồng cam. “Tôi cung cấp giống miễn phí, hướng dẫn người dân ở đây trồng và chăm sóc cam Cara tận nơi. Những người tôi cho giống phần nhiều là đồng bào dân tộc thiểu số kinh tế còn nghèo”, ông Phương chia sẻ.

Lam Ngọc – Quang Thuần

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 6: Ươm mầm công nghệ sinh học

05:51 AM – 03/03/2015 Mai Vọng
TNCách đây hơn 10 năm, tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình từ Canada cùng gia đình về nước, giữ chức Phó giám đốc Trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM. Ông đã đem về những kinh nghiệm, kiến thức và sự tâm huyết lớn giúp ngành công nghệ sinh học trong nước phát triển.
Nguồn lực kiều bào - Kỳ 6: Ươm mầm công nghệ sinh học

TS Nguyễn Quốc Bình và khu trồng dưa lưới tại Trung tâm CNSH TP.HCM – Ảnh: Mai Vọng

Đào tạo nguồn nhân lực
“Ngán” thủ tục hành chính
Chia sẻ với PV Thanh Niên, tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình nói điều khiến ông ưu tư là vẫn còn những trở ngại trong việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học tại VN. “Cơ chế xin – cho đang làm nản lòng nhiều nhà nghiên cứu. Rồi thì thủ tục hành chính đôi khi làm chậm trễ, việc đăng ký các đề tài, dự án kéo dài từ năm này đến năm sau, rồi xét duyệt, cấp kinh phí… khiến phải 2 năm sau khi đăng ký mới thực hiện được là những trở ngại cần tháo gỡ”, tiến sĩ Bình ưu tư.

Năm 2004, Trung tâm công nghệ sinh học (CNSH) TP.HCM được thành lập theo chủ trương của TP là xây dựng một cơ sở nghiên cứu ứng dụng CNSH hiện đại tại Trại giống cây trồng Đồng Tiến với diện tích 23 ha, quy mô đầu tư dự kiến ban đầu khoảng 100 triệu USD. Đây là một chủ trương chiến lược trong việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ. Việc bổ nhiệm một nhà khoa học Việt kiều làm Phó giám đốc Trung tâm CNSH thể hiện sự cởi mở và thu hút chất xám của TP.HCM.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Bình kể: khi biết TP.HCM kêu gọi trí thức Việt kiều về VN làm việc, ông nghĩ sự trở về góp sức trong lúc đất nước còn khó khăn là thể hiện một phần trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc. Vì vậy, ông trở về và là một trong những người đi đầu xây dựng Trung tâm CNSH TP.HCM trở thành một trung tâm nghiên cứu ngang tầm quốc tế, có khả năng ứng dụng công nghệ và chuyển giao các sản phẩm.
10 năm qua, ngoài việc xây dựng cơ sở vật chất cho trung tâm theo mô hình của nước ngoài mà ông đã từng làm, tiến sĩ Bình còn tham gia giảng dạy tại một số trường đại học tại VN. Ông cho rằng việc đào tạo các bạn trẻ, nguồn nhân lực cho ngành CNSH là việc rất cần. Lúc mới đi vào hoạt động, nhân sự của trung tâm chỉ 5 người, trong đó có 2 tiến sĩ, 2 thạc sĩ, đến nay đã có 157 người, trong đó có 10 tiến sĩ, 39 thạc sĩ, 70 cử nhân và kỹ sư, ngoài ra có 16 cán bộ đang theo học thạc sĩ, tiến sĩ trong và ngoài nước. Riêng tiến sĩ Bình đã trực tiếp hướng dẫn, đào tạo khoảng hơn 20 người trong số đó. “Đó là cả một quá trình với rất nhiều công việc không thể nào đo đếm được. Chỉ có thể hình dung phần nào qua kết quả nghiên cứu lên tới khoảng 30 đề tài mỗi năm”, ông Bình nói.
Ứng dụng mang lợi ngàn tỉ đồng
Hiện Trung tâm CNSH đang trong quá trình vừa xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực, vừa nghiên cứu các đề tài, đưa ra ứng dụng nhiều sản phẩm trong các lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, môi trường, y dược… với công nghệ tiên tiến về gien, vắc xin, tế bào… Bên cạnh đó, trung tâm cũng rất chú trọng việc thương mại hóa sản phẩm. Trong các năm qua, các cây giống hoa lan cấy mô và sản phẩm hoa cắt cành (7 nhóm giống khác nhau) đã được trung tâm nhân giống và cung cấp cho thị trường. Bộ 24 giống hoa nền như hoa chuông, hoa đồng tiền… đã được sản xuất cùng gần 100 giống cây kiểng lá.
Trung tâm cũng đã xây dựng và chuyển giao quy trình canh tác và giống dưa lưới trồng trong nhà màng; cây giống Sâm Ngọc Linh; bộ chế phẩm sinh học BIMA (chứa nấm đối kháng Trichoderma); bộ chế phẩm phân bón lá hữu cơ sinh học Bio – trùn quế dùng cho rau, hoa, cây ăn trái, cây công nghiệp; bộ chế phẩm vi sinh cố định đạm, phân giải lân; bộ chế phẩm vi sinh xử lý lục bình làm phân bón hữu cơ; bộ Kit PCR phát hiện 4 loại bệnh vi rút trên tôm; bộ Kit PCR phát hiện bệnh vi rút trên hoa lan… Tiến sĩ Bình nhắc tới sản phẩm vắc xin ngừa bệnh gan thận mủ cho cá tra do Trung tâm CNSH nghiên cứu, sản xuất và nói: “Nếu như vắc xin này ứng dụng cho tất cả cá tra nuôi ở VN, thì mỗi năm nguồn lợi mang lại cho xã hội cả ngàn tỉ đồng”.

Mai Vọng

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 7: Quang điện tử ‘made in VN’

04:43 AM – 04/03/2015 Mai Phương
TNNhiều năm vất vả để xây dựng sự nghiệp vững vàng tại Canada nhưng TS Nguyễn Thanh Mỹ vẫn quyết định quay về Trà Vinh – nơi ông sinh ra và lớn lên –  để thành lập Công ty hóa chất Mỹ Lan vào năm 2003 với vốn đầu tư 1 triệu USD (tiền thân của Công ty cổ phần Mỹ Lan và sau này là Tập đoàn Mỹ Lan).
TS Nguyễn Thanh Mỹ (phải) và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Canada - David Denive tham quan hoạt động của tập đoàn trong tháng 1.2015

TS Nguyễn Thanh Mỹ (phải) và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Canada – David Denive tham quan hoạt động của tập đoàn trong tháng 1.2015 – Ảnh: Tập đoàn Mỹ Lan cung cấp

Công ty đã tạo ra những sản phẩm công nghệ cao lần đầu tiên có mặt tại VN. Đây cũng  là doanh nghiệp đầu tiên tại VN sản xuất vật liệu quang điện tử.

Khai thác trí tuệ của người Việt     

Ông cho rằng VN có nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được phát triển đúng mức. Trong khi đó nhu cầu phát triển công nghệ hóa học, nhu cầu ngành in ở VN rất lớn, nhưng tất cả vẫn còn thiếu công nghệ. Chính vì lẽ đó, ông đã quyết định mang những bằng sáng chế công nghệ cao về bản in offset  đạt được ở Canada, có giá trị hàng ngàn tỉ đồng, trở về quê hương. Những dự án mà ông đang điều hành cũng đã ứng dụng, lần lượt cung ứng ra thị trường những sản phẩm có giá trị cao và lần đầu tiên có mặt tại VN như các loại hóa chất tinh khiết dùng trong lĩnh vực tráng phủ, in ấn, chống giả – bảo mật. Đặc biệt, các loại màng mỏng chất dẻo đơn lớp, đa lớp dùng trong lĩnh vực gói bao bì thực phẩm, dược phẩm, y tế; màng phát sáng, màng phim trang trí theo công nghệ quang điện tử là sản phẩm được độc quyền sản xuất bởi Tập đoàn Mỹ Lan. Trên 70% sản phẩm của tập đoàn dành để xuất khẩu và còn lại cung ứng cho thị trường trong nước.

Tính đến hết năm 2014, Tập đoàn Mỹ Lan đã đầu tư tại Trà Vinh 4 dự án với tổng vốn khoảng 30 triệu USD. Doanh thu phát triển ổn định qua các năm và ước tính năm 2014 đạt gần 500 tỉ đồng với khoảng 500 nhân viên.

“Thực tế chứng minh rằng, không có quốc gia nào là cường quốc kinh tế mà không có nền kinh tế công nghệ cao. Trí tuệ của người VN không thua kém với bất kỳ nước nào nếu chúng ta biết sử dụng và phát triển đúng cách”, TS Nguyễn Thanh Mỹ nhấn mạnh.

 Không ngại thách thức

Trong suốt quá trình đầu tư và phát triển, vấn đề về nguồn nhân lực chất lượng cao luôn đặt ra thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp. TS Nguyễn Thanh Mỹ và Tập đoàn Mỹ Lan đã tìm cách khắc phục khó khăn đó vì ông khẳng định con người luôn là yếu tố quan trọng nhất để phát triển doanh nghiệp. Ông liên kết với Trường ĐH Trà Vinh thành lập Khoa Hóa học ứng dụng do chính ông làm trưởng khoa, đứng lớp giảng dạy; thiết lập một chương trình vừa học vừa làm cho các  sinh viên và đào tạo thành công nhiều kỹ sư hóa cho tập đoàn; đồng thời đưa ra các chính sách tuyển dụng và đãi ngộ của tập đoàn để thu hút được nguồn lao động chất lượng cao từ khắp các tỉnh, thành.

Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển Tập đoàn Mỹ Lan, thành công mà vị doanh nhân Việt kiều này tâm đắc nhất chính là phát triển được đội ngũ lao động trẻ trở thành những nhân viên có chuyên môn cao, tác phong công nghiệp vững vàng và nhất là có ý thức chia sẻ, giúp đỡ cộng đồng xung quanh. Bên cạnh đó, ông đã tích cực hỗ trợ tỉnh Trà Vinh kêu gọi, thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào tỉnh. Thành công mang đậm dấu ấn của ông là khi Khu công nghiệp Long Đức và Khu kinh tế Định An đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Mai Phương

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 8: Phát triển giống rau, hoa VN

05:24 AM – 05/03/2015
TNTrước thực trạng xuất khẩu rau quả của VN liên tục tăng trong những năm gần đây, đạt kim ngạch khoảng 1,5 tỉ USD năm 2014, nhưng có đến 80% giống rau đang phải nhập khẩu, TS Nguyễn Quốc Vọng, Việt kiều Úc, đang tích cực nghiên cứu và phát triển các giống rau, hoa để dần giảm sự phụ thuộc nguồn giống nước ngoài.
Nguồn lực kiều bào - Kỳ 8: Phát triển giống rau, hoa VN

TS Nguyễn Quốc Vọng đang nỗ lực phát triển các bộ giống rau trong nước để giảm dần sự phụ thuộc giống rau ngoại nhập – Ảnh: Chí Nhân

Từ năm 1969 – 1980, TS Vọng học tập và nghiên cứu tại Nhật Bản. Khi di cư sang Úc, ông tiếp tục nghiên cứu về rau quả, cà chua và trà. Năm 2007, khi đang làm việc tại Bộ Nông nghiệp bang New South Wales (Úc) và giảng dạy ở Đại học RMIT cùng một số trường đại học khác, TS Vọng về nước theo lời mời của lãnh đạo Viện Khoa học nông nghiệp VN, với mục đích xây dựng một trung tâm xuất sắc (Centre of Excellence) theo mô hình của Úc. Đây là mô hình nghiên cứu và phát triển nông sản theo chuỗi giá trị. Tuy nhiên, vì một số lý do khách quan, trung tâm đã không ra đời.
Không coi mình là Việt Kiều
TS Nguyễn Quốc Vọng tâm sự: “Sau 8 năm về VN, đến thời điểm này tôi không còn coi mình là Việt kiều nữa vì chỉ có suy nghĩ như người VN thì mới có thể làm việc được. Chủ trương của tôi là không đầu tư mà muốn chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật của nước ngoài về áp dụng tại VN. Trong nông nghiệp, đó là việc nghiên cứu xây dựng và phát triển theo chuỗi giá trị”.

Thời gian đầu về nước, TS Vọng làm một số dự án và xây dựng quy trình sản xuất VietGAP cho Bộ NN-PTNT, đồng thời giảng dạy tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội. “Năm 2010, mình chọn Công ty CP giống cây trồng miền Nam vì nó là công ty có nghiên cứu về giống trong khi nhiều công ty chỉ đơn thuần là kinh doanh – nhập giống của nước ngoài về bán”, ông tâm sự. Hiện TS Vọng là thành viên HĐQT, Giám đốc Trung tâm giống rau hoa – SSC của công ty.

Theo TS Vọng, việc phải phụ thuộc vào giống rau của nước ngoài đến 80% là không ổn. VN cần chủ động được ít nhất 50% về giống, bởi việc phụ thuộc vào nguồn cung của nước ngoài rất nguy hiểm, không loại trừ họ sẽ đẩy giá lên rất cao.
Sau khoảng 5 năm đi sâu nghiên cứu phát triển giống rau nội địa, đến tháng 9.2014, Trung tâm SSC đã cung cấp cho thị trường 18 trong tổng số 36 bộ giống rau. “Chúng tôi có thể phát triển nhanh các bộ giống của riêng mình nhờ áp dụng phương pháp cấy mô ở kỹ thuật cao là cấy thụ phấn và cấy noãn. Việc này rút ngắn thời gian lai tạo giống khoảng 5 năm so với phương pháp lai tạo bằng cách chọn lọc tự nhiên”, TS Vọng nói và cho biết đang dồn sức cho việc lập chi nhánh của SSC ở Lâm Đồng để xây dựng bộ giống rau ôn đới cho VN.
Cũng theo TS Vọng, ông đang nghiên cứu phát triển một bộ giống rau có dược tính cao vì “phát triển một bộ giống rau như vậy là phù hợp với xu hướng tiêu dùng của thế giới trong tương lai gần”. “Ví dụ như trái khổ qua có dược tính là chống tiểu đường, ung thư (tụy, vú), nhưng khổ qua có nhiều giống khác nhau, nhà khoa học cần chọn ra những giống có dược tính cao để phát triển”, TS Vọng nói.
***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 9: Cha đẻ khái niệm rau sạch

09:03 AM – 06/03/2015 Nguyên Nga
TNCụm từ “rau sạch” ngày nay không lạ với người tiêu dùng Việt, song ít ai biết “cha đẻ” của sản phẩm này là “Hùng rau sạch”.
Vườn rau củ tí hon tại trang trại Organik của TS Nguyễn Bá Hùng ở Đà Lạt

Vườn rau củ tí hon tại trang trại Organik của TS Nguyễn Bá Hùng ở Đà Lạt – Ảnh: Ng.Nga

Ông là Nguyễn Bá Hùng, một tiến sĩ sinh học, khoảng 25 năm trước đã mang công nghệ trồng rau theo công nghệ hiện đại từ Pháp về phổ biến tại Đà Lạt. Cái tên “Hùng rau sạch” như một nhãn hiệu gắn liền bởi ông là người đầu tiên mang công nghệ trồng rau sạch trên vỉ xốp, trong nhà kính ở nước ngoài về hướng dẫn cho nhà nông tại Đà Lạt từ những năm cuối thập niên 80 thế kỷ trước.

Mấy năm sau, TS Hùng cũng là người tiên phong nghiên cứu, gây giống và sản xuất những giống cây củ tí hon cao cấp có giá trị dinh dưỡng cao. Ông lập Công ty Organik, mở trang trại rộng hơn 4 ha tại Trại Mát (Đà Lạt) để tập trung nghiên cứu và trồng các loại rau củ tí hon này.

Tiên phong đưa giống rau củ tí hon về VN

Trang trại của Organik nằm lọt giữa một thung lũng, bọc xung quanh là những con suối và triền đồi. Vị trí này, theo ông Hùng, giúp đảm bảo cho việc trồng rau sạch vì không bị lây nhiễm bệnh, hóa chất, thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng từ các trang trại trồng hoa màu khác. Organik hiện đang nghiên cứu và trồng luân phiên khoảng 150 chủng loại rau, củ, hoa, quả, đa số là giống cây lạ và tí hon. Riêng rau mùi, Organik có gần 20 loại với màu sắc, mùi vị, hình thù khác nhau, giá bán không dưới 80.000 đồng/kg. Rau xà lách, có hơn 15 giống đa màu, thu hoạch khoảng 1 tháng. Các loại củ cải, củ dền, cà rốt… tí hon thì trồng khảng 2 – 3 tháng là thu hoạch.

Sau thu hoạch, rau được đưa vào máy rửa có xử lý ozon, rồi chuyển vào máy sấy ly tâm và chuyển vào phòng riêng để đóng bao bì, gắn mã vạch chuyển đến khách hàng. Còn rau cắt sẵn, làm sạch ăn liền cũng được đóng gói và có thể giữ trong môi trường mát một tuần mà không mất dưỡng chất. Ông Hùng khẳng định tuyệt đối không dùng hóa chất để bảo quản mà chỉ đơn giản dùng kỹ thuật cho rau “ngủ”, tăng carbon giảm ô xy hạn chế quá trình trao đổi chất sau thu hoạch mà các nước tiên tiến đã áp dụng. Minh chứng cho điều này, ông cho lấy gói rau hữu cơ đã được xử lý đóng gói, cắt bao bì và bày lên đĩa mời khách “ăn liền”.

Hướng dẫn chúng tôi tham quan trại, đưa tay chỉ hồ nước đang được máy bơm nước vào để lắng qua đêm mới tưới cây, ông Hùng nói để thực hiện thành công mô hình rau sạch cao cấp này, không chỉ có tiền, đầu tư tốt nhà kính thôi, mà phải đầu tư mạnh trong nghiên cứu di truyền giống để có giống phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng của vùng.

Tham vọng trồng rau chữa bệnh

Thực tế, mấy năm trước đây, đã có không ít nhà đầu tư nông nghiệp từ Úc, Nhật, mang công nghệ trồng rau hiện đại đến Đà Lạt đầu tư trồng rau sạch, nhưng thất bại. Nhiều giống rau quả người Úc mang sang đây không chịu nổi mưa dầm ở vùng đất cao nguyên này. “Những giống rau của họ chỉ có thể chịu lượng mưa 700 – 800 mm/năm, trong khi ở đây là 1.500 mm/năm. Theo tôi, nghiên cứu di truyền giống trước khi trồng tại một vùng thổ nhưỡng cho dù được coi là thuận lợi như Đà Lạt là cực kỳ quan trọng. Đầu tư nông nghiệp ở vùng có khí hậu thổ nhưỡng khắc nghiệt, nhà đầu tư phải chuẩn bị tinh thần thất bại, đừng nghĩ trồng đâu trúng đó”, ông cho biết.

Ông Hùng cũng cho biết, đang khảo nghiệm và đưa vào trồng một số loại rau có công dụng chữa bệnh. Chẳng hạn, nhiều loại rau có sắc tố đỏ, chứa nhiều hàm lượng a xít, phù hợp cho người có thể trạng kém, ăn kiêng. Một trong những phương pháp tốt nhất là dùng thân cây chuối để làm giá thể trồng rau, tạo nên sản phẩm “xà lách chuối” chuyên phục vụ những người bị bệnh ung thư hoặc các bệnh nan y khác.

Hiện Organik đã có chi nhánh tại Q.2 (TP.HCM). Mỗi năm, công ty sản xuất và cung cấp cho thị trường khoảng 70 tấn rau sạch, chủ yếu phục vụ cho một số khách sạn, resort 4 – 5 sao tại TP.HCM, Hà Nội, Phan Thiết, Nha Trang… mấy trăm gia đình người nước ngoài sống tại VN và xuất sang Singapore. Sản phẩm xuất khẩu chính của Organik là rau xà lách đã qua xử lý, đóng gói tại trang trại bằng công nghệ hiện đại nhập từ Pháp. Trong năm 2015 này, TS Hùng cho biết, sẽ mở rộng trang trại thêm gần 1 ha nữa. “Tham vọng của chúng tôi là phải tăng năng suất lên đến 300 tấn/năm mới phục vụ đủ nhu cầu thị trường” – ông Hùng nói.

Nguyên Nga

***

Nguồn lực kiều bào – Kỳ 10: Đưa ngành phần mềm VN vươn xa

05:35 AM – 07/03/2015 Mai Phương
TNNăm 2001, TS Nguyễn Hữu Lệ (Việt kiều Úc) quay về VN và phát triển Công ty Tường Minh (TMA Solutions) chuyên về gia công phần mềm cho các tập đoàn trên thế giới. Ông đã góp phần đưa ngành gia công phần mềm VN ghi tên trên bản đồ công nghệ thế giới.
TS Nguyễn Hữu Lệ thường xuyên tham gia các buổi đào tạo cho nhân viên - Ảnh: M.P
TS Nguyễn Hữu Lệ thường xuyên tham gia các buổi đào tạo cho nhân viên – Ảnh: M.P
Nhân rộng đội ngũ kỹ sư phần mềm
Từ con số 6 chuyên viên phần mềm khi thành lập đến nay TMA Solutions đã có 1.800 kỹ sư đang làm việc tại 6 cơ sở ở TP.HCM. Là đối tác của nhiều tập đoàn lớn từ Canada, Mỹ, Pháp, Úc, Nhật…, công ty được các khách hàng đánh giá cao về năng lực. Năm 2002, dù TMA Solutions chưa có tới 200 kỹ sư nhưng đã được Hãng tư vấn độc lập Mỹ – Aberdeen nêu tên trong bản báo cáo “Gia công phần mềm xuất khẩu: các trường hợp tốt nhất”. Đây là lần đầu tiên một công ty phần mềm VN lọt vào danh sách 15 công ty gia công phần mềm tốt nhất thế giới, đứng cạnh các tập đoàn gia công phần mềm hàng đầu như: Infosys, TCS, Wipro của Ấn Độ, Xansa của Trung Quốc… Tại VN, nếu nói về quy mô thì TMA Solutions chỉ đứng thứ hai nhưng khi nói về năng lực thì đây là công ty dẫn đầu cả nước về gia công phần mềm, có thể cạnh tranh được với các công ty lớn của Ấn Độ về khả năng thực hiện các dự án phức tạp, có độ khó cao.
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) nói chung và phần mềm nói riêng, nhân sự là yếu tố chính quyết định sự thành công. Để phát triển được đội ngũ này, công ty đã không ngừng đào tạo, bắt đầu từ nội bộ đến việc mở rộng thành lập trung tâm đào tạo dành cho các sinh viên mới ra trường và sinh viên năm cuối có chỗ thực tập. Việc đào tạo tập trung vào kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm và ngoại ngữ – những kỹ năng sinh viên vẫn còn bị thiếu hụt dù đã tốt nghiệp đại học – để đủ điều kiện làm việc ngay trong các dự án cho nước ngoài.
Theo TS Nguyễn Hữu Lệ, với nhu cầu tuyển dụng từ 400 – 500 nhân viên/năm thì riêng trung tâm đào tạo nói trên vẫn chưa đủ đáp ứng được. Mô hình đào tạo của TMA Solutions đã được nhiều doanh nghiệp trong nước nhân rộng và từ đó, góp phần phát triển đội ngũ nhân sự về CNTT nói chung và phần mềm nói riêng của VN.
Thúc đẩy R&D
Không chỉ dừng lại ở mức gia công, hiện TMA Solutions đã triển khai mở rộng phát triển sản phẩm độc lập ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như y tế, tài chính… Phục vụ cho các mục tiêu này, từ cách đây hơn 5 năm, Trung tâm R&D (nghiên cứu và phát triển) của TMA Solutions đã được thành lập tại Công viên phần mềm Quang Trung. Chi phí đầu tư cho hoạt động của trung tâm này khoảng 600.000 USD/năm.
TS Lệ cho biết việc thành lập Trung tâm R&D là cơ sở để tận dụng những tài sản sở hữu trí tuệ có sẵn từ các cá nhân và tổ chức nước ngoài, và qua đó cũng tiến đến kêu gọi hợp tác phát triển thêm tài sản trí tuệ mới ngay tại VN. Sau một thời gian nghiên cứu, sản phẩm “Giaothông247” của công ty đã ra đời, đây là một trong những phần mềm định vị đầu tiên của VN dành cho iPhone và các thiết bị di động chạy Android với tính năng có giá trị nhất là khả năng dẫn đường thông minh, giúp tài xế tránh các tuyến đường xảy ra ùn tắc giao thông. Người dùng cũng có thể thông báo cho cộng đồng các sự kiện giao thông đang xảy ra thông qua điện thoại di động. Hiện phần mềm đang được cung cấp miễn phí cho người dùng. Bên cạnh đó, công ty cũng kết hợp với một đối tác tại Úc xây dựng dự án “Ceqeo” nhằm phát triển công nghệ phân tích nhanh toàn bộ chuỗi gien của người. Kết quả của dự án này đang được một công ty hàng đầu về phân tích DNA của Mỹ thử nghiệm để tiến tới hợp đồng mua sử dụng cho các máy đo, phân tích DNA ở các bệnh viện…
Đầu năm nay, Trung tâm R&D của TMA đã mở thêm văn phòng mới tại Thung lũng Silicon (Mỹ) để quảng bá các công nghệ đã được trung tâm đầu tư nghiên cứu và tìm kiếm các đối tác công nghệ mới. “Chỉ ý tưởng thôi thì chưa đủ vì phải am tường thực tiễn bên ngoài, sự hiểu biết công nghệ trong một địa phận nào đó và việc thực thi phải gắn với đầu ra thị trường. Đầu tư cho các dự án R&D là cơ hội để DN có thể có những sản phẩm công nghệ cao ra thị trường”, TS Lệ chia sẻ.
Liên tục từ năm 2012 – 2014, các tổ chức quốc tế đã nhìn nhận VN nằm trong Top 10 nước gia công phần mềm hấp dẫn nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. TS Nguyễn Hữu Lệ cho biết có thể kỳ vọng VN sẽ là điểm đến chỉ đứng sau Ấn Độ – cường quốc về gia công phần mềm trên thế giới.

Mai Phương

Đăng bởi Phạm Thu Hương

I am a translator, author and administrator of Dotchuoinon.com - This is the only Vietnamese-language website devoted exclusively to positive thinking, founded by Dr Tran Dinh Hoanh, an attorney in Washington DC (USA) and author of a book series in Vietnamese on Positive Thinking. I am also administrator of UNCLOS Forum (United Nations Convention on the Law of the Sea Forum), a forum on UNCLOS and the East Sea (South China Sea) disputes, and CVD, a website for Conversations on Vietnam Development, both also founded by Dr Tran Dinh Hoanh. I am studying the Bible and Buddhism. I graduated with B.Sc. in Biotechnology Engineering from Hue University of Sciences. I love living with nature. I practice Aikido and the Energy Training exercise system for health, and enjoy life beauty as a hobby.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s