Khi kết nối Nam Á và Đông Nam Á

English: The case for connecting South Asia and Southeast Asia

Tác giả: Ganeshan WignarajaPeter Morgan và Michael G. Plummer.

Cơ hội mới cho liên kết và hòa nhập Nam Á – Đông Nam Á

Asiapathways – adbi – Thời gian đã chín muồi để thúc đẩy hội nhập kinh tế giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Kỷ nguyên tăng trưởng chậm“thông thường”sắp tới của các nền kinh tế công nghiệp phát triển diễn ra sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cho thấy các nền kinh tế Châu Á cần dựa vào nhu cầu nội địa và khu vực nhiều hơn để đảm bảo sự tăng trưởng nội tại của mỗi quốc gia. Tốc độ tăng trưởng chậm gần đây của Trung Quốc đặt ra nền tảng xa hơn cho việc xét đến cơ hội tăng trưởng giữa Nam Á và Đông Nam Á. Các động thái hướng đến thành lập Cộng đồng Kinh tế Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN (Association of Southeast Asian Nations Economic Community – AEC) trong năm 2015 và hơn thế nữa sẽ tạo ra một thị trường kết nối hơn và rộng hơn với sức mua lớn và giúp mở rộng các nền kinh tế. Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cấp hệ thống sản xuất định hướng bởi dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và củng cố vai trò của ASEAN trong việc dẫn dắt hội nhập khu vực Châu Á.

Chính phủ ưu tiên phát triển kinh tế của Ấn Độ được thành lập là một động lực nhằm thúc đẩy Chính sách Hành động hướng Đông [1] mới của Ấn Độ, làm tăng thêm các hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng xuyên biên giới và đẩy mạnh cải cách kinh tế trong nước. Các cuộc đàm phán hướng hình thành quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) và quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership – RCEP) trên các khu vực rộng lớn đang được tiến hành, tuy nhiên hầu nết các nền kinh tế Nam Á và Đông Nam Á lại không tham gia hoạt động này. Những cải cách kinh tế và chính trị gần đây ở Myanmar – vùng đất kết nối chính giữa hai khu vực – có thể giúp làm sâu sắc hơn các mối quan hệ và tính kết nối giữa hai khu vực, điều mà một vài năm trước đây là không thể xảy ra. Mặc dù vậy, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về vai trò của hoạt động kết nối cứng và kết nối mềm (hard and soft connectivity) trong việc đào sâu quan hệ kinh tế giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á.

Trên cơ sở đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian Development Bank – ADB) và Viện nghiên cứu Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian Development Bank Institute – ADBI) đã tiến hành một nghiên cứu toàn diện về cách thức mà sự cải thiện trong kết nối vật lý và sự hội nhập về cơ sở hạ tầng mềm có thể thúc đẩy việc thắt chặt các quan hệ kinh tế giữa hai khu vực này. Tính kết nối vật lý ở đây đề cập đến hạ tầng giao thông và năng lượng, trong khi cơ sở hạ tầng mềm bao gồm các mảng có tính chất quyết định trong hệ thống tài chính, thuận lợi hoá thương mại, cải cách và các thể chế hợp tác. Nghiên cứu kết luận rằng các khoản đầu tư tương đối khiêm tốn vào kết nối vật lý thực tế lại có thể thúc đẩy hội nhập khu vực một cách sâu sắc giữa Nam Á và Đông Nam Á. Hơn nữa, lợi ích của việc hội nhập theo hướng kết nối vật lý này có vẻ vượt xa chi phí bỏ ra. Cụ thể một số nội dung đáng chú ý trong nghiên cứu của ADB/ADBI được thảo luận dưới đây.

Đánh giá quan hệ kinh tế và thực trạng kết nối giữa hai khu vực

Thứ nhất, quan hệ kinh tế giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á, mặc dù đang tiến triển, nhưng vẫn còn hạn chế bởi sự thắt nghẽn trong cơ sở hạ tầng, thị trường tài chính, vấn đề thuận lợi hoá thương mại, các rào cản thương mại và sự hạn chế trong hợp tác khu vực. Kết quả trao đổi thương mại giữa hai khu vực này tăng 23 lần từ 4 tỷ đô la Mỹ lên 90 tỷ đô la Mỹ trong giai đoạn 1990-2013. Tuy nhiên, tỉ trọng thương mại của khu vực Đông Nam Á trong tổng kim ngạch thương mại của khu vực Nam Á chỉ tăng từ 6% đến 10%, trong khi tỉ trọng thương mại của Nam Á trong tổng kim ngạch thương mại của khu vực Đông Nam Á chỉ tăng gấp đôi từ khoảng 2% đến 4%. Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với luồng tài chính và đầu tư. Điều này cho thấy còn một tiềm năng lớn trong việc phát triển mối quan hệ kinh tế giữa hai khu vực. Cụ thể là, những nhân tố chính thúc đẩy hoạt động thương mại ở Đông Nam Á bao gồm hệ thống sản xuất định hướng bởi hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động mua bán thương mại linh kiện và bộ phận vẫn chưa đứng vững tại thị trường Nam Á.

Thứ hai, việc tăng cường kết nối hệ thống giao thông và năng lượng là yếu tố rất quan trọng việc hội nhập kinh tế sâu rộng hơn giữa hai khu vực. Những rào cản chính đối với vận tải mặt đất xuyên khu vực nằm chủ yếu ở Myanmar, còn lại là ở Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Mặc dù các tuyến đường bộ đã được kết nối nhưng rất nhiều đoạn cần phải được nâng cấp, đặc biệt là ở Bangladesh, Ấn Độ và Myanmar. Ngược lại, hệ thống đường sắt hiện chưa được kết nối giữa các nước Tiểu vùng Mê kông mở rộng (Greater Mekong Subregion – GMS) với khu vực Nam Á hay giữa chính các nước Tiểu vùng Mekong mở rộng, trừ Trung Quốc và Việt Nam. Ngoài ra, sự khác nhau về độ rộng của đường ray giữa các quốc gia tiếp giáp nhau như Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan và Myanmar cũng như các khác biệt kỹ thuật khác cho thấy ngay cả khi các tuyến đường sắt chạy suốt được xây dựng thì việc chuyển tiếp hàng hoá giữa các phương tiện vận tải vẫn rất cần thiết.

Hàng hoá trong hoạt động thương mại xuyên khu vực Nam Á – Đông Nam Á vẫn đang được vận chuyển bằng tàu. Tuy nhiên, các cảng biển chính trong hoạt động này bao gồm cảng Kolkata ở Ấn Độ, cảng Chittagong ở Bangladesh và cảng Yangon ở Myanmar đều gặp những vấn đề như tàu thuyền lớn khó tiếp cận, thiếu cơ sở vật chất, năng suất hoạt động không ổn định, thiếtu sự kết nối giữa cảng biển với hệ thống đường sắt và đường bộ.

Trao đổi thương mại trong lĩnh vực năng lượng giữa Nam Á và Đông Nam Á chưa hình thành, ngoại trừ hoạt động vận chuyển than, gas và các loại nhiên liệu khác bằng đường biển truyền thống, tuy nhiên, lĩnh vực này vẫn còn nhiều tiềm năng khai thác. Các cơ hội chính cho hoạt động thương mại năng lượng xuyên khu vực là các đường ống dẫn khí và đường dây dẫn điện (chủ yếu là thuỷ điện), thêm vào đó là sự hợp nhất và kết nối mạng điện. Myanmar có một vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại năng lượng, nhất là trong bối cảnh nước này có năng lực lớn về thuỷ điện và dự trữ khí gas tự nhiên, và hơn nữa là có vị trí quyết định trong việc xây dựng các đường ống dẫn dầu.

Chi phí và vấn đề tài chính đối với các dự án kết nối xuyên biên giới

Thứ ba, tổng vốn đầu tư cho các dự án thúc đẩy kết nối xuyên khu vực (gồm đường cao tốc, đường sắt, cảng biển và thương mại năng lượng) ước tính cần khoảng 73 tỷ đô la Mỹ, cụ thể là 18 tỷ đô la Mỹ dành cho đường bộ, 34 tỷ đô la Mỹ dành cho đường sắt, 11 tỷ đô la Mỹ dành cho các dự án cảng biển và 11 tỷ đô la Mỹ cho hoạt động mua bán năng lượng. Tổng chi phí cho các dự án đầu tư ưu tiên trong lĩnh vực vận tải ước tính khoảng 8 tỷ đô la Mỹ (bao gồm 1 tỷ đô la Mỹ cho đường bộ, 5 tỷ đô la Mỹ cho đường sắt và 2 tỷ đô la Mỹ cho cảng biển). Các tuyến hành lang đường bộ khác nhau nhằm kết nối Nam Á và Đông Nam Á đã được đánh giá và lựa chọn tốt nhất là hành lang Kolkata – Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài 4.430 ki-lô-mét. Kết nối đường sắt là ưu tiên thứ hai sau kết nối đường bộ do lĩnh vực này đòi hỏi nhiều vốn hơn, thiếu sự kết nối hơn và còn tồn tại nhiều khác biệt giữa mạng lưới đường sắt của các quốc gia. Các dự án cảng biển ưu tiên bao gồm xây dựng cảng nước sâu hoặc các trạm trung chuyển công-te-nơ nổi ở Chittagong và Kolkata, cải thiện hạ tầng đường bộ nối giữa cảng Thilawa với Yangon. Việc tăng cường sử dụng các tàu công-te-nơ cỡ lớn là chìa khoá để giảm chi phí vận tải và thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới chuỗi cung cấp.

Thứ tư, việc tài trợ vốn cho các dự án hạ tầng xuyên khu vực vẫn còn nhiều thách thức. Nguồn tài chính truyền thống bao gồm ngân sách công và vay ngân hàng đang trở nên hạn hẹp. Sự phát triển của thị trường tài chính Châu Á và các sáng kiến liên quan là cần thiết để củng cố khả năng tiếp cận các nguồn tài chính dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng. Thị trường trái phiếu có thể đóng vai trò lớn hơn trong việc chuyển các nguồn tiết kiệm của Châu Á sang các dự án hạ tầng. Việc bảo lãnh cho trái phiếu dự án có thể giúp thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm này từ các công ty đầu tư dài hạn. Các quỹ cơ sở hạ tầng, cả trong nước và nước ngoài, đều rất giá trị, đặc biệt nếu Quỹ Cơ sở hạ tầng ASEAN được mở rộng thành quỹ cơ sở hạ tầng của toàn Châu Á, bao gồm cả Nam Á. Các biện pháp để hội nhập thị trường tài chính khu vực và gỡ bỏ các hạn chế đối với dòng vốn quốc tế cũng có thể mang lại tác dụng. Các hoạt động hợp tác trong tương lai, bao gồm việc đồng tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng giữa các ngân hàng phát triển như Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Châu Á mới nổi và Ngân hàng Thế giới sẽ góp phần làm tăng nguồn cung tài chính cho các hoạt động xây dựng hạ tầng ở Châu Á.

Hình thức hợp tác đầu tư công – tư (Public-private partnerships – PPP) cũng là một nguồn cung tài chính quan trọng đối với các dự án cơ sở hạ tầng, nhưng không phải là vô hạn. Việc cải thiện tính minh bạch, khung điều phối và khả năng quản trị các dự án PPP, cùng với việc bổ sung bảo lãnh cho các rủi ro chính trị, có thể làm tăng sức hấp dẫn đối với hình thức đầu tư này. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ các ngân hàng phát triển và các hoạt động hợp tác quốc tế cho các dự án xuyên biên giới cũng có thể giúp đảm bảo sự thành công của PPP.

Thuận lợi hoá thương mại và hợp tác

Thứ năm, việc thúc đẩy thương mại và thuận lợi hoá giao thông vận tải sẽ giúp cho hoạt động thương mại giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á diễn ra dễ dàng và ổn định hơn với chi phí giao dịch thấp hơn. Giới kinh doanh vẫn than phiền về việc thủ tục hải quan đòi hỏi quá nhiều giấy tờ và việc tuân thủ các quy tắc quốc tế về hiện đại hoá thủ tục hải quan tại các khu vực này vẫn còn hạn chế. Sáng kiến Một cửa của ASEAN hiện đang được thực hiện và sẽ giúp giảm đáng kể các chi phí thương mại. Việc áp dụng sáng kiến một cửa của khu vực ở Nam Á cũng đang được xem xét. Việc thiếu các thoả thuận về quá cảnh xuyên biên giới giữa hai khu vực là một trở ngại lớn khác cần được giải quyết.

Thứ sáu, nhu cầu thu hẹp khoảng cách trong quan hệ hợp tác và kết nối giữa Nam Á và Đông Nam Á đòi hỏi có thể phải trang bị lại các công cụ cho các thể chế cũ và tạo ra các định chế mới nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các quan hệ kinh tế. Cách thức điều tiết việc kết nối khu vực được vận hành bởi một số định chế – đôi khi trùng nhau – trong khuôn khổ các hợp tác: Hợp tác khu vực ASEAN, Hợp tác kinh tế khu vực Nam Á (South Asian Subregional Economic Cooperation – SASEC), hợp tác kinh tế khu vực Nam Á (South Asia Subregional Economic Cooperation – SAARC, Tiểu vùng Mekong mở rộng (Greater Mekong Subregion – GMS) hay sáng kiện vịnh Bengal dành cho hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa ngành (Multi-Sectoral Technical and Economic Cooperation – BIMSTEC). Ví dụ việc khai thác quan hệ giữa SASEC với GMS có thể đem lại hiệu quả thông qua cách thức chuyên gia của mỗi bên tham gia vào các cuộc họp của phía bên kia ở vai trò quan sát viên và sau đó tập trung vào các dự án kết nối khu vực cụ thể. Vấn đề cải thiện năng lực xây dựng cho kết nối cơ sở hạ tầng mặt đất ở các quốc gia như Myanmar, Bangladesh và Ấn Độ cũng rất quan trọng.

Ước tính lợi ích thu được từ việc hội nhập sâu hơn

Lợi ích tiềm năng từ việc hội nhập sâu hơn giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á nhờ vào sự kết nối là rất lớn. Nghiên cứu của ADB/ADBI sử dụng mô hình cân bằng tổng quát tin học hiện đại để tìm ra các tác động tiềm tàng về kinh tế của các kế hoạch hội nhập khác nhau của các nền kinh tế Nam Á và Đông Nam Á. Các kịch bản chính sách vẫn còn bảo thủ và có vẻ như phản ánh các ước tính cận dưới của kết quả thực sự được mong đợi. Kịch bản hội nhập tốt nhất bao gồm (i) dỡ bỏ hoàn toàn rào cản thuế trong thương mại giữa hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á, (ii) giảm 50% rào cản phi thuế giữa hai khu vực, (iii) giảm 15% chi phí thương mại trên cơ sở thúc đẩy thuận lợi hoá thương mại và tiến hành đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Kết quả của mô hình chỉ ra rằng kịch bản này sẽ làm tăng phúc lợi lên 375 tỷ đô la Mỹ (tương đương 8,9% GDP) ở Nam Á và 193 tỷ đô la Mỹ ở Đông Nam Á (tương đương 6,4% GDP). Hầu hết các nước tham gia sẽ thu được nhiều lợi ích, đặc biệt là các nước nhỏ ở khu vực Nam Á.

Chắc chắn quá trình hội nhập kinh tế liên khu vực sẽ đem lại những lợi ích tiềm năng, tuy nhiên nó cũng có thể tạo thêm nhiều chi phí cần được xem xét thận trọng và có các biện pháp để giảm nhẹ. Ví dụ, một số ngành sẽ phá sản do cạnh tranh gay gắt hơn, và do đó có thể dẫn đến bất bình đẳng khu vực. Cũng như vậy, quan hệ kinh tế gần gũi hơn trong nội bộ khu vực và tăng trưởng kinh tế nhanh hơn có thể gây ô nhiễm, suy giảm chất lượng môi trường và các vấn đề liên quan đến nhập cư. Hội nhập kinh tế khu vực cũng có thể dẫn đến sự lây lan của dịch bệnh và tội phạm. Thêm nữa, quá trình này có thể làm trầm trọng thêm mối lo ngại về nhập cư, căng thẳng tôn giáo và các vấn đề an ninh khác. Tuy nhiên, phân tích của chúng tôi cho thấy về tổng thể lợi ích thu được vẫn lớn hơn nhiều so với thiệt hại có thể có, do đó các cơ chế điều hoà nên được xây dựng để giải quyết các thiệt hại này. Cùng với những bước tiến trong quá trình hội nhập xuyên khu vực, các quốc gia và các định chế khu vực sẽ cần tiến hành các nghiên cứu về các hệ quả kinh tế của các thử thách này và tìm ra các biện pháp chính sách đối phó phù hợp.
_____

Dịch từ Asiapathways – adbi bởi: Phương Hạnh, sinh viên thạc sĩ về Kinh tế thương mại tại Đại học Queensland, Úc

Nghiên cứu của ADB/ADBI (2015) về kết nối hai khu vực Nam Á và Đông Nam Á có thể tải về ở đây.
Số liệu chỉ bao gồm các dự án liên quan trực tiếp đến hoạt động kết nối khu vực Nam Á và Đông Nam Á. Các dự án liên quan chủ yếu đến kết nối trong nội bộ khu vực hoặc với các khu vực khác không được đề cập ở đây.

– Xem thêm tại: http://www.asiapathways-adbi.org/2015/05/the-case-for-connecting-south-asia-and-southeast-asia/#sthash.ojvuKCqr.dpuf

Về các tác giả

  • Ganeshan Wignaraja là chuyên gia tư vấn thuộc Ban Hợp tác khu vực và Nghiên cứu kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Xem các bài viết của Ganeshan Wignaraja →

  • Peter Morgan là cố vấn nghiên cứu cao cấp của Viện nghiên cứu Ngân hàng Phát triển Châu Á.

Xem các bài viết của Peter Morgan →

  • Mike Plummer là giám đốc Trường nghiên cứu quốc tế cao cấp (School of Advanced International Studies – SAIS) Châu Âu và là giáo sư giảng dạy chương trình Kinh tế quốc tế ở trường Đại học Johns Hopkins.

Xem các bài viết của Michael G. Plummer →

[1] (Chú giải của người dịch) Act East Policy – tạm dịch Chính sách Hành động hướng Đông của chính phủ Ấn Độ. Đây là chính sách tiếp nối Chính sách Hướng Đông (Look East Policy) của Ấn Độ với định hướng tập trung nhiều hơn để thúc đẩy mối quan hệ giữa Ấn Độ với ASEAN và các quốc gia Đông Á khác (Theo: https://en.wikipedia.org/wiki/Act_East_policy)

One thought on “Khi kết nối Nam Á và Đông Nam Á

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s