Ký sự 3 kỳ của Hoàng Thiên Nga- Chuyện về Rừng và Kiểm lâm

Thực trạng rừng bị tàn phá, suy giảm chất lượng không ngừng suốt nhiều thập kỷ qua, bất chấp mọi chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền buộc chúng ta phải tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Đâu là phương thức hữu hiệu để rừng vừa được gìn giữ vẹn nguyên, vừa tạo ra nguồn lợi đủ cho đội ngũ bảo vệ rừng được bảo đảm cuộc sống no ấm? 

Dân đốt rừng dọc QL27 để lấy đất gieo trồng 

Kỳ I- Rừng xanh, mất tới bao giờ ?

Ai cũng biết giá trị to lớn của Rừng về cân bằng môi trường sống, tạo nguồn nước cho năng lượng và nông nghiệp, là nguồn lâm sản, thực phẩm, dược liệu cho con người. Rừng là tài nguyên xanh cho du lịch sinh thái. Rừng là không gian lưu truyền các báu vật văn hóa phi vật thể của nhân loại…

Thế nhưng, nhiều thập kỷ qua, bảo vệ rừng luôn là bài toán chưa tìm ra lời giải. Rất nhiều Nghị định, Thông tư, công văn liên quan đã được ban hành. Nhiều mô hình quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) đã triển khai. Tuy nhiên rừng nước ta vẫn bị mất từng mảng lớn, và đa số diện tích rừng còn lại rơi vào trạng thái nghèo kiệt, xác xơ. Rừng bị tàn phá từ nội tỉnh, liên tỉnh cho tới tận vùng biên giới. 

Nhiều đại biểu xót xa khi nghe số liệu chính thức về diện tích rừng bị mất ở 3 tỉnh Tây Nguyên tại hội nghị lâm nghiệp ngày 22/6/2020 tại TP Buôn Ma Thuột: Chỉ riêng trong năm 2019, 3 tỉnh đã mất tới 15.753 ha rừng tự nhiên. Dẫn đầu là Đắk Lắk- tỉnh để mất rừng nhiều nhất với 11.419 ha. Tiếp theo, Đắk Nông mất 7.156 ha, Gia Lai mất 494 ha. Chủ trì hội nghị, Bộ trưởng NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường yêu cầu xác định rõ trách nhiệm của chủ rừng và chính quyền địa phương; bảo vệ bằng được diện tích rừng còn lại; đề nghị Trung ương sớm bố trí kinh phí cho các tỉnh Tây Nguyên triển khai những dự án quy hoạch di dân tự do v.v…

Các nội dung chỉ đạo này không hề mới. Trước đó, đã nhiều lần Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nghiêm khắc nhắc nhở lãnh đạo các tỉnh Tây Nguyên: “Độ che phủ đã xuống tới ngưỡng không thể thấp hơn được nữa. Tỉnh nào còn để mất rừng tự nhiên, lãnh đạo tỉnh đó sẽ phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ!”. Tuy nhiên, răn đe không còn tác dụng. Vì ngoài nguyên nhân mất rừng đã rõ bởi hậu quả phá rừng lập làng, lấy đất canh tác của dân di cư tự do, ngân sách không đáp ứng đủ nhu cầu quy hoạch dân cư và hỗ trợ người nghèo vay vốn chuyển đổi ngành nghề, vẫn chưa chấm dứt tình trạng để mất rừng do lợi ích nhóm, buông lỏng quản lý, bao che cán bộ sai phạm, không thượng tôn luật pháp. 

Đắk Lắk chưa từng có vị lãnh đạo cấp tỉnh nào bị mất chức vì để rừng bị phá dữ dội, dù diện tích rừng bị mất trong nhiều năm cao nhất cả nước. Năm 2019, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk còn được trao danh hiệu Chiến sĩ thi đua dù đã bị Tòa án nêu rõ họ tên, chức vụ tại các phiên xử “trùm gỗ lậu Phượng Râu”, về hành vi “lỡ nhận” gần 9m3 gỗ lậu của lâm tặc trong vụ án phá rừng liên tỉnh, mà Bộ Công an phải cử lực lượng vào tận nơi, phối hợp Công an tỉnh Đắk Nông truy quét, điều tra. 

Cũng Đắk Lắk, Phó giám đốc công ty lâm nghiệp Cư M’lan để mất hơn 10.500 ha rừng, sử dụng hàng trăm mét khối gỗ lậu làm nhà, sau khi bị kỷ luật cảnh cáo lại được thăng lên vị trí cao hơn: Phó tổng giám đốc đại diện phần vốn nhà nước trong một công ty quy mô lớn hơn, hình thành từ việc sáp nhập 2 công ty lâm nghiệp, vẫn trực tiếp phụ trách QLBVR. Trước đó, vụ khai thác trái phép 23 cây cổ thụ của Vườn Quốc gia Yok Đôn gần 2 đồn biên phòng năm 2018, ngay trên vành đai biên giới nơi được bảo vệ cực kỳ nghiêm ngặt, báo chí chất vấn liên tục, vụ án mới được khởi tố. Tuy nhiên, bởi “không rõ” bị can, vụ án đã “chìm xuồng”.  

“Đóng cửa rừng”- Cần, nhưng chưa đủ!

Trên thế giới, các chỉ thị cấm khai thác gỗ một phần hoặc toàn bộ rừng tự nhiên từ lâu đã trở thành công cụ chính sách cho công tác bảo vệ và quản lý rừng bền vững tại nhiều quốc gia, khi hoạt động khai thác rừng vượt quá tầm kiểm soát. Ở nước ta, từ năm 1993, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã ban hành lệnh cấm khai thác gỗ rừng tự nhiên qua Chỉ thị 462-TTg. Chỉ thị ghi rõ “Đóng ngay cửa rừng đối với các loại rừng sau: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng trên núi đá, rừng nghèo phải khoanh nuôi để xúc tiến tái sinh”. 

Tuy nhiên 10 năm sau đó, tình trạng phá rừng và săn bắt động vật hoang dã vẫn ngày càng lan rộng, xâm hại nghiêm trọng cả các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn. Thủ tướng Phan Văn Khải phải ban hành Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg về tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ phát triển rừng, yêu cầu các địa phương “kiểm tra và cưỡng chế tất cả những người di dân tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ”, nhiều lần nhắc phải “hạn chế tối đa chỉ tiêu khai thác gỗ rừng tự nhiên”. 

10 năm tiếp theo, tình trạng phá rừng vẫn không giảm. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải ban hành Quyết định số 2242/QĐ-TTg yêu cầu thực hiện giải pháp “dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước”, trừ 2 khu vực được phê duyệt phương án, cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững quốc tế (có thời hạn) ở Kon Tum và Quảng Bình. Trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “Tôi yêu cầu dứt khoát đóng cửa rừng”.

Kế nhiệm, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhiều lần thể hiện tâm trạng lo lắng, ưu tư. Tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó biến đổi khí hậu vào tháng 7/2016, ông tiếp tục yêu cầu các tỉnh Tây Nguyên phải thực hiện nghiêm chủ trương dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên theo Kết luận số 97-KL/TW ngày 09/5/2014 của Bộ Chính trị; Không chuyển mục đích sử dụng 2,25 triệu héc-ta rừng tự nhiên hiện còn sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai; Không chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây công nghiệp. 

Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư cũng yêu cầu “dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên trên phạm vi cả nước; nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đối với rừng sản xuất; ngăn chặn kịp thời, hiệu quả tình trạng suy thoái rừng.” Thế nhưng tới nay rừng tự nhiên ở Tây Nguyên vẫn không ngừng giảm cả về diện tích lẫn chất lượng, cho thấy cần phải có các giải pháp phù hợp với thực tế, mạnh mẽ, bền vững và khả thi hơn.

Phá rừng lập làng di cư tự do ở Đắk Nông

 

Rõ ràng, chủ trương “đóng cửa rừng tự nhiên” ngày càng được lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhìn nhận nhất quán, với quyết tâm chấm dứt nạn phá rừng, bảo vệ cho được diện tích rừng quý giá còn lại của quốc gia. Thế nhưng, chỉ “đóng” thôi thì chưa đủ, nếu không thực thi pháp luật thật nghiêm minh, không bảo đảm mức thu nhập và ổn định cuộc sống cho lực lượng QLBVR, không tìm thấy mô hình bảo vệ phát triển rừng hiệu quả, không khai thác được nguồn lợi to lớn từ môi trường rừng. Nỗi đau của nhiều người gắn bó lâu năm với nghề giữ rừng trên Tây Nguyên đã phơi trần qua những lá đơn kêu cứu …

H.T.N.

***

Ký sự 3 kỳ của Hoàng Thiên Nga-Chuyện về Rừng và Kiểm lâm

Kỳ II- TIẾNG GỌI TỪ ĐẠI NGÀN HOANG DÃ

 

Khó gìn giữ rừng toàn vẹn, nếu lực lượng bảo vệ rừng không được bảo đảm các quyền lợi chính đáng. Hàng trăm cán bộ nhân viên ngành Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk đã liên tục kiến nghị, âu lo vì thiệt thòi về chế độ chính sách, dù họ đã nỗ lực suốt phần đời trai trẻ cho việc bảo vệ những vùng rừng tự nhiên hiếm quý còn lại trên cao nguyên.                                                                  

 

Trên đỉnh sương mù  

 

Địa hình núi non hiểm trở là yếu tố thuận lợi để VQG Cư Yang Sin bảo tồn được quần thể cổ thụ lá kim quý hiếm, với những cây Pơ-mu, Thông 2 lá khổng lồ nghìn tuổi phủ đầy rêu xanh, xen lẫn các vạt rừng hoa bạch trà, hồng trà tuyệt đẹp từ bình độ 1.900m trở lên đến 2.400m, nơi cao nhất trong toàn bộ hệ thống núi vùng cực Nam trung bộ. Nhưng cũng vì hiểm trở, mà các chặng đường tuần tra trèo núi băng sông của lực lượng kiểm lâm càng vất vả, nhọc nhằn. 

Thông 2 lá dẹt nghìn năm trên đỉnh Cư Yang Sin- Ảnh Trần Hữu Đăng

Công lao của đội ngũ quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) nơi đây không ai phủ nhận được. Thế nhưng, thu nhập và chế độ, chính sách của cán bộ nhân viên (CBNV) VQG này lại kém hẳn so với các đồng nghiệp làm việc cho VQG Yok Đôn, dù 2 VQG này đều nằm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Nguyên nhân: VQG Cư Yang Sin nằm trên địa giới 2 huyện Krông Bông, Lắk do tỉnh quản lý, còn VQG Yok Đôn ở huyện Buôn Đôn đến nay vẫn thuộc Cục Lâm nghiệp- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

 

Trong hơn 100 CBNV Cư Yang Sin, có tới 34 người do Sở NN&PTNT tỉnh ký hợp đồng tuyển dụng vào VQG từ những năm 1999-2005, tới giữa năm 2020 vẫn chưa được xếp vào ngạch viên chức. Trong đó có cả Giám đốc, Kế toán trưởng, 9 Trạm trưởng và Đội trưởng đội kiểm lâm. VQG Cư Yang Sin còn có 2 nhân viên bị lâm tặc bắn trọng thương, nhiều năm qua chưa được nhận chế độ thương tật dành cho người thi hành công vụ. Nhà chức trách giải thích không giải quyết được do các quy định bất cập, chồng chéo (!). Từ tháng 10/2018, 34 CBNV được thông báo sẽ mất một số chế độ vì chưa được công nhận là viên chức nên kiến nghị liên tục, cho tới đầu năm 2020 thì bị cắt hẳn các khoản phụ cấp ngành, thâm niên phục vụ, ưu đãi nghề kiểm lâm, lương giảm tới 30-40%.

Nhiều cán bộ tâm huyết với sự nghiệp QLBVR gặp phóng viên, tâm sự: Sau hơn 20 năm thành lập VQG Cư Yang Sin, chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động tại đây có cải thiện, nhưng vẫn chưa tương xứng với sự cống hiến. Mấy năm trước nhờ khoản tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, VQG mua sắm được trang thiết bị và trả công làm việc ngoài giờ. Từ năm 2019 khi Nghị định 156 về Lâm nghiệp có hiệu lực, nguồn này không còn nữa. Với 300 nghìn đồng công tác phí khoán mỗi tháng, vỏn vẹn 2 bộ quần áo bảo hộ lao động mỗi năm, CBNV 10 trạm kiểm lâm được giao bảo vệ gần 59.000 ha rừng Cư Yang Sin phải tự mua thêm trang phục, giày mũ, lương thực cho những chuyến xuyên rừng dài ngày để tuần tra. 

Một trong những lá đơn kêu cứu từ Cư Yang Sin gửi đến báo Tiền Phong có đoạn viết “Hơn ai hết, 34 lao động ngoài biên chế này hiểu rõ giá trị về đa dạng sinh học, sự phân bố của những loài động thực vật quý hiếm của VQG Cư Yang Sin. Khi thu nhập không còn đủ trang trải chi phí sinh hoạt, không đủ nuôi con, họ sẽ phải bắt tay với lâm tặc, sẽ đành bán rẻ cả mồ hôi lẫn máu đã đổ suốt 15-20 năm qua để có thể tồn tại giữa cuộc sống luôn dư thừa áp lực này…”

Giữ rừng, sao không phải kiểm lâm ?                                            

Từ mức trên dưới 10 triệu/tháng, đầu năm 2020 tới nay lương của 34 CBNV chủ chốt tại VQG Cư Yang Sin rơi xuống 6-7 triệu đồng/tháng. “Xa nhà biền biệt, đêm ngày phải đối mặt với lâm tặc nguy hiểm, bằng cấp chứng chỉ đầy mình mà tiền gửi về không đủ nuôi vợ con. Nghèo so với đồng nghiệp ở VQG Bi Doup Núi Bà giáp ranh thuộc tỉnh Lâm Đồng đã đành, mà lương còn thấp hơn công nhân may chỉ cần biết đọc biết viết, mới vào nghề ở Khu công nghiệp Hòa Phú của tỉnh! ”- Một đội trưởng Đội kiểm lâm than. 

Nhưng VQG Cư Yang Sin còn may mắn hơn một số đơn vị khác. Trước đó, từ năm 2015-2016, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần gửi công văn đến các Bộ liên quan, đề nghị xem xét tình trạng hơn 30 CBNV của Trung tâm Bảo tồn Voi và Ban quản lý Khu bảo tồn loài-sinh cảnh (BQL KBT) Thông nước, đều phải làm việc giữa rừng mà không được xếp vào ngạch Kiểm lâm. Cả Voi lẫn Thông nước đều đang có nguy cơ tuyệt chủng, cần có lực lượng bảo vệ chặt chẽ quanh năm suốt tháng.  

Tới nay, mức lương của hơn 30 CBNV này vẫn thấp nhất ngành. Thông nước tức Thủy tùng, loài thực vật cổ sinh cực hiếm đã mất khả năng sinh sản tự nhiên, chỉ còn vài cây mọc rải rác ở Lào và Trung quốc, và 2 quần thể ở Việt Nam tổng cộng 162 cây tại vùng sâu tỉnh Đắk Lắk. 13 thành viên BQL KBT Thông nước phải thường xuyên băng đầm lầy, kiểm đếm từng gốc, không để mất cây nào. Phóng viên đến, chứng kiến cảnh những người bảo vệ 2 quần thể Thủy tùng quý giá này sống quá đơn sơ thiếu thốn, quanh năm “muỗi bay vãi trấu, đỉa lềnh bánh canh”. 

“Đầu xuân, trong khi lao động các ngành nghề khác thảnh thơi đón tết thì đội ngũ QLBVR chúng tôi phải truy quét dài ngày xuyên rừng. Chỉ 30% được về với gia đình. Số còn lại luân phiên túc trực ở những điểm nóng để ngăn chặn các hành vi khai thác gỗ; bẫy, bắn động vật hoang dã; Gây cháy rừng v.v… Sau tết mới nghỉ bù, nhưng không được chi trả tiền làm thêm giờ trong dịp Tết như quy định. Lý do muôn thuở là tỉnh không có kinh phí…”- Trạm trưởng một trạm QLBVR cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột hơn 100km kể.

Phóng viên các báo đài thường trú trên Tây Nguyên đa số từng đồng hành, trải nghiệm gian nan cùng lực lượng QLBVR. Công luận từ lâu không còn bất ngờ trước các bản tin đau lòng mà quen thuộc như “lâm tặc săn kiểm lâm” hay “máu người giữ rừng lại đổ”. Nguồn lợi từ rừng thì phong phú, ngõ ngách vào rừng thì mênh mông, thủ đoạn trục lợi câu kết thì tinh vi mà người bảo vệ rừng thì không thể đáp trả các hành vi manh động, liều lĩnh của lâm tặc theo cách chúng gây ra. Dù “sâu mọt” trong ngành không hiếm, nhưng số đông cán bộ viên chức gắn bó đời mình với lâm nghiệp đều có chung tình yêu rừng bền bỉ.

Tôi hỏi những CBNV học hành bằng cấp bài bản, gắn bó cả thời trai trẻ với 2 vùng đầm lầy Ea Ral- Ea H’Leo và Trấp Ksơr -Krông Năng, vừa từ chối cơ hội chuyển qua đơn vị thuận lợi hơn ở tỉnh kề bên : Điều gì khiến các bạn chấp nhận xa gia đình vào nơi heo hút này để canh giữ ngày đêm từng gốc Thủy tùng, với mức lương bé mọn đến thế ? Trả lời: Chúng tôi yêu rừng, và đã quen sống với rừng. Tiếng gọi thân thương từ đại ngàn hoang dã luôn níu chân hơn những lời mời hấp dẫn khác. 

Kiểm lâm đo chu vi cổ thụ- Ảnh Trần Hữu Đăng

 

Ngày 21/7/2020, trả lời tác giả ký sự này, ông Bạch Văn Mạnh-Giám đốc Sở Nội Vụ tỉnh Đắk Lắk xác nhận việc chăm lo chế độ chính sách cho lực lượng QLBVR của tỉnh có nhiều sai sót từ các nhiệm kỳ trước, nay phải cố gắng khắc phục. 153 người trình độ từ Trung cấp đến Thạc sĩ có trên dưới 20 năm cống hiến vừa được công nhận trúng tuyển vào ngạch viên chức Kiểm lâm sau đợt xét tuyển mới đây. Tuy nhiên những khoản phụ cấp mà họ bị cắt từ đầu năm 2020 tới nay có thể không được tỉnh truy xét, cấp bổ sung.  

 

H.T.N.

***

Ký sự 3 kỳ của Hoàng Thiên Nga: “Rừng, và Kiểm lâm”

Kỳ III- ĐỂ GIỮ RỪNG  CĂN CƠ, BỀN VỮNG 

Sau nhiều bài học kinh nghiệm đắt giá, những cách làm mới hiệu quả, thiết thực hơn trong công tác quản lý bảo vệ rừng đã xuất hiện. Trong đó, đặc biệt đáng chú ý là các mô hình kinh tế gắn với môi trường rừng tự nhiên một cách hài hòa, bền vững, vừa bảo đảm được mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái, vừa đem lại lợi ích chính đáng cho các bên liên quan. 

 

Niềm tin bền bỉ

Trong những điển hình bảo vệ rừng, luôn có các nhân tố cộng đồng tích cực. Với đồng bào vùng cao, rừng không chỉ là nguồn sinh thủy, là lá phổi bảo vệ môi trường sống cho con người, mà rừng còn là không gian linh thiêng lưu giữ các phong tục tập quán, giá trị và bản sắc văn hóa nghìn năm.  

Bảo vệ rừng với ý thức tự giác luôn đạt kết quả tốt hơn cách giữ rừng theo mệnh lệnh hành chính. Ở Lâm Đồng, thương binh K’Ten ở thôn Ka Long, xã Hiệp An thuộc huyện Ðức Trọng được gọi là “người rừng”, vì đã hơn 30 năm sống chủ yếu trong rừng với mức lương “tượng trưng”, giữ trọn cam kết bảo vệ nguyên vẹn 32 hecta rừng, trong đó có quần thể Thông đỏ đặc biệt quý hiếm tại khu vực núi Voi. 

Tỉnh Đắk Lắk, ở xã Ea Tu ngoại thành Buôn Ma Thuột có 2 vạt rừng xanh tươi diện tích gần 3 hecta do cộng đồng 2 buôn K’Mrơng Prông A, K’Mrơng Prông B gìn giữ, và rừng đồi Cư H’Lăm đầy cổ thụ, rộng gần 19 hecta rợp mát một quãng đường dọc tỉnh lộ vào huyện Cư Mgar. Giao thông thuận lợi, nhưng không nhóm lâm tặc nào dám bén mảng phá rừng, vì truyền thuyết về sự linh thiêng của những vị thần trấn giữ đại ngàn nơi đây đã khiến mỗi người dân trong vùng đều thành tai mắt cảnh giác. 

Nếu không có cộng đồng người Mạ ở xã Đắk Som, huyện Đắk G’long nhận khoán bảo vệ rừng, thì kiểm lâm tỉnh Đắk Nông khó giữ mảng rừng quý còn lại của Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng. Bằng niềm tin rừng gắn liền sinh mệnh, đại họa sẽ giáng xuống nếu làng để mất rừng, cứ mỗi cây rừng bị chặt, làng phải hiến tế một con trâu làm lễ tạ tội, làng đã bảo vệ rừng nguyên vẹn giữa các dãy đồi trọc bao quanh.   

 

 

 

Tương tự, công đầu bảo vệ toàn vẹn “vương quốc Pơ mu” trên độ cao 1.500 mét thuộc về cộng đồng người Cơtu các xã Axan và Tr’hy, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam. Đồng bào ở đây gọi Pơ mu là Cây linh thiêng, tin đó là chỗ trú ngụ của thần linh, nơi hồn người về nương náu, không ai được phép chặt hạ nên thẳng thừng từ chối mọi cuộc ngã giá bán mua. 

No ấm dưới tán rừng

Chính thức triển khai trên cả nước từ đầu năm 2011, việc lập Quỹ và chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) là thành tựu nổi bật trong các chính sách lâm nghiệp. Tiền DVMTR thu chủ yếu từ các nhà máy thủy điện và các dự án công nghiệp đã trở thành nguồn tài chính ổn định, hỗ trợ hữu hiệu hoạt động QLBVR trên cả nước; giảm mạnh áp lực chi cho lâm nghiệp bằng ngân sách nhà nước. Năm 2019, Quỹ DVMTR thu được hơn 2.800 tỷ đồng, trả công QLBVR 6,3 triệu hecta, chiếm 43% tổng diện tích rừng toàn quốc. Ứng dụng công nghệ, tiền dịch vụ môi trường rừng được chuyển khoản nhanh chóng, đầy đủ, minh bạch càng khiến các chủ rừng phấn khởi làm tốt nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, vẫn cần có thêm nhiều sáng kiến, cách làm mới để giúp dân làm giàu được dưới tán rừng, chứ không chỉ chật vật đủ sống. Tiêu biểu như mô hình “cộng đồng bảo vệ rừng và phát triển sinh kế”, do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển vùng cao (CERDA) triển khai tại 2 tỉnh Thái Nguyên, Thanh Hóa, sau 5 năm ứng dụng đã rõ kết quả khả quan, xứng đáng nhân rộng. Gần 7.000 ha rừng “vô chủ” đã được giao quyền sử dụng 50 năm cho gần 5.500 hộ dân, sau những đợt tập huấn trang bị đầy đủ kiến thức, hỗ trợ vật tư, cây giống, hướng dẫn kỹ thuật phục hồi hệ sinh thái và cách làm kinh tế rừng bền vững. Độ che phủ đã được nâng lên, nhiều loài động thực vật hoang dã hồi sinh. Nhiều hộ đồng bào dân tộc Mông thay vì phá rừng để kiếm sống như trước, đã trở thành các chủ lâm trại có mức thu nhập cả trăm triệu đồng mỗi năm.

 

Nhà đầu tư lý tưởng

Là đơn vị tiên phong tổ chức dịch vụ du lịch dưới tán rừng, đã thành công với điểm hẹn “Làng Cù Lần” sau 9 năm đi vào hoạt động ở xã Lát, huyện Lạc Dương, mới đây Công ty TNHH GBQ đã được Bộ TNMT và lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng nhất trí cho thuê môi trường của 216 hecta rừng đặc dụng của VQG Bi Doup Núi Bà để thiết kế các tours du lịch sinh thái, dự kiến khai trương vào dịp lễ Quốc khánh 2020. Du khách sẽ có cơ hội tham quan khu vực “Cổng Trời”- nơi có quần thể Thông hai lá nghìn năm kỳ vĩ, tên khoa học là Pinus Krempfii, còn được gọi là “Sứ giả thời tiền sử”, do đã xuất hiện trên cao nguyên Langbiang từ hàng triệu năm về trước, cùng thời với loài khủng long.

Du khách trèo lên Cổng Trời ngắm Thông hai lá nghìn tuổi

Trao đổi với tôi, doanh nhân đồng thời là nhạc sĩ Văn Tuấn Anh, chủ công ty GBQ cho biết lâu nay GBQ trả lương tháng bình quân 8 triệu đồng/người cho 145 lao động biên chế, chưa kể hàng nghìn công lao động thời vụ mỗi năm, hơn 80% người bản địa. Năm 2019, Làng Cù Lần đón 580 nghìn du khách, riêng vé vào cổng 100 nghìn đồng/người, đóng góp được nhiều khoản thuế phí, trong đó có thuế DVMTR. Chuẩn bị nhân sự cho 8 cung đường du lịch Đại Ngàn, GBQ vừa nhận thêm 20 đôi vợ chồng trẻ người K’ho, giao nhà ở đủ tiện nghi, bảo đảm cho họ sống no ấm, yên tâm gắn bó dài lâu. 

Không gian văn hóa cồng chiêng giữa rừng được gìn giữ ở Làng Cù Lần

“Tôi nghĩ nước ta hoàn toàn có thể nhân rộng mô hình khai thác du lịch từ môi trường rừng, làm giàu cho địa phương nơi sở hữu cánh rừng đó. Chuẩn bị mở các tuyến du lịch xuyên rừng, cán bộ nhân viên của GBQ ngoài việc tuyệt đối không gây tổn hại tới môi trường rừng dưới bất kỳ hình thức nào, còn tham gia trồng dặm thêm rất nhiều thông và hoa dọc các lối đi. Du khách luôn được nhắc “Không lấy gì về từ rừng ngoài những tấm ảnh. Không để gì lại rừng ngoài những dấu chân”. Chúng tôi bảo đảm gìn giữ toàn vẹn môi trường 216 hecta rừng được giao, và nộp 2% tổng doanh thu cho tỉnh.”- Ông Văn Tuấn Anh khẳng định. 

Là vị lãnh đạo hiểu rõ tầm quan trọng, giá trị của rừng tự nhiên với ngành du lịch, tiến sĩ Phạm S-Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng xác nhận: “Tình yêu đại ngàn sâu sắc trong nhạc sĩ Văn Tuấn Anh không chỉ thể hiện qua nhiều ca khúc nổi tiếng do anh ấy sáng tác, mà còn được chứng minh qua nhiều việc anh ấy đã làm. Đây là nhà đầu tư lý tưởng đầu tiên được tỉnh Lâm Đồng chọn để triển khai mô hình khai thác du lịch trên môi trường rừng bền vững”. 

H.T.N.

One thought on “Ký sự 3 kỳ của Hoàng Thiên Nga- Chuyện về Rừng và Kiểm lâm

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s