Mặt trận thông tin Biển Đông – 2 bài

Bài 1: Phân tích từ sự kiện giàn khoan HD981

Thứ năm, 23 Tháng 7 2015 13:57

Khi các sự kiện trên thực địa tại Biển Đông giữa 2015 đang nóng lên với “chiến lược đảo hóa” và sự xuất hiện trở lại của giàn khoan HD981, thì một trận chiến khác đang manh nha bùng nổ. Đó là cuộc chiến thông tin và tuyên truyền của Trung Quốc, mà được biết dưới các tên “Tam chủng chiến pháp”.

Trong sự kiện giàn khoan HD981 năm 2014, chiến lược này thể hiện qua bốn kênh khác nhau bao gồm cả pháp lý, tâm lý, truyền thông và học giả. Khảo sát lại bài học năm 2014 và thảo luận cho 2015 là mục đích của bài viết này. Qua đó, chúng tôi lập luận rằng, mức độ thành công của “tứ chủng chiến pháp” của Trung Quốc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, những điểm mà các nước ASEAN và Việt Nam cần tận dụng để tạo ưu thế ngôn luận bằng một chiến lược “hiệp đồng binh chủng” trong mặt trận thông tin.

“Tam chủng chiến pháp”

“Tam chủng chiến pháp” (còn được gọi là “Ba mặt trận – Three Warfares”) của Trung Quốc được Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Ủy ban Quân sự Trung ương đưa ra từ năm 2003.Học thuyết này định hình một chiến thuật hữu hiệu giúp cường quốc này nắm thế chủ động trong những cuộc “chiến tranh thông tin”. Mục đích nhằm đẩy ngược sức ép dư luận về phía đối phương. Theo Bản báo cáo thường niên của Bộ Quốc Phòng Mỹ năm 2011, học thuyết này có nội hàm bao gồm: mặt trận tâm lý, mặt trận truyền thông và mặt trận pháp lý.

Mặt trận tâm lý (Psychological Warfare), bao gồm các hoạt động ngăn chặn, đe doạ, gây rối loạn nhằm làm tê liệt khả năng chống trả của đối phương. Đây được xem là mặt trận chủ chốt trong học thuyết, và cũng là mặt trận được sử dụng linh hoạt tất cả các công cụ về chính trị. Nó bao gồm các bài phát biểu ở nhiều cấp, trong quan hệ song phương và đa phương, các công cụ kinh tế (gián tiếp thông qua hoạt động của các công ty quốc doanh hoặc trực tiếp trừng phạt kinh tế, cứu trợ kinh tế) và trong một số trường hợp có cả các hoạt động quân sự nhằm mục tiêu răn đe (như các cuộc tập trận, phô trương công nghệ quân sự, điều động quân đội v.v). Dựa trên sự linh hoạt và đa dạng trong việc sử dụng nhiều công cụ chính sách, mặt trận này không chỉ tác động đến khả năng ra quyết định trên lĩnh vực chính trị, mà còn ảnh hưởng đến cả các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế hayquốc phòng.

Thứ hai là mặt trận truyền thông (Media Warfare). Mục tiêu của mặt trận này nhắm đến các hoạt động tuyên truyền gây ảnh hưởng lên sự nhận thức của công chúng trong nước và quốc tế. Mục tiêu là tạo nên các luồng dư luận ủng hộ quan điểm của chính phủ Trung Quốc, đồng thời gây nhiễu tất cả các quan điểm trái chiều. Mặt trận này được thực hiện triệt để về đối nội thông qua sự phối hợp các phương tiện truyền thông đại chúng và chính sách đóng mở thông tin của chính phủ Trungương.

Và cuối cùng, trên mặt trận pháp lý (Legal Warfare). Theo đó, Trung Quốc sử dụng phối hợp cả luật quốc gia và luật quốc tế để tạo nền tảng “hợp pháp” cho các hoạt động thực địa, đồng thời làm suy yếu cơ sở pháp lý trong các hoạt động nhằm đáp trả của đối phương.

Đến tháng 1 năm 2005, giới quân sự Trung Quốc lại cho xuất bản tài liệu về 100 trường hợp nghiên cứu cho mỗi loại hình trong ba mặt trận nói trên, nhằm định hướng ứng dụng thực tiễn cho học thuyết được đề ra ba năm trước. Sau hơn 10 năm hoàn thiện dần học thuyết “ba mặt trận” trong vấn đề cô lập đảo Đài Loan, Trung Quốc hiện nay đã chuyển hướng sang áp dụng tại Biển Đông, và đặc biệt đẩy mạnh tấn công trên cả ba mặt trận (truyền thông, tâm lý và pháp lý). Nói một cách ngắn gọn, cả ba mặt trận đều được hoạch định một kế hoạch tổng thể, hỗ trợ lẫn nhau và triển khai đồng loạt trong cùng một thời điểm để đạt hiệu quả tác động tối đa trên mặt trận thông tin.

Sự kiện giàn khoan HD 981: bốn mặt trận ra quân

Trong sự kiện hạ đặt trái phép giàn khoan nước sâu HD981 hồi tháng 5/2014, Trung Quốc ứng dụng học thuyết “Tam chủng chiến pháp” với nhiều điểm phát triển mới.

Về mặt phát ngôn cấp Nhà nước, người phát ngôn của Trung Quốc, bà Hoa Xuân Oánh liên tục bác bỏ những thông tin chi tiết do chính phủ Việt Nam cung cấp với truyền thông quốc tế. Phát biểu nàykết hợp với những bài phát biểu của người đứng đầu Vụ Biên giới và các vấn đề đại dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Âu Dương Ngọc Tĩnh để nhấn mạnh rằng chính phủ Việt Nam đã gây hấn trước và đâm va tàu chấp pháp của Trung Quốc gần 560 lần. Ngay sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Trình Quốc Bình (8/5) và Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Phòng Phong Huy (13/5) khẳng định Trung Quốc không chịu nhượng bộ về vấn đề giàn khoan HD981.

Bên lề Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (20/5), đến lượt Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn tuyên bố về Biển Đông. Ở cấp độ nguyên thủ, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (21/5) đã lên tiếng về chủ trương “hoà bình” của Trung Quốc trên Biển Đông tại Hội nghị Thượng đỉnh về phối hợp hành động và củng cố lòng tin ở châu Á (CICA) ở Thượng Hải. Những bước đi này đã nhất quán góp phần tăng cường tác động trên mặt trận tâm lý, khiến các chủ thể liên quan dễ rơi vào trạng thái cho rằng khó có thể ngăn chặn quyết tâm của Trung Quốc.

Song song với các hoạt động trên, Trung Quốc còn tích cực gây nhiễu loạn thông tin bằng cách phát động một mặt trận truyền thông quy mô với sự tham gia từ các phương tiện thông tin đại chúng trong nước cho đến các biện pháp tuyên truyền từ những đại diện ngoại giao của Trung Quốc ở nước ngoài. Cách tuyên truyền này có nhiều kênh, thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Từnhững trang thông tin đối nội được đánh giá là có quan điểm công kích như Thời báo Hoàn Cầu hoặc có quan điểm chính thống của chính phủ Trung Quốc như Tân Hoa xã, Kinh Hoa thời báo, Nhân dân Nhật báo.

Các đại diện của Trung Quốc tại các lãnh sự quán, đại sứ quán ở nước ngoài cũng lên tiếng mạnh mẽ. Cụ thể, ngày 20/5, Đại biện lâm thời Sứ quán Trung Quốc ở Indonesia Lưu Hồng Dương đã đăng bài trên tờ Jakarta Post với nội dung nhằm giải thích các quan điểm “rất kiềm chế” của chính phủ Trung Quốc, đồng thời công khai chỉ trích các hành động “gây hấn nguy hiểm” của chính phủ Việt Nam. Đến ngày 29/5, Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải đã sử dụng phỏng vấn trên kênh truyền thông quốc tế CNN để khẳng định lần nữa lập trường của Trung Quốc, đồng thời dùng quan hệ ngoại giao nước lớn – nước lớn để “nhắc nhở” thái độ “không phù hợp” của cả Mỹ và Nhật Bản – hai cường quốc đang chống lại Trung Quốc nhiều nhất trong vấn đề giàn khoan HD981.

Các bài viết của đại sứ Trung Quốc tại Úc Mã Triều Húc (đăng trên tờ The Australian của Úc ngày 13/6, đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản Trình Vĩnh Hoa (đăng trên tờ Yomiuri Shimbun của Nhật ngày 17/6), đại sứ Trung Quốc tại Thái Lan Ninh Phú Khôi (đăng trên tờ Matichon của Thái Lan này 23/6)có nhiều nội dung khác nhau, nhưng chủ yếu nhắm vào các kênh truyền thông quốc tế ở những quốc gia có ảnh hưởng trong khu vực và thế giới. Kết hợp với bộ máy truyền thông đại chúng trong nước, mục đích của các hành động này bảo vệ các quan điểm của Bắc Kinh.

Một điểm khác cần nhấn mạnh, đó là sự xuất hiện của mặt trận học giả – mặt trận không công bốchính thức. Học giả đi cùng với các nhà ngọai giao tạo thành mặt trận thông tin nhiều chiều. Chẳng hạn khi bài viết của Đại sứ Trung Quốc tại Úc vừa đăng, thì có ngay bài viết hỗ trợ của Giám đốc Trung tâm an ninh hàng hải thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế Trung Quốc Triệu Thanh Hải. Cùng ngày 20/5, TS. Ngô Sĩ Tồn, giám đốc Viện Nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc, đã cho đăng bài trả lời phỏng vấn trên hãng tin quốc tế Deutsche Welle của Đức với nội dung tương tự, nhấn mạnh vào công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một cách nhắc lại tính “pháp lý” theo cách hiểu cố hữu của Trung Quốc (dù cộng đồng học giả và chính phủ Việt Nam đã nêu quan điểm chính thức với thế giới về những yếu tố không mang tính ràng buộc về pháp lý trong vấn đề này).

Chỉ trong tháng 5/2014, Trung Quốc đã triển khai đồng loạt cả ba mặt trận truyền thông, pháp lý và tâm lý. Một cuộc chiến tranh truyền thông tổng lực được phát động với dư luận quốc tế là đích đến.Qua đó, Trung Quốc tìm cách khống chế toàn diện các kênh ngoại giao chính thức cấp Nhà nước (kênh 1), đồng thời vô hiệu hoá kênh ngoại giao học giả (kênh 2).

Phản ứng của Việt Nam

Ứng biến trên cả ba mặt trận, Việt Nam đã trả lời lại Trung Quốc theo các con đường khác nhau. Ngày 11/5/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 24 ở Myanmar về tình hình đang căng thẳng trên Biển Đông. Tiếp sau đó, ngày 21/5, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Nguyễn Thị Doan đã có bài phát biểu tại diễn đàn CICA ở Thượng Hải. Để hỗ trợ các phát ngôn chính thức cấp Nhà nước, các phái đoàn ngoại giao của Việt Nam đã đồng loạt sử dụng các kênh ngoại giao đa phương để truyền tải lập trường.

Ngày 7/5, Việt Nam đã cho lưu hành công hàm phản đối việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 tại Liên Hợp Quốc. Ngày 20/5, phái đoàn thường trực của Việt Nam tại Geneva, Thuỵ Sĩ đã gửi thông cáo chính thức trình bày đầy đủ các sự kiện xoay quanh giàn khoan HD981. Thông cáo đó gửi trực tiếp đến Văn phòng của Liên Hợp Quốc, các cơ quan truyền thông quốc tế cũng như trụ sở các tổ chức quốc tế đặt tại Geneva. Sau đó, tại Hội nghị Liên hợp quốc lần thứ 15 về Đại dương và Luật biển (từ ngày 27 – 30/5), Trưởng đoàn Việt Nam phát biểu đề cập đến các hành động gây căng thẳng của Trung Quốc và những thiệt hại do quốc gia này gây ra cho các hoạt động ngư nghiệp hợp pháp của ngư dân Việt Nam tại các ngư trường đánh bắt truyền thống. Ngày 28/5, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 17 của phong trào Không Liên kết (NAM) tại Algeria, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hà Kim Ngọc có bài phát biểu để cập nhật tình hình giàn khoan HD981 vi phạm chủ quyền của Việt Nam, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên phong trào Không liên kết thể hiện tình đoàn kết và đóng góp cho hoà bình và ổn định ở Đông Nam Á.

Việt Nam còn liên tiếp tổ chức các buổi họp báo quốc tế (7, 17, 23/5; 5,17/6) đồng thời kết hợp với nhiều hãng thông tấn quốc tế trong việc đưa tin về tình hình quanh khu vực giàn khoan. Bên lề Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF) tổ chức tại thủ đô Manila (Philippines), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có bài trả lời phỏng vấn các hãng tin AP (Mỹ) và Reuter (Anh) về vấn đề Biển Đông với thông điệp mang tính cảnh báo đối với Trung Quốc rằng Việt Nam không đánh đổi chủ quyền thiêng liêng để đổi lấy “hoà bình hữu nghị viển vông”. Tiếp sau đó, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh nhắc lại bản chất sự việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981 với đông đảo đại diện của các cơ quan truyền thông thế giới như CNN (Mỹ), Reuters (Anh), Strait Times (Singapore), NHK (Nhật Bản).

Phương thức kết hợp giữa truyền thông và pháp lý qua sự xuất hiện của các đại sứ của Việt Nam trên truyền thông quốc tế là một bước đi mới. Ngày 27/5, đại sứ Việt Nam tại Indonesia Nguyễn Xuân Thuỷ đã có bài viết trên tờ The Jakarta Post để phân tích những lập luận sai trái về Biển Đông của Đại diện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Indonesia Lưu Hồng Dương nêu ra trong bài viết đăng ngay trước đó (20/5). Ngày 29/5, đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường đã có buổi trả lời phỏng vấn của kênh truyền hình CNN nhằm hồi đáp những luận điểm công kích của đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải (21/5). Trong tháng 6/2014, lần lượt các đại sứ Việt Nam ở Nhật Bản, Thái Lan và Úc cũng đã nhanh chóng có bài viết đáp trả các luận điểm vô căn cứ tương ứng của các đại sứ Trung Quốc. Các đại sứ quán Việt Nam ở châu Âu, Nam Phi và nhiều quốc gia khác cũng phát huy kênh ngoại giao nhân dân. Nhiều hình thức khác nhau được thực hiện như Hội thảo quốc tế, tuần hành, biểu tình v.v

Trung Quốc Việt Nam
Mặt trận tâm lý Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD981 (1/5) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam gửi thư phản đối (4/5)
Phát ngôn từ lãnh đạo cấp cao (8, 13, 20, 21/5) Phát ngôn từ lãnh đạo cấp cao (11, 21, 27, 28/5)
Mặt trận pháp lý Sử dụng luật của Trung Quốc
(Luật cấm đánh bắt hải sản từ 16/5 – 1/8; Thông báo từ Cục Hải sự Trung Quốc về vùng cấm hoạt động xung quanh giàn khoan HD981)
Sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về Ứng xử các bên trên Biển Đông (DoC)
Tuyên cáo lập trưởng gửi Liên Hợp Quốc (9/6) Công hàm phản đối lưu hành trên Liên Hợp Quốc (7, 28/5)
Sử dụng lực lượng Hải giám, Hải cảnh Sử dụng lực lượng Kiểm ngư, Cảnh sát biển
Mặt trận truyền thông Sử dụng các đơn vị truyền thông trong nước để gây nhiễu thông tin Tổ chức các cuộc họp báo quốc tế (7, 17, 23/5)
Khuyếch trương các lập luận của cộng đồng học giả trong nước Kết nối quan điểm giữa cộng đồng học giả trong nước và cộng đồng học giả quốc tế
Bài viết của các đại sứ Trung Quốc ở nước ngoài Bài viết phản biện của các đại sứ Việt Nam
Truyền tải các hoạt động tuần hành hoà bình của người Việt Nam ở nước ngoài

Bảng 1: “Tam chủng chiến pháp” của Trung Quốc trong sự kiện HD981 và phản ứng của Việt Nam

Một chiến thuật “hiệp đồng”

Việt Nam đã cố gắng tận dụng tối đa tất cả các kênh ngoại giao để khai thác triệt để điểm yếu về pháp lý trong các tuyên bố của Trung Quốc.  Lý lẻ là lợi thế quan trọng giúp Việt Nam đạt được sự ủng hộ trên ngoại giao kênh 2 (kênh học giả) và các hoạt động đối ngoại nhân dân. Những kết quả ban đầu cho thấy tiếp cận “phản ứng linh hoạt” của Việt Nam đã có một lan tỏa nhất định. Sự lan tỏa này không chỉ được đẩy mạnh trên ba mặt trận (ngoại giao, truyền thông và pháp lý), mà còn có cốt lõi là mặt trận học thuật.

Sức mạnh trên thực tiễn có được từ học thuyết “ba mặt trận” của Trung Quốc chứng tỏ được tầm quan trọng trong phương thức phối hợp giữa các cơ quan đối nội và đối ngoại, và giữa các cơ quan này với cộng đồng học giả của họ. Vì thế, đây cũng là thời điểm cần thiết để Việt Nam phát huy những kinh nghiệm rút tỉa được trong sự kiện giàn khoan HD-981; một khởi điểm để chuyển từ một cách ứng phó cụ thể sang một chiến lược phối hợp đồng bộ và dài hạn. Một hình dung đơn giản nhất là sự liên kết giữa “các nhà”, bao gồm nhà ngoại giao, nhà báo, học giả và Nhà nước (theo ý nghĩa các cơ quan thẩm quyền với các sự kiện diễn ra trên thực địa). Qua đó, Việt Nam có thể đúc kết và triển khai một “hợp đồng đa binh chủng” giữa các cơ quan truyền thông – ngoại giao – pháp lý và học thuật.

Quan trọng hơn cả với các nhà hoạch định chính sách, một bài học từ sự kiện HD981 năm 2014 sẽ luôn là kinh điển: khi các sự kiện thực địa càng nóng lên, thì “tam chủng” hay “tứ chủng chiến pháp” từ phía Trung Quốc sẽ mở hết công suất. Mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc chính là thắng lợi trên mặt trận thông tin, nhằm che phủ được những hành động phi pháp trên thực địa. Đây cũng là những gì chúng ta đã chứng kiến từ đầu năm 2015 đến nay, và sẽ còn tiếp tục chứng kiến trong 6 tháng cuối năm. Tạo sự liên kết các tác nhân, cùng thiết lập một chiến lược phù hợp đang là bài toán cần xác định câu trả lời cả trong góc nhìn ngắn hạn, lẫn lâu dài.

*****

Mặt trận thông tin Biển Đông – Bài 2: Đi tìm một cách “đánh” phù hợp

Thứ hai, 27 Tháng 7 2015 22:12

“Tam chủng chiến pháp” dựa vào truyền thông và giới học giả giúp khuếch tán và bảo vệ luận điểm của Trung Quốc trên diễn đàn quốc tế. Mục tiêu là đánh vào tâm lý, gây nhiễu loạn thông tin và tung hỏa mù ở nhiều mặt trận khác nhau. Học giả và các trung tâm nghiên cứu trong lẫn ngoài nước đang trở thành một “công cụ mềm” được sử dụng một cách thường xuyên.

Nhận định về bốn luận điểm nổi bật của Trung Quốc trong năm 2015, chúng tôi cho rằng phải sử dụng dữ liệu và sự thực thay vì chạy đua về mặt lập luận và quan điểm khi phản biện. Để làm được điều đó, một hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan đến các vấn đề tranh chấp Biển Đông cần được thiết lập. Hệ thống này phải mang đặc tính mở, đa ngành và xuyên quốc gia.

Các luận điểm của Trung Quốc

Thứ nhất, Trung Quốc cho rằng nhiều quốc gia trên Biển Đông đã tiến hành xây dựng đảo từ trước đó mà không gặp sự phản đối nào của cộng đồng thế giới. Ngày 29/4, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã đưa ra một thống kê về các hoạt động của các quốc gia khác mà Trung Quốc cho là “cải tạo đảo” tại các địa điểm trên Trường Sa, trong đó có Việt Nam và Philippines. Do đó, việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo về mặt pháp lý không có gì là sai phạm, và nếu muốn Trung Quốc ngừng việc xây đảo thì phải ràng buộc tương tự với tất cả các bên liên quan.

Thứ hai, Trung Quốc luôn khẳng định rằng không có bất kỳ điều khoản nào trong Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) ngăn cấm việc xây đảo nhân tạo. Theo tác giả Thẩm Đình Lập ở Đại học Phúc Đán (Trung Quốc), việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo cũng hệt như Nhật Bản, Hồng Kông xây thêm sân bay quốc tế và dự án Quần đảo thế giới (World Islands) của Dubai. Vì vậy, Trung Quốc có toàn quyền xây dựng các đảo nhân tạo và không có bất kỳ bên nào được phép cản trở. Thẩm Đình Lập trong bài viết đăng trên tờ The Huffington ngày 3/6 từ đó lên án việc Mỹ đưa máy bay do thám P-8A bay trong vòng 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo thuộc chủ quyền Trung Quốc. Điểm quan trọng trong luận điểm này là Trung Quốc đang xây dựng trên phần đất của riêng mình, nên các nước khác không có quyền và lý do gì để can thiệp

Thứ ba, trên tất cả các phương tiện truyền thông, Trung Quốc đều khẳng định mình chỉ là nạn nhân; còn các nước khác mới là kẻ hiếu chiến. Điều này được Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị nhắc lại vào ngày 27/6 tại Diễn đàn Hoà bình thế giới tại Bắc Kinh. Ông cho rằng “Trung Quốc mới thực sự là nạn nhân lớn nhất” đối với các vấn đề xâm lấn chủ quyền ở Biển Đông. Ông còn khẳng định “sẽ có lỗi với tổ tiên” và “không thể nhìn mặt con cháu” nếu để chủ quyền của Trung Quốc bị xâm lấn. Lập luận này nhất quán với quan điểm mà Đô đốc Tôn Kiến Quốc, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) phát biểu tại Đối thoại Shangri-La vừa qua. Trong Đối thoại này, Đô đốc Tôn Kiến Quốc nhiều lần nhấn mạnh sự kiềm chế của Trung Quốc và liên tục các bên liên quan “thay đối đầu bằng hợp tác”. Trên các diễn đàn thảo luận chính, một số bài viết như bài của Greg Austin trên tờ The Diplomat (đăng ngày 18/6) còn cho rằng Việt Nam mới là kẻ hung hăng nhất trên Biển Đông với số thực thể chiếm đóng và cải tạo nhiều nhất.

Thứ tư, Trung Quốc luôn chống lại sự can thiệp của bên thứ ba vào vấn đề Biển Đông. Đối với Trung Quốc, sự tham gia của bên thứ ba sẽ làm phức tạp tình hình, thậm chí dễ dẫn đến leo thang xung đột. Mỹ là “bên thứ ba” mà Trung Quốc cảnh cáo nhiều nhất. Theo tác giả Sam Bateman với bài viết về các chiến dịch tự do hàng hải của Mỹ thực hiện trên Biển Đông đăng trên Diễn đàn East Asia (ngày 1/6), thì sự hiện diện của Mỹ chỉ làm cho tình hình khu vực trở nên căng thẳng hơn thay vì giải quyết được vấn đề như Mỹ tuyên bố. Ngoài ra, Trung Quốc cũng sử dụng các kênh truyền thông như Tân Hoa xã (Xinhua) để thể hiện quan điểm phản đối của họ với Tuyên bố chung của các nước G7 vừa qua về Biển Đông (8/6), trong đó nhấn mạnh sự không đồng tình với Nhật Bản – quốc gia đã thúc đẩy các nước G7 thông qua văn kiện này. Thời báo Hoàn cầu (Global Times) cũng là phương tiện truyền thông gần đây đã đăng tải các bài viết phản đối chuyến tuần tra của máy bay P-8A Mỹ cũng như việc Tổng thống Úc quyết định sẽ đưa máy bay cùng lực lượng đồng minh của Mỹ tuần tra tại Biển Đông.

Thế trận thông tin của Trung Quốc

Từ quá trình quan sát mặt trận tuyên truyền quốc tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong suốt thời gian qua, có thể thấy Trung Quốc đang chủ động thiết lập một thế trận thông tin rộng khắp. Ba hướng phát triển căn bản rút ra được từ chiến lược kiểm soát tri thức Biển Đông của Trung Quốc:

Thứ nhất, ngày càng có thêm nhiều trung tâm nghiên cứu chuyên về Biển Đông của Trung Quốc được xây dựng và nâng cấp với mục đích tập trung những học giả hàng đầu về vấn đề này. Đội ngũ chuyên gia và nghiên cứu viên chủ yếu là các học giả Trung Quốc đi du học ở nước ngoài. Các học giả này vừa có vốn tiếng nước ngoài, vừa học được phương pháp từ các “lò” tại các nước phát triển đi trước. Quan trọng hơn biết cách truyền bá lập luận của Trung Quốc, dĩ nhiên là bằng tiếng Anh.

Thứ hai, trong thời gian vừa qua, nhiều ý kiến tỏ ra bênh vực lập trường của Trung Quốc tại Biển Đông xuất hiện. Điểm đáng chú ý là có nhiều học giả nước ngoài đứng tên tác giả. Những tác giả này lúc trước có quan điểm trung dung về Biển Đông hoặc không viết nhiều về đề tài này nay có một sự chuyển dịch theo hướng “thân Trung Quốc”, được chia làm nhiều dạng khác nhau[1]. Từ đó, có nhiều đồn đoán và nghi ngờ rằng các học giả này đã bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc bằng nhiều hình thức, nặng nhất là mua chuộc bằng tiền theo kênh cá nhân. Hay một hình thức khác thông qua kênh thể chế bằng cách hỗ trợ các công trình nghiên cứu; nghiên cứu viên khách mời hay tạo điều kiện tiếp cận các thông tin, chứng cứ, dữ liệu, quan điểm từ phía Trung Quốc.

Thứ ba, đang có nhiều dấu hiệu cho thấy kế hoạch này được thực hiện một cách có hệ thống từ trong ra ngoài. Ý định kiểm soát tri thức về Biển Đông trên bình diện quốc tế được thể hiện qua việc thiết lập các mối quan hệ cộng tác nghiên cứu với các viện, trung tâm hay đại học của Mỹ và EU. Thậm chí thiết lập các cơ sở nghiên cứu (think-tank) tại các nước này. Gần đây nhất một thí dụ hay nhắc đến là Viện Nghiên cứu Quan hệ Mỹ Trung (The Institute for China-America Studies) được thành lập ở Virgina (Mỹ).  Tự nhận mình một trung tâm nghiên cứu độc lập, một số bằng chứng tuy vậy chỉ ra sự kết nối của Viện này với chính phủ Trung Quốc. Cho đến nay hoạt động của Viện này tập trung nhiều vào vấn đề tranh chấp Biển Đông. Giám đốc trung tâm Nông Hồng cũng là một tên tuổi của Trung Quốc đã xuất hiện tại nhiều diễn đàn quốc tế về đề tài này.

Cần rõ ràng rằng, thế trận thông tin của Trung Quốc sở hữu những điểm mạnh cũng như điểm yếu riêng của nó. Với nguồn lực lớn về tài chính cũng như nhân lực, mạng lưới thông tin và quan điểm của Trung Quốc chiếm ưu thế về số lượng và mức độ bao phủ. Số lượng bài viết học thuật và thảo luận chính sách được đăng trên các diễn đàn quốc tế của Trung Quốc nhiều hơn các nước tranh chấp khác, chưa kể tới số lần trích dẫn. Không rõ với lượng đầu tư bao nhiêu tiền và thời gian để có thể thu hút (hay “khuyến dụ”) được các học giả nổi tiếng và thành lập liên tục các cơ sở nghiên cứu uy tín quốc tế. Sự áp đảo về số lượng khiến cho các quan điểm từ phía học giả Trung Quốc được tiếp cận nhiều hơn với tần suất thường xuyên hơn. Khi mặt trận thông tin về Biển Đông luôn nóng mỗi ngày với hàng loạt các bài viết, bình luận, và phản biện lẫn nhau, thì học giả ASEAN và Việt Nam thường xuyến đứng trong “mê hồn trận”.

Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của phía Trung Quốc là sự thuyết phục của lý lẽ. Lấy ví dụ về vấn đề chủ quyền. Trong khi các chứng cứ chủ quyền của Việt Nam được các tài liệu và bản đồ trong và ngoài nước xác nhận và chứng minh một cách rõ ràng về tiến trình và lịch sử xác nhận chủ quyền thì những tài liệu từ phía Trung Quốc không thể hiện những đặc trưng như vậy. Các quan điểm của chủ đạo cuả Trung Quốc không tạo được sự đồng thuận từ cộng đồng thế giới, đặc biệt trong giới học giả. Cuộc tranh luận về diễn giải “đường lưỡi bò” từ năm 2009 hay gần đây nhất là sự “mập mờ” trong kế hoạch xây các đảo nhân tạo tại khu vực Trường Sa là những thí dụ điển hình.

Xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu Biển Đông

Để ứng phó với “thế trận thông tin” của Trung Quốc cần một cách “đánh” phù hợp. Vì thế, xác định đúng cách tiếp cận là bước đầu tiên để hình dung ra những mục tiêu ngắn và dài hạn trong tương lai. Có 3 điểm chính mà chúng tôi muốn nhấn mạnh: (i) Cuộc đấu tranh trên mặt trận thông tin-học giả tại Biển Đông đã chuyển dịch: từ tranh cãi quan điểm sang tranh cãi số liệu và dữ kiện; (ii) Đối với các lập luận và quan điểm sai lệch của Trung Quốc, các học giả Việt Nam cần các dữ liệu thực tế để phản biện; (iii) Thông qua hệ thống dữ liệu từ thực tế, các biện pháp “phản công” sẽ được định hình một phương thức tham gia cụ thể, mở đường cho tất cả học giả khu vực và quốc tế cùng tham gia[2].

Từ cách tiếp cận “dữ liệu thay vì lập luận” trên, chúng tôi cho rằng các học giả ASEAN và Việt Nam chuyên về Biển Đông hiện tại cần bắt tay vào củng cố và làm dày thêm hệ thống cơ sở dữ liệu về bằng chứng và sự thật có liên quan tới Biển Đông. Đó không chỉ là các dữ liệu về lịch sử, công pháp quốc tế, mà còn là các dữ liệu về khảo cổ học, kinh tế biển, môi trường, dân cư các đảo, chuyển dịch khí hậu liên quan đến đại dương v.v…

Diễn đạt cách khác: Thiết lập một hệ thống cơ sở dữ liệu về Biển Đông là mục tiêu quan trọng, và ưu tiên. Một hệ thống cơ sở dữ liệu như vậy sẽ giúp cho các học giả tiếp cận nhanh chóng các bằng chứng, dữ liệu, sự thật, hay các tài liệu có liên quan. Điều này tạo ra những lập luận vững chắc và thuyết phục. Hệ thống cơ sở dữ liệu Biển Đông gồm sẽ bao gồm nhiều hồ sơ khác nhau theo đuổi ba nguyên tắc cốt lõi:

Thứ nhất, hệ thống cơ sở dữ liệu về Biển Đông cần mang tính liên ngành. Để có những lập luận thuyết phục và sắc bén, các học giả phải sử dụng nhiều bằng chứng từ các ngành khác, như khảo cổ học, lịch sử, địa lý, môi trường, luật quốc tế, đóng tàu, công nghệ quốc phòng v.v… Điều này đồng thời cũng thúc đẩy nghiên cứu và hợp tác nghiên cứu giữa các ngành khoa học khác nhau liên quan tới Biển Đông.

Thứ hai, hệ thống cơ sở dữ liệu mang tính xuyên quốc gia, liên khu vực (transnational), theo nghĩa không giới hạn trong một khuôn khổ của một quốc gia hay một nhóm quốc gia nào đó. Kết hợp với các học giả có uy tín ở nước ngoài sẽ hệ thống cơ sở dữ liệu về Biển Đông thêm phong phú và đa chiều. Các học giả nước ngoài sẽ góp thêm tiếng nói ủng hộ Việt Nam trong quá trình tranh luận với học giả Trung Quốc. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội hợp tác, nâng cao năng lực nghiên cứu giữa Việt Nam và các trung tâm học thuật lớn thế giới.

Thứ ba, hệ thống cơ sở dữ liệu phải mang tính mở và luôn luôn được cập nhật thông qua quá trình cọ xát. Tính mở giúp cộng đồng tiếp cận một cách nhanh nhất các nghiên cứu cũng như những bài báo phản biện của các học giả cả trong lẫn ngoài nước. Tính mở cũng giúp cho các học giả trẻ, cũng như các nhà nghiên cứu bên trong, lẫn ngoài tiếp cận được một nguồn tri thức phong phú, đa ngành và mang nhiều giá trị về mặt học thuật. Điều này giúp nuôi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu khoa học cũng như mở rộng hơn nữa số lượng học giả trong mạng lưới. Tính mở này của hệ thống cơ sở dữ liệu được chúng tôi cho là quan trọng, giúp duy trì giá trị cốt lõi nhất: tạo ra một hệ thống kiến thức tương tác về Biển Đông từ các thành phần khác nhau.

Việc xác định cách tiếp cận đúng đắn, hợp lý và khả thi là bước đầu tiên để có thể tập hợp lực lượng. Một ý tưởng tốt nói rộng sẽ là một đầu mối cho các ý tưởng khác đồng dạng quy tụ về. Khiêm tốn hơn một chút thì đó là một “que diêm” dẫn đường.. Sự tham gia tích cực của giới học giả sẽ là vũ khí quan trọng để chống lại các hành vi gây hấn của Trung Quốc trên mặt trận truyền thông và học thuật. Sự hiệu quả của các biện pháp này, nếu hiện hữu, sẽ thúc đẩy sự hỗ trợ lớn hơn của các cơ quan công quyền (như các hỗ trợ về cơ chế, tư liệu, tài chính và kỹ thuật). Đối với các thành phần tư nhân-doanh nghiệp, hệ thống dữ liệu sẽ mang lại những giá trị rất lớn về mặt chiến lược, hay công nghệ. Tham gia vào quá trình định hướng các ưu tiên chiến lược về mặt công nghệ (đóng tàu, thông tin, môi trường v.v) sẽ mở ra những cơ hội kinh doanh và khả năng hợp tác với nhiều đối tác trên thế giới.

Trên phương diện mặt ngắn hạn và dài hạn, để có thể phát huy tiềm năng đầy đủ của các biện pháp trên, một môi trường học thuật lành mạnh và chủ động với vai trò của các cơ sở nghiên cứu và nhà nghiên cứu phải là trung tâm. Một cơ sở dữ liệu tổng thể về Biển Đông không phải là điều khó thực hiện. Quan trọng là có sự tham gia của tất cả các bên có liên quan. Đặc biệt quan trọng nhất, cần tập trung nguồn lực của một đầu mối. Đầu mối này có thể là một cá nhân có uy tín, hoặc có thể là một trung tâm nghiên cứu có đủ năng lực. Cào bằng trong nghiên cứu là một vấn nạn của khoa học Việt Nam những năm vừa qua. Hiện tượng này không được phép được lập lại, đặc biệt với một lĩnh vực đang có vai trò quyết định tương lai sống còn của đất nước.

TS Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Đại học KHXH&NV TP.HCM (SCIS), đồng thời là ủy viên Hội đồng giám sát hoà bình Thái Bình Dương thuộc Diễn đàn Toàn cầu Boston (www.bostonglobalforum.org).

Nguyễn Thế Phương, Nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS), Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP.HCM.

[1] Trực tiếp nhất là nguỵ tạo chứng cứ hay sử dụng những bằng chứng của Trung Quốc mà không có tư duy phản biệnhay kiểm tra một cách rõ ràng. Hai là diễn giải lại các sự kiện, bằng chứng với một góc nhìn, lập luận theo kiểu của Trung Quốc, tìm cách soi sang những lập luận đó dưới lăng kính của các lý thuyết hiện đại của phương Tây hay luật quốc tế, luật biển quốc tế. Xu hướng “lý thuyết hoá mang màu sắc Trung Hoa” có đóng góp một phần vào bức tranh chung của các lý thuyết khác nhau nhưng mặt khác vô hình chung trở thành công cụ để truyền tải các lập luận về chủ quyền. Đối với các học giả mang tính trung dung hơn thì đại cục và lợi ích từ việc một Trung Quốc trỗi dậy ổn định còn là một mồi nhử. Điều này giúp giải thích tại sao Trung Quốc luôn nhấn mạnh sự can thiệp của bên thứ ba vào tranh chấp Biển Đông sẽ biến nơi nay thành “chảo dầu” Châu Á hoặc là âm ỷ tiềm tàng cho khả năng xảy ra Thế Chiến thứ ba.

[2] Điển hình như hành động xây dựng đảo của Trung Quốc vừa qua. Một nhóm học giả Mỹ và Việt Nam đã tiến hành làm hồ sơ đảo nhân tạo, bằng cách thu thập các số liệu và thông tin thực tế về các tác động môi trường, quy mô và kỹ thuật xây dựng đảo, thông số kỹ thuật của vũ khí v.v… Những dữ liệu thực tế đó mở đường cho các tranh luận từ bản chất, tên gọi, hành vi, cũng như các tác động của đảo nhân tạo với tình hình an ninh khu vực. Có thể thấy một số kết quả ban đầu khi qua cuộc tranh luận đáng chú ý gần đây giữa hai bên liên quan đến vấn đề đảo nhân tạo. Sự phản công gần như ngay lập tức của các học giả Việt Nam giúp bảo vệ các quan điểm của Việt Nam và bác bỏ ngay quan điểm sai trái của học giả nước ngoài dựa một phần lớn vào các hệ thống dữ liệu trên. Xem thêm báo cáo về tình hình tranh chấp Biển Đông hiện nay do Boston Global Forum xuất bản và hồ sơ về đảo nhân tạo do dự án Đại Sự Ký Biển Đông xuất bản.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s