Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngân hàng: Cơ hội và thách thức – 4 kỳ

***

Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngân hàng: Cơ hội và thách thức

12:30, 19/04/2021

(Chinhphu.vn) – Từ sự thúc ép phải tồn tại và phát triển trong đại dịch COVID-19 và những chuyển biến mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn then chốt với những cơ hội lớn và thách thức chưa có tiền lệ.

Theo các chuyên gia, chuyển đổi số ngân hàng liên quan tới một loạt các vấn đề công nghệ và đi cùng đó là các vấn đề pháp lý mới mẻ trong nhiều lĩnh vực

Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” của Chính phủ đã nêu rõ, tài chính – ngân hàng là một trong những lĩnh vực có tác động xã hội, liên quan hằng ngày tới người dân, thay đổi nhận thức nhanh nhất, mang lại hiệu quả, giúp tiết kiệm chi phí, cần ưu tiên chuyển đổi số trước.

Chương trình này cũng nhấn mạnh, thể chế cần phải đi trước một bước khi có thể. Chính phủ kiến tạo thể chế, chính sách nhằm sẵn sàng chấp nhận và thử nghiệm cái mới một cách có kiểm soát; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới; làm điểm, làm nhanh, sau đó đánh giá và nhân rộng; thúc đẩy phát triển công nghiệp sáng tạo.

Kỳ 1: Ngân hàng số bùng nổ trong trong đại dịch – ai hưởng lợi?

Cuối tháng 2 vừa qua, giữa lúc các cơ sở tôn giáo, di tích chưa được mở cửa trở lại do các yêu cầu nghiêm ngặt chống COVID-19, thông tin về việc một số cơ sở tôn giáo mở cổng đăng ký “cầu an trực tuyến” và “công đức online” thông qua ứng dụng ví điện tử đã thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận.

Tuy nhiên, điều này chỉ gây ngạc nhiên do theo truyền thống, lĩnh vực tâm linh vốn được coi là khá xa lạ với các thành tựu công nghệ. Thực tế thì việc chuyển đổi số đã diễn ra âm thầm nhưng khá mạnh mẽ ở Việt Nam những năm qua, tác động sâu sắc tới nhiều lĩnh vực và COVID-19 là tác nhân đẩy nhanh quá trình này.

Công ty kiểm toán toàn cầu PwC ghi nhận Việt Nam là thị trường tăng trưởng nhanh nhất về thanh toán di động trong năm 2018 với tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng thiết bị di động để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tăng từ 37% lên 61%. Theo Ngân hàng Nhà nước, tới cuối năm 2020, số lượng và giá trị giao dịch thanh toán qua di động tăng tới hơn 1.111,2% và 4.049,1% so với cùng kỳ năm 2016.

Riêng năm 2020, số lượng giao dịch thanh toán qua Internet đạt gần 374 triệu giao dịch với giá trị đạt hơn 22,4 triệu tỷ đồng (tăng 8,3% về số lượng và 25,5% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2019); số lượng giao dịch thanh toán qua điện thoại di động đạt gần 918,8 triệu giao dịch với giá trị đạt gần 9,6 triệu tỷ đồng (tăng 123,9% về số lượng và 125,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019).

Ở chiều ngược lại, việc sử dụng thẻ ngân hàng để rút tiền mặt có xu hướng giảm trong thời gian bùng nổ đại dịch.

Tương ứng với tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của thanh toán điện tử, tốc độ phát triển của kinh tế số tại Việt Nam trong thời gian qua luôn ở mức rất cao. Năm 2020, thương mại điện tử tăng tới 46% so với năm trước. Theo ước tính của Google và Temasek trong Báo cáo Kinh tế số Đông Nam Á E-conomy năm 2020 thì nền kinh tế internet của Việt Nam năm 2020 đạt khoảng 14 tỷ USD và dự báo đến năm 2025 sẽ đạt mức 54 tỷ USD. Đầu tư vào lĩnh vực internet ở Việt Nam năm 2020 cũng bùng nổ, đến 151 giao dịch với giá trị là 935 triệu USD. 

Riêng trong lĩnh vực ngân  hàng, nhiều đơn vị đã xem việc phát triển ngân hàng số là một mục tiêu trong chiến lược kinh doanh, không đơn thuần là các dự án công nghệ thông tin và xây dựng chiến lược chuyển đổi số phù hợp với đặc thù đơn vị mình.

Chia sẻ với Báo điện tử Chính phủ, ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán – Ngân hàng Nhà nước  cho biết, theo kết quả khảo sát vào tháng 9/2020, có 95% số ngân hàng đã và đang xây dựng hoặc dự tính sẽ xây dựng chiến lược chuyển đổi số, trong đó 39% số ngân hàng đã phê duyệt chiến lược chuyển đổi số hoặc tích hợp trong chiến lược phát triển kinh doanh/công nghệ thông tin; 42% ngân hàng đang xây dựng chiến lược chuyển đổi số…

Trong chiến lược chuyển đổi số, đa số (88%) các ngân hàng đều lựa chọn chuyển đổi số cả kênh giao tiếp khách hàng (front-end) và nghiệp vụ nội bộ (back-end) hoặc số hóa toàn bộ; số ít ngân hàng (6%) dự kiến chỉ số hóa kênh giao tiếp khách hàng (front-end only).

Về lợi ích của chuyển đổi số trong vòng 3 đến 5 năm tới, có 82,5% ngân hàng kỳ vọng sẽ tăng trưởng doanh thu ít nhất 10%; 58,1% ngân hàng kỳ vọng hơn 60% khách hàng sử dụng kênh số và 44,4% ngân hàng kỳ vọng tỷ lệ tăng trưởng khách hàng đạt mức hơn 50%.

Nhiều ý kiến cho rằng, năm 2021 sẽ là năm bùng nổ về chuyển đổi số, sẽ có các chuyển đổi tích cực trong việc cải thiện trải nghiệm khách hàng và nâng cao năng suất, hiệu quả kinh doanh thông qua tự động hoá, các nền tảng mới gắn kết khách hàng sẽ ra đời.

Người hưởng lợi đầu tiên

Theo các chuyên gia, chuyển đổi số ngân hàng liên quan tới một loạt các vấn đề công nghệ và đi cùng đó là các vấn đề pháp lý mới mẻ trong nhiều lĩnh vực, bao gồm trí tuệ nhân tạo (A.I.), phân tích dữ liệu (Data Analytics), xử lý dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), nhận dạng sinh trắc học (Biometrics) hay các công nghệ tự động hóa quy trình bằng robot (RPA), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), việc xác minh thông tin nhận biết khách hàng không gặp mặt trực tiếp thông qua phương tiện điện tử (e-KYC); QR Code; Cơ chế quản lý thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox), hoạt động công nghệ tài chính (Fintech)…

Những thuật ngữ trên về cơ bản không quen thuộc với số đông, nhưng thực tế, cuộc đua chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ cả trong hai khối ngân hàng có vốn nhà nước và thương mại cổ phần. Trong đó, công nghệ dữ liệu, trí tuệ nhân tạo… được các ngân hàng áp dụng nhiều nhất và tận dụng triệt để phân tích hành vi, nhu cầu khách hàng giúp tối ưu hóa, cá nhân hóa việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ.

Theo các chuyên gia, mẫu số chung cho hoạt động của các ngân hàng để giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh COVID-19 là đẩy mạnh số hóa, tập trung triển khai các sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng số, với mục tiêu tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng một cách khác biệt và vượt trội, đưa khách hàng trở thành đối tượng được hưởng lợi đầu tiên từ cuộc cách mạng chuyển đổi số.

Theo ông Phạm Tiến Dũng, một số dịch vụ ngân hàng (thanh toán, nhận tiền tiết kiệm) gần như đã được số hóa 100%, cho phép khách hàng thực hiện tất cả các khâu trong quy trình sử dụng dịch vụ thanh toán (từ mở tài khoản, chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, nộp rút tiền tiết kiệm thông qua tài khoản thanh toán,…), nhiều ngân hàng đã ứng dụng các công nghệ để đánh giá, phân loại khách hàng và quyết định giải ngân,… giúp đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian giải ngân, cho vay từ nhiều ngày xuống trong ngày.

Hàng chục triệu khách hàng đã trở thành khách hàng số của ngân hàng với việc sử dụng thường xuyên các ứng dụng ngân hàng số trong mọi giao dịch thường nhật như: Ứng dựng ngân hàng số VCB Digibank, VietinBank iPay, BIDV Smart Banking, eBank X của TPBank; Omni-Channel của OCB… BIDV phát động chiến dịch chuyển đổi số “BIDV digi up”, công bố nhiều dự án chuyển đổi số. VietinBank cũng có kế hoạch xây dựng ứng dụng “chatbot” (robot tự động nói chuyện, tương tác với khách hàng) “đa nhiệm” hơn.

Ở khối các ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Tiên Phong (TPBank) có hệ thống ngân hàng tự động (LiveBank), Ngân hàng Bưu điện Liên Việt có LienViet24h…

Số lượng, giá trị giao dịch ngân hàng qua kênh số của nhiều ngân hàng Việt Nam có sự tăng  trưởng vượt bậc; một số ngân hàng như TPBank, MB đã ghi nhận tỷ lệ hơn 80% giao dịch được thực hiện trên nền tảng số.

Một cách hiểu ngắn gọn mà bao quát về một ngân hàng số hoàn hảo bằng 3 con số 3-1-0: Ngân hàng số hoàn hảo sẽ cung cấp các dịch vụ trực tuyến, đem lại trải nghiệm tốt cho khách hàng, ở đó chỉ trong vòng 3 phút, khách hàng có thể hoàn tất việc gửi hồ sơ yêu cầu để gửi tới cho ngân hàng; trong vòng 1 giây, hệ thống tự động phân tích trả lời về việc chấp nhận yêu cầu của khách hàng hay không và toàn bộ quy trình này không (0) cần có sự tham gia của con người.Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng Phạm Xuân Hòe 

Theo ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc của TPBank, các ngân hàng Việt Nam đang nhanh chóng nắm bắt cơ hội, ráo riết nghiên cứu và áp dụng các giải pháp công nghệ nhằm nhanh chóng khai thác tiềm năng từ phân khúc khách hàng chưa tiếp cận được dịch vụ ngân hàng, điển hình là các giải pháp về định danh khách hàng bằng phương thức điện tử (eKYC); ngân hàng điện tử (Internet Banking và Mobile Banking); thanh toán bằng mã QR, sinh trắc học; kết nối với các ví điện tử, công ty fintech…

Trong đó, phương thức xác thực điện tử (eKYC) đang được nhiều ngân hàng đưa vào ứng dụng, khách hàng có thể mở tài khoản mới ngay trên điện thoại di động thông qua ứng dụng ngân hàng số. Đây được xem là chìa khóa giúp các ngân hàng đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số. Bởi khách hàng không phải xếp hàng chờ đợi, không phải điền vào quá nhiều biểu mẫu, giấy tờ.

Ông Nguyễn Hưng khẳng định, ngân hàng tự động TPBank LiveBank đã được triển khai từ năm 2017, cho phép khách hàng mở tài khoản trong vỏn vẹn 8 phút và nhận thẻ ngay lập tức; trong khi thủ tục này có thể mất đến cả tuần lễ tại nhiều ngân hàng lớn trên thế giới.

Trong lĩnh vực thanh toán, TPBank cũng là ngân hàng đầu tiên trong Đông Nam Á cho phép khách hàng rút tiền, giao dịch bằng khuôn mặt và vân tay mà không yêu cầu thẻ ngân hàng hay bất kỳ giấy tờ tùy thân nào – giúp giản lược thao tác cho khách hàng và đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ rủi ro.

Ông Đỗ Minh Phú, Chủ tịch HĐQT TPBank khẳng định đến nay, TPBank đã bước vào giai đoạn thứ hai của quá trình chuyển đổi số, đó là đổi mới số hay sáng tạo số (Digital Innovation). “Giờ đây tất cả các hoạt động của ngân hàng đều được đặt trong mục tiêu sáng tạo số. Nó không còn mang ý nghĩa cách mạng mà Sáng tạo số đã thấm nhuần và trở thành tư duy hành động, tác nghiệp thường nhật của toàn hệ thống tại TPBank”, ông Phú chia sẻ.

Cơ hội mới cho các ngân hàng

Tại ngân hàng Bưu điện Liên Việt, ông Dương Trọng Chữ, Giám đốc Khối ngân hàng số cho hay đến năm 2020, đã có hơn 3 triệu khách hàng cài ứng dụng Liên Việt 24h và Ví Việt. Ngân hàng này đã huy động khoảng 100 nghìn tỷ đồng tiết kiệm online trên các ứng dụng này và giải ngân cho vay vài chục nghìn tỷ đồng, với chi phí hết sức tiết kiệm, khách hàng tin dùng.

Cũng theo ông Chữ, cùng với việc thu thập dữ liệu khách hàng (hành vi, thói quen giao dịch, lịch sử thanh toán v.v…), khách hàng có thể tiếp cận các khoản vay vi mô, vay tiêu dùng, kể cả khi khách hàng ít có thông tin để chấm điểm xếp hạng tín dụng theo các quy trình thẩm định tín dụng truyền thống.

Khách hàng dễ dàng tiếp cận các dịch vụ tài chính hơn so với ngân hàng truyền thống. Chẳng hạn, trước đây, khi nghĩ đến gửi tiết kiệm, khách hàng thường chờ có khoảng 5 hay 10 triệu đồng mới ra ngân hàng để gửi, giờ đây khách hàng có thể gửi tiết kiệm chỉ từ 100.000 đồng.

Mô hình ngân hàng số cho phép nhanh chóng mở rộng mạng lưới và cơ sở khách hàng, nhất là đối tượng khách hàng trẻ, có tiềm năng trở thành khách hàng cao cấp trong tương lai; đồng thời gia tăng năng suất vận hành và kiểm soát chi phí hiệu quả. TPBank ước tính chi phí giao dịch tại Ngân hàng số TPBank chỉ bằng 1/50 chi nhánh truyền thống, nên dù số lượng khách hàng và giao dịch tăng gấp nhiều lần nhưng nguồn nhân lực chỉ tăng 5 đến 7% nguồn lực nhân sự mỗi năm.

Trong khi đó, giải pháp eKYC của Vietinbank giúp khách hàng chỉ cần chụp ảnh giấy tờ tùy thân (căn cước công dân/chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu), chụp ảnh khuôn mặt, hệ thống sẽ kiểm tra các thông tin hợp lệ và tiến hành mở tài khoản cho khách hàng ngay lập tức.

Như nhiều doanh nghiệp, Vietinbank đang ứng dụng giải pháp OCR (Optical Charater Recognition – nhận dạng kí tự quang học, cho phép chuyển đổi tài liệu dạng ảnh thành tài liệu có thể biên tập được như file word…). để các kiểm tra thông tin trên giấy tờ tùy thân. Cùng với đó, áp dụng các công nghệ AI để kiểm tra các tiêu chí nhận diện các giấy tờ tùy thân đó có phải là thật hay không, như hình ảnh, vị trí quốc huy…

Trước những lo ngại về khả năng bảo mật của giải pháp số, ông Trần Công Quỳnh Lân, Phó Tổng Giám đốc Vietinbank khẳng định doanh nghiệp này quản lý rủi ro rất chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc giấy tờ tùy thân phải trong hiện trạng có thể đọc được thông tin, kiểm tra được khuôn mặt thì mới cho mở tài khoản.

“Ngoài ra, chúng tôi tuân thủ yêu cầu của NHNN là bảo đảm khuôn mặt dùng để mở tài khoản cũng chính là khuôn mặt thực hiện giao dịch, bảo đảm tài khoản không thể chuyển tay cho người khác”, ông Lân khẳng định.

Chuyển đổi số đã giúp ngân hàng đưa ra được các sản phẩm sáng tạo đột phá mới để mở rộng những mô hình kinh doanh phù hợp hơn với thời đại công nghệ. Với tốc độ tăng trưởng qua các năm và xu hướng về sự dịch chuyển hành vi của khách hàng sang các kênh số, đa số các ngân hàng đều kỳ vọng tỷ lệ khách hàng sử dụng kênh số sẽ ngày càng gia tăng trong thời gian tới.


Nhóm PV

***

Kỳ 2: Chuyển đổi số ngân hàng thúc đẩy nhiều lĩnh vực khác

08:30, 20/04/2021

(Chinhphu.vn) – Chuyển đổi số là cuộc cách mạng nhưng cũng đồng thời là cuộc đua hết sức căng thẳng, không chỉ giữa các ngân hàng mà còn giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

Ảnh VGP

Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh này sẽ mang lại lợi ích ngày càng lớn cho nền kinh tế và người tiêu dùng. Theo các chuyên gia, với vai trò mạch máu nền kinh tế của hệ thống ngân hàng, chuyển đổi số trong ngân hàng là một trong những yếu tố then chốt cho chuyển đổi số nói chung, tạo hệ sinh thái số về tài chính bao trùm hay tài chính toàn diện, kéo theo, thúc đẩy chuyển đổi số trong các lĩnh vực khác.

Kỳ vọng những tác nhân vượt trội

Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, các chuyên gia trong lĩnh vực này cho biết, những kinh nghiệm thế giới cho thấy, có rất nhiều yếu tố tác động tới chuyển đổi số ngân hàng. Chẳng hạn, Kenya – một trong những nước nghèo nhất thế giới – đã sử dụng mobile money cách đây 12 năm do việc sử dụng tiền mặt tiềm ẩn nguy cơ mất mát rất lớn tại quốc gia này.

Trong khi đó, tại Trung Quốc – một trong những nền kinh tế năng động  nhất thế giới, việc giới ăn mày xin tiền bằng cách quẹt mã QR đã không còn là chuyện lạ. Trung Quốc thành công trong việc triển khai mobile money do AliPay của Alibaba cùng với WeChatPay có hệ sinh thái quá lớn, và người dân Trung Quốc thường ưu tiên sử dụng các sản phẩm nội địa, do đó các ứng dụng ví điện tử của Trung Quốc sở hữu lượng người dùng khá đông đảo.

Câu chuyện chuyển đổi số còn đa dạng hơn nữa nếu xét trường hợp nước Mỹ – nền kinh tế lớn nhất thế giới. Theo ông Dương Trọng Chữ, Giám đốc Khối ngân hàng số của Liên Việt, nếu mobile money được hiểu là tiền điện tử, thì Mỹ đã triển khai từ khá lâu thông qua việc sử dụng thẻ, thanh toán điện tử (internet banking, mobile banking).

Tuy nhiên, nếu định nghĩa mobile money là ví điện tử, thì có thể thấy, tuy là một cường quốc, nhưng mãi đến năm 2020, Mỹ mới bắt đầu sử dụng mobile money. Nguyên nhân chính là do Mỹ đã có lịch sử quá lâu đời với ngân hàng truyền thống, người dân Mỹ đã quá quen với việc sử dụng thẻ, thanh toán điện tử. Do đó, họ nhận thấy rằng việc chuyển đổi từ sử dụng thẻ sang mobile money là một việc làm chưa quá cần thiết.

Ông Nguyễn Duy Lân, đồng sáng lập Công ty Veramine Inc. (một công ty riêng chuyên về lĩnh vực bảo mật tại Mỹ), cho rằng ngân hàng – tài chính là khối khách hàng lớn nhất, có nhu cầu cao nhất về an ninh mạng và các giải pháp số.

Ông Lân nhắc tới hai doanh nghiệp fintech lớn tại Mỹ với những giải pháp đột phá trong chuyển đổi số, một doanh nghiệp đã tạo ra được một nền tảng có khả năng liên thông tất cả các hoạt động giữa các bộ phận của một ngân hàng – vốn là một bài toán rất khó. Doanh nghiệp này được định giá khoảng 6 tỷ USD.

Một doanh nghiệp khác đã tìm ra giải pháp để có thể gần như hoàn hoàn tự động hóa quy trình cho vay. “Khai thác khoảng 1.600 data point (điểm dữ liệu) với mỗi khách hàng, họ không chỉ giảm được rất nhiều chi phí mà còn đạt được độ chính xác rất cao trong việc dựa trên dữ liệu để đưa ra kết luận về độ tin cậy của một khách hàng, giảm rất nhiều khả năng vỡ nợ của khách hàng đó”, ông Lân nói.

Ông Lân cho rằng, tại Việt Nam đã xuất hiện những công ty được tổ chức với hình thức như vậy, nhưng để tạo ra lợi thế cạnh tranh vượt trội thì chưa, song có thể hy vọng sẽ xuất hiện trong tương lai gần.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác

Theo các chuyên gia, xu hướng chuyển đổi số chắc chắn khiến cạnh tranh trong ngành ngân hàng càng trở nên khốc liệt. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng sẽ lựa chọn chiến lược khác nhau để tối ưu hóa điểm mạnh của mình. Tương tự như câu chuyện của các quốc gia, các ngân hàng còn tương đối non trẻ càng có cơ hội lựa chọn chuyển đổi số là chiến lược cạnh tranh mũi nhọn của mình.

Chẳng hạn, chiến lược ngân hàng số là đòn bẩy cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của TPBank trong thời gian qua, với cơ sở khách hàng tăng gấp 1,6 lần và tổng tài sản tăng trưởng 51% giai đoạn 2017 – 2020, song song với sự ra đời của các giải pháp số.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng hợp tác với các công ty fintech (công nghệ tài chính) và kết nối với các hệ sinh thái số của các đơn vị thuộc các ngành, lĩnh vực khác (các tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ (Vingroup, Grab,…), các công ty thương mại điện tử (Lazada, Shopee,…), các công ty viễn thông (Viettel, VNPT,…) để mang tới cho khách hàng những trải nghiệm dịch vụ một cách liền mạch được cá nhân hóa, từ đó tạo sự gắn kết và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.

Ở một góc độ nào đó, các công ty fintech đang làm thay đổi các mô hình kinh doanh truyền thống của các ngân hàng và các ngân hàng coi các công ty này vừa là đối thủ cạnh tranh, vừa là đối tác tiềm năng để có thể phát triển hệ sinh thái ngân hàng số.

Về phần mình, NHNN cho biết đã kịp thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc về lĩnh vực fintech; đồng thời, khuyến khích các ngân hàng hợp tác với các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công ty fintech phát triển các giải pháp, mô hình kinh doanh mới. NHNN đã thực hiện việc cấp phép cho các công ty fintech cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và đến nay đã có 39 tổ chức trung gian thanh toán được cấp phép.

Chia sẻ của một số ngân hàng cho thấy, các công ty fintech muốn phát triển trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng ở Việt Nam vẫn là một điều khá khó khăn do gặp nhiều hạn chế về mặt pháp lý và đây cũng là một lý do mà các công ty này có nhu cầu hợp tác chặt chẽ với phía ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc TPBank, ngân hàng và các công ty fintech có thể hợp tác nhằm gia tăng thị phần. Điển hình là việc hợp tác với các công ty ví điện tử dưới hình thức mở rộng kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Từ đó, ngân hàng có thể tận dụng mạng lưới rộng khắp sẵn có của đối tác mà không mất chi phí đầu tư lớn.

Cùng với đó, các bên có thể hợp tác nhằm thúc đẩy sự đột phá, ngân hàng hợp tác với các công ty fintech đi đầu trong lĩnh vực công nghệ mới, đòi hỏi chuyên môn cao như các giải pháp eKYC, nhận dạng sinh trắc học…

Liệu có đột phá từ mobile money?

Các ngân hàng cũng nhìn nhận, quyết định mới đây của Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm mobile money là một cơ hội mới, mobile money cũng chính là  đối tác và là thị trường mục tiêu mới, với khoảng 30 đến 40% dân số Việt Nam chưa có tài khoản ngân hàng.

Theo các chuyên gia, việc phát triển mobile money hiện nay ở Việt Nam rất phù hợp, có thể trở thành “cánh tay nối dài” để kết nối các dịch vụ tài chính với nhau ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa và cùng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Thậm chí, ngân hàng, các công ty fintech và nhà mạng có thể cùng kết hợp với nhau để đưa ra các dịch vụ, khai thác trên mạng lưới của VNPT, MobiFone, Viettel cũng như tập khách hàng 130 triệu tài khoản di động.

Theo ông Nguyễn Bá Diệp – Phó Chủ tịch của ví điện tử MoMo, việc Chính phủ mới đây cho phép thử nghiệm mobile money là đột phá về mặt thể chế đối với thanh toán điện tử. Về bản chất, mobile money là một ví điện tử, sẽ giúp tiếp cận được những khách hàng thu nhập thấp, nhất là ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, đồng thời gần như không có rào cản kỹ thuật khi người dân muốn sử dụng thanh toán điện tử.   

Tại Thông tư 19/2021/TT-BTC hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế, Bộ Tài chính cũng lần đầu tiên đã cho phép thực hiện nộp thuế thông qua các phương tiện trung gian thanh toán, trong đó có ví  điện tử, bên cạnh hình thức truyền thống là chuyển khoản qua ngân hàng. Ông Nguyễn Bá Diệp đánh giá rất cao bước đi này và mong muốn có thêm các thay đổi theo hướng cởi mở tương tự tại các lĩnh vực khác.

Mặc dù vậy, theo các chuyên gia do ví  điện tử và ngân hàng ở Việt Nam rất phát triển nên mobile-money sẽ chỉ giúp tạo thêm một kênh thanh toán, giao dịch trong hệ sinh thái không dùng tiền mặt và khó có thể đòi hỏi tạo sự đột phá như ở Kenya hay Châu Phi trước đây.

Theo các chuyên gia, trước đây, việc chuyển đổi số gần như chỉ dành cho các doanh nghiệp lớn, có kinh phí và nhân sự, tuy nhiên vào thời điểm hiện nay, những tiểu thương hay doanh nghiệp vừa và nhỏ đều có thể dễ dàng tham gia vào quá trình chuyển đổi số thông qua việc sử dụng giải pháp của một bên thứ 3 như các giải pháp ví điện tử. Các đơn vị này đã xây dựng và cung cấp giải pháp bán lẻ dành cho doanh nghiệp nhỏ, tiểu thương, giúp họ có thể trở thành điểm chấp nhận thanh toán, hay cung cấp dịch vụ, hàng hóa ngay trên các ứng dụng.

Nhóm PV

***

Kỳ 3: Ngân hàng số và những vướng mắc cần giải quyết

06:11, 23/04/2021

(Chinhphu.vn) – Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng đồng thời đặt ra nhiều vướng mắc cần giải quyết về công nghệ và pháp lý, từ phía các ngân hàng và phía người sử dụng.

Theo các ngân hàng, thời gian vừa qua, Chính phủ và NHNN đã có nhiều nỗ lực cải cách thể chế nhằm thúc đẩy chuyển đổi số. Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ chuyển đổi số như định hướng xây dựng xã hội thanh toán không dùng tiền mặt, cho phép thí điểm mobile money… Đặc biệt, bước đột phá đã được tạo ra khi NHNN cho phép triển khai mở tài khoản thanh toán của cá nhân bằng phương thức điện tử (eKYC) theo thông tư 16/2020/TT-NHNN.

Nhiều ngân hàng đang hướng tới mục tiêu xây dựng ngân hàng số

Nhiều ý kiến cho rằng thể chế cho chuyển đổi số ngành ngân hàng về cơ bản đáp ứng sự phát triển của xã hội và xu hướng không dùng tiền mặt.

“Tuy nhiên, sự cải cách về thể chế hiện nay đôi khi còn thuận theo xu hướng thị trường trong ngắn hạn vì mới tập trung nhiều ở mảng thanh toán. Trong khi đó, để đáp ứng sự phát triển dài hạn của ngành ngân hàng và công nghệ tài chính, chúng ta còn thiếu những cơ chế thử nghiệm pháp lý (sandbox) để giúp việc triển khai các công nghệ mới có được sự hỗ trợ và khuôn khổ pháp lý ngay từ ban đầu”, ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc TPBank nhận định.

Nhiều quy định cần tiếp tục hoàn thiện

Các ngân hàng cũng cho rằng, hành lang pháp lý, chính sách cần tiếp tục được hoàn thiện, trong đó, điều tiên quyết là đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh cá nhân và đồng thời cho phép chia sẻ, kết nối mở với các ngành dịch vụ như ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm…

“Dù áp dụng các công nghệ hiện đại, thì các giải pháp của Vietinbank không thể bảo đảm 100% chính xác rằng các giấy tờ tùy thân mà khách hàng cung cấp online là thật, do đó, tất cả các ngân hàng đều mong chờ hệ thống dữ liệu dân cư quốc gia để xác thực một cách chính xác nhất”, Phó Tổng Giám đốc Vietinbank Trần Công Quỳnh Lân chia sẻ.

Đại diện các ngân hàng cũng đề nghị các cơ quan chức năng ban hành dự thảo về đại lý ủy thác (agent banking) cho phép ngân hàng phát triển các điểm dịch vụ (khi ngân hàng không được mở nhiều chi nhánh/phòng giao dịch).

Cùng đó, cần đẩy nhanh tốc độ xây dựng quy định về bảo vệ dữ liệu người dùng, định danh số, xây dựng một liên minh eKYC. Hoàn thiện quy định bảo mật giao dịch, an ninh thông tin, quy định chi tiết về chữ ký điện tử, chứng thư điện tử, giao dịch điện tử cho phù hợp với thông lệ quốc tế…

Một nội dung rất quan trọng là việc cho phép triển khai cơ chế Sandbox – cơ chế thử nghiệm chính sách áp dụng cho việc ứng dụng công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới tại Việt Nam. Việc cho phép các ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số có những ngoại lệ nhất định trong việc đáp ứng các chỉ tiêu an toàn, hiệu quả theo quy định của NHNN sẽ giúp ngân hàng mạnh dạn nghiên cứu và thử nghiệm những cái mới.

Theo ông Dương Trọng Chữ, Giám đốc Khối ngân hàng số của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, so với một số quốc gia trong khu vực, tốc độ chuyển đổi số của Việt Nam tương đối nhanh, tuy nhiên Việt Nam vẫn chưa phải là một ví dụ điển hình về quốc gia có tốc độ chuyển đổi số nhanh trên thế giới. Việt Nam có lượng dân số trẻ, linh hoạt và dễ dàng chấp nhận mô hình chuyển đổi số, nhưng chúng ta lại gặp một số rào cản nhất định.

Thứ nhất, phải kể đến thói quen sử dụng tiền mặt của người dân Việt Nam quá lớn. Thứ hai, người dân Việt Nam thường có xu hướng tin tưởng những điểm giao dịch vật lý hơn là mô hình ngân hàng số không có chi nhánh/phòng giao dịch.

Thứ ba, chính sách gần như chưa có quy định bắt buộc đối với chuyển đổi số, mới chỉ dừng lại ở việc khuyến khích. Việt Nam là thị trường ham học hỏi nhưng mất khá nhiều thời gian trong việc triển khai do hành lang pháp lý chậm hơn sự phát triển của các mô hình kinh doanh.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các cuộc tấn công mạng lớn là một quan ngại hàng đầu trong ngắn hạn và các tổ chức phải đối mặt với những lựa chọn đánh đổi quan trọng trong việc cải thiện sức bền và khả năng chống đỡ trong môi trường mạng. Theo đánh giá từ kết quả khảo sát của Oliver Wyman, các cuộc tấn công mạng được lãnh đạo các doanh nghiệp tại những nền kinh tế phát triển đánh giá là rủi ro toàn cầu số 1 trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh. 

Ông Nguyễn Xuân Nam, Giám đốc Chiến lược của Công ty An ninh mạng Viettel khẳng định, các vấn đề công nghệ liên quan tới chuyển đổi số ngân hàng hiện đã tương đối bảo đảm an toàn, thậm chí có thể bắt kịp các công nghệ trên thế giới, tất nhiên vẫn cần cải thiện để tốt hơn nữa, nhưng người dân không nên quá lo lắng. Chẳng hạn, các ứng dụng mobile banking hiện nay đều được ứng dụng các công nghệ mới chống khai thác mã nguồn và không cho phép cài đặt trên các điện thoại không bảo đảm an toàn.

Tuy nhiên, theo ông Nam, một vấn đề đặt ra là hành lang pháp lý liên quan đến dữ liệu người dùng chưa thật chặt chẽ, chẳng hạn các quy định về lộ lọt thông tin, đánh cắp dữ liệu cá nhân, như vừa qua đã có một số vụ việc sử dụng dữ liệu mà chưa cho phép của chủ thể để đăng ký thẻ tín dụng hoặc các khoản vay… Cá nhân ông Nam cũng cho biết đã từng mở thẻ tại một ngân hàng A thì hôm sau đã có ngân hàng B có gọi điện hỏi, nghĩa là việc lộ lọt thông tin khách hàng là chuyện khá phổ biến.

Tuy nhiên, theo ông Nam, ở khía cạnh người tiêu dùng, điều quan trọng nhất không phải nằm ở công nghệ  hay pháp lý, mà là vấn đề nhận thức của người tiêu dùng về an toàn an ninh thông tin, hiện còn tương đối yếu. Đã có rất nhiều việc đánh cắp thông tin cá nhân, đánh cắp tài khoản hoàn toàn không phải do công nghệ hay pháp lý, mà do sự bất cẩn của người dùng. Do đó, mỗi người dân phải chủ động tìm hiểu các kỹ năng cơ bản về an toàn trên không gian mạng, cùng với việc các cơ quan nhà nước đồng hành cùng các doanh nghiệp trong truyền thông nâng cao nhận thức cho người dân.

Cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích

Ông Nguyễn Bá Diệp, Phó Chủ tịch ví điện tử MoMo cho rằng, một mô hình số hóa, đổi mới sáng tạo không thể hoạt động được dựa trên những quy định cũ, nặng về quản lý, không có tính thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Một ví dụ đơn giản, thay vì các bên đến gặp mặt để ký kết hợp đồng, chúng ta sẽ dùng chữ ký số (e-signature), ký trên một hợp đồng số (e-contract), xuất ra các chứng từ số (e-invoice), thanh toán bằng tiền số (e-money) và giao dịch được thực hiện toàn bộ trên các nền tảng số hóa (digital platform).

Do đó, cần những quy định về luật pháp để tạo ra chữ ký số, để xác định (KYC) được danh tính người ký, tính chính danh và được pháp luật bảo vệ của hợp đồng số, các quy định thanh toán bằng tiền điện tử, quản lý mua bán trên nền tảng số và chấp nhận chứng từ số.

“Để đáp ứng được việc chuyển đổi số một cách toàn diện thì cơ cấu pháp luật cũng phải có những thay đổi về lượng và chất. Tuy nhiên việc này cần nhiều thời gian để các đơn vị quản lý nhà nước cân nhắc giữa rủi ro và lợi ích, đây cũng là xu hướng chung đang xảy ra trên toàn thế giới vì trên thực tế không có một cơ chế pháp luật nào có thể thích ứng toàn diện với các thay đổi mang tính cách mạng do công nghệ tạo ra hiện nay”, ông Diệp nói.

Một luật sư đang phụ trách quản trị một ngân hàng thương mại lớn của Việt Nam cho rằng, về cơ bản thể chế pháp lý hiện nay vẫn thiên về giao dịch giấy, giao dịch tiền mặt. Có hàng loạt ví dụ cho vấn đề này, như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về tài sản số và khi xảy ra tranh chấp hoặc vi phạm hành chính, vi phạm hình sự, sẽ có rất nhiều vướng mắc như định nghĩa bằng chứng, chứng cứ, hợp đồng điện tử trong lĩnh vực giao dịch điện tử, giao dịch số, chúng ta hiểu thế nào là tính toàn vẹn, tính nguyên gốc của chứng cứ số? Một ví dụ khác, khi một người qua đời để lại một lượng Bitcoin mà không có người thừa kế, cũng không để lại mật khẩu ví chứa Bitcoin, thì “tài sản vô chủ” này sẽ được xử lý ra sao?

Trong số nhiều vấn đề đặt ra với chuyển đổi số ngân hàng, vị luật sư này cho rằng, hiện các giao dịch ngân hàng có thể thực hiện gần như toàn bộ qua phương thức điện tử, nhưng vẫn dựa trên cơ sở của một “bản giấy” đầu tiên mà người sử dụng giao kết với ngân hàng. Tuy nhiên, câu chuyện có thể sẽ rất khác nếu toàn bộ quy trình được thực hiện hoàn toàn qua phương thức điện tử.

“Khi chụp ảnh giấy tờ tùy thân hay ảnh người sử dụng, ngân hàng lấy dữ liệu nào để xác nhận chắc chắn về danh tính người đó?”, vị này đặt vấn đề. Đồng tình với ý kiến của Vietinbank, luật sư này nhấn mạnh, việc xây dựng một cơ sở dữ liệu dùng chung, liên thông có vai trò vô cùng quan trọng để giảm bớt công sức, chi phí cho toàn bộ các chủ thể trong xã hội, trong đó có các ngân hàng.

Tất cả những vấn đề pháp lý hiện nay đặt ra không ít rủi ro cho các dịch vụ tài chính, ngân hàng trên nền tảng công nghệ. Do đó, vị luật sư cũng kiến nghị sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng cho phù hợp với thực tiễn hơn, đồng thời sớm cho phép áp dụng cơ chế khung khổ thử nghiệm (sandbox) cho các dịch vụ này. 

Kỳ 4: Cần hoàn thiện các quy định pháp luật trong kinh tế số

Nhóm PV

***

Thúc đẩy chuyển đổi số trong ngân hàng:

Kỳ 4: Cần hoàn thiện các quy định pháp luật trong kinh tế số

09:15, 24/04/2021

(Chinhphu.vn) – Trước những vướng mắc về mặt thể chế, chính sách nói chung và cho ngân hàng số nói riêng, nhiều đề xuất, kiến nghị đã được nêu ra, trong đó một giải pháp rất được kỳ vọng là cơ chế thử nghiệm chính sách (regulatory sandbox).

Ảnh minh họa

Chương trình “Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” của Chính phủ đã nhấn mạnh, thể chế cần đi trước một bước khi có thể. Chính phủ kiến tạo thể chế, chính sách nhằm sẵn sàng chấp nhận và thử nghiệm cái mới một cách có kiểm soát; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới; làm điểm, làm nhanh, sau đó đánh giá và nhân rộng; thúc đẩy phát triển công nghiệp sáng tạo.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính mới đây cũng đã nhiều lần nhấn mạnh, cần tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, xã hội số; đẩy mạnh việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách để huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Những vấn đề đã “chín”, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, thực hiện có hiệu quả, được đa số đồng tình thì tiếp tục thực hiện; những vấn đề chưa có quy định hoặc vượt quy định thì mạnh dạn thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, mở rộng dần, không cầu toàn, không nóng vội.

Còn nhiều vướng mắc cho kinh tế số

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), việc hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực kinh tế số là một trong những trọng tâm chính sách của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay.

Trong một báo cáo mới đây, VCCI chỉ ra hàng loạt vướng mắc liên quan tới kinh tế số, mà trước hết là về sở hữu trí tuệ. Theo cơ quan này, pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã ghi nhận và bảo hộ nhiều loại tài sản trí tuệ, như quyền tác giả và quyền liên quan đối với tác phẩm, phần mềm, hệ thống thông tin, sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh. Tuy nhiên, một số vấn đề chưa được làm rõ gây nhiều khó khăn trên thực tiễn triển khai.

Ví dụ, khái niệm bí mật kinh doanh trong Luật Sở hữu trí tuệ vẫn còn rất chung chung và khó hiểu. Điều này dẫn đến các tranh cãi về việc dữ liệu có  được coi là bí mật kinh doanh hay không và cần có cơ chế bảo hộ như thế nào. Trên thực tiễn, đã nảy sinh tình huống mất cắp dữ liệu nhưng các cơ quan nhà nước vẫn ngần ngại khi coi đây là loại tài sản trí tuệ cần được bảo vệ. Hiện nay, Luật Sở hữu trí tuệ đang trong giai đoạn rà soát, sửa đổi và việc ghi nhận, bảo hộ các loại tài sản trí tuệ trong kinh tế số cần được chú trọng.

Ngoài ra, vấn đề bảo vệ tài sản số trong các hợp đồng dân sự, lao động cũng là cản trở khá lớn đối với các doanh nghiệp đầu tư vào kinh tế số hoặc chuyển đổi số. Ví dụ, một ngân hàng thuê một bên cung cấp giải pháp công nghệ thông tin để có thể lập trình các website, phần mềm hoặc mua các gói phần mềm có sẵn để phục vụ việc chuyển đổi số. Trong quá trình đó, một số câu hỏi nảy sinh như dữ liệu, thông tin được tạo ra sẽ thuộc về đơn vị thuê dịch vụ hay đơn vị cung cấp dịch vụ chuyển đổi số, ai có quyền khai thác, sử dụng dữ liệu, thông tin đó?

Pháp luật hình sự cũng có thể được coi là một công cụ tốt để bảo vệ tài sản số, giúp các doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, dù các hành vi vi phạm diễn ra tương đối nhiều, nhưng số lượng các vụ việc bị xử lý lại hầu như không có. Các hành vi thường bị xử lý như chiếm đoạt tiền trong các tài khoản ngân hàng, thẻ tín dụng, lừa đảo trong thương mại điện tử và cung cấp phần mềm nghe lén, theo dõi điện thoại. Còn các hành vi xâm phạm dữ liệu, xâm phạm hệ thống thông tin vẫn chưa thấy có vụ việc nào bị xử lý.

Về bảo vệ dữ liệu người dùng, việc thực thi các quy định vẫn còn gặp nhiều khó khăn, cho dù Luật An toàn thông tin mạng đã dành hẳn một mục để quy định về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng internet. Điều đáng mừng là hiện nay, Bộ Công an đang trình Chính phủ đề xuất xây dựng Nghị định riêng về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nghị định này được kỳ vọng sẽ là khung pháp lý toàn diện về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân trên môi trường mạng hiện nay.

Cũng theo VCCI, cân bằng giữa việc bảo vệ và khai thác dữ liệu người dùng cũng là tranh luận chính sách trong quá trình soạn thảo các quy định pháp luật liên quan. Pháp luật Việt Nam đã có quy định cấm các hành vi mua bán dữ liệu người dùng, được thực thi bằng cả các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự. Tuy nhiên, việc coi dữ liệu cá nhân là bí mật kinh doanh, một dạng tài sản trí tuệ được bảo hộ theo pháp luật về sở hữu trí tuệ thì chưa rõ ràng.

Theo Ban Pháp chế của VCCI, vấn đề các nền tảng phải cung cấp thông tin người dùng cho cơ quan nhà nước cũng là một tranh luận chính sách quan trọng, nhưng dường như lại chưa được làm rõ trong các quy định pháp luật. Cơ quan này cho rằng, vấn đề cung cấp thông tin người dùng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước cần đạt được sự cân bằng giữa một bên là bảo vệ quyền riêng tư của người dùng và quyền tài sản của doanh nghiệp, một bên là nhu cầu phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác từ phía cơ quan quản lý nhà nước.

Hiện nay, vấn đề này chưa được giải quyết một cách rõ ràng trong các văn bản quy phạm. Một số văn bản như Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp cận theo hướng đề cao quyền riêng tư. Tuy nhiên, rất nhiều văn bản khác lại đề cao việc quản lý nhà nước và yêu cầu cung cấp thông tin rất rộng.

Kỳ vọng mở đường cho nhiều mô hình

Để giải quyết thực trạng nhiều mô hình kinh doanh dịch vụ trên nền tảng kinh tế số phát triển quá nhanh, mà các cơ quan quản lý không theo kịp để đưa ra biện pháp phù hợp, nhiều quốc gia đã đưa ra cơ chế thử nghiệm chính sách (regulatory sandbox). Hiện, các cơ quan ban hành chính sách của Việt Nam cũng đã bắt đầu có ý tưởng đưa ra một cơ chế tương tự, trước mắt dành cho dịch vụ công nghệ tài chính (fintech).

VCCI cho rằng, nhiều hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, tài chính hiện thuộc diện bị cấm hoặc phải đáp ứng các điều kiện rất cao thì mới được thực hiện. Các quy định hiện hành này không phù hợp với mô hình kinh doanh mới với ứng dụng của mạng internet và công nghệ thông tin. Mặc dù vậy, nếu yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đưa ra quy định dành cho mô hình kinh doanh mới luôn thì các cơ quan chưa thể làm ngay được.

“Để giải quyết mâu thuẫn này thì cơ chế thử nghiệm là một giải pháp. Nguyên lý cơ bản của cơ chế này là Nhà nước tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng cần kiểm soát các nguy cơ gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng. Do đó, thay vì cơ quan nhà nước đưa ra các quy định, các biện pháp bắt buộc doanh nghiệp phải thực hiện để bảo vệ lợi ích công cộng, thì chính các doanh nghiệp đề xuất các biện pháp này”, VCCI nhận định.

Theo giải pháp này, các doanh nghiệp sẽ chuẩn bị một đề án để xin phép cơ quan nhà nước. Đề án đó sẽ trình bày kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp, các vấn đề pháp lý ảnh hưởng đến dự  định kinh doanh đó, và các biện pháp do doanh nghiệp đề xuất để có thể bảo vệ các lợi ích công cộng trong lĩnh vực tài chính như chống lừa đảo, rửa tiền, chiếm đoạt tài sản. Các cơ quan nhà nước sẽ thẩm định và xem xét chấp thuận phương án kinh doanh cùng với các biện pháp bảo vệ lợi ích công cộng đi kèm.

Đề án này được dự kiến là sẽ mở đường cho một số hoạt động tài chính hiện nay như cho vay ngang hàng, xác thực người dùng điện tử, tiền mã hoá và có thể thêm nhiều mô hình khác.

Sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý

Ông Phạm Tiến Dũng, Vụ trưởng Vụ Thanh toán của NHNN thừa nhận, bên cạnh những cơ hội, chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng cũng đặt ra một số vấn đề đòi hỏi cần tiếp tục có sự nghiên cứu để hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý, nhất là khuôn khổ pháp lý về giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, hợp đồng điện tử, định danh và xác thực điện tử, cơ chế quản lý, giám sát đối với các công ty fintech… cũng như việc đảm bảo an toàn, bảo mật trước xu hướng gia tăng của các loại tội phạm trên môi trường mạng với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp.

Để tiếp tục thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành ngân hàng, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, khung khổ pháp lý trong hoạt động ngân hàng thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, tạo thuận lợi và thúc đẩy các mô hình kinh doanh, quản trị điều hành trong lĩnh vực ngân hàng theo hướng bứt phá, đổi mới, sáng tạo nhưng vẫn chú trọng tới công tác đảm bảo an ninh mạng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm hạn chế những rủi ro, thách thức.

Cùng với đó, cần tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền, giáo dục tài chính, nâng cao nhận thức, hiểu biết cho người dân về ứng dụng kỹ thuật số và những lưu ý để phòng, tránh rủi ro khi thực hiện giao dịch trên môi trường điện tử.

Cũng như kiến nghị của nhiều chuyên gia và lãnh đạo của một số ngân hàng, ông Phạm Tiến Dũng cho rằng, cần sớm hoàn thành việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, có cơ chế cho phép chia sẻ thông tin từ cơ sở dữ liệu này với một số ngành dịch vụ như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông để thúc đẩy chuyển đổi số trong nền kinh tế, cho phép cung cấp dịch vụ số nhanh chóng, an toàn, thuận tiện, chi phí thấp tới đông đảo người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, sớm xây dựng hành lang pháp lý về bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư dữ liệu người dùng nhằm tạo dựng môi trường giao dịch số an ninh, an toàn, bảo vệ người tiêu dùng, thúc đẩy lòng tin của công chúng đối với thực hiện giao dịch số, sử dụng dịch vụ số.

Cùng với đó, cần hoàn thành Nghị định về định danh và xác thực điện tử nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho các giao dịch điện tử, dịch vụ số, qua đó tăng cường hỗ trợ các hoạt động của kinh tế số.

Một vấn đề khác là đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu xây dựng Luật Giao dịch điện tử thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử năm 2005 để tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, ngành hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan, giúp đẩy mạnh số hóa, ứng dụng kỹ thuật số, tạo môi trường giao dịch thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp qua kênh số, phương thức điện tử.

Nhóm PV

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s