Chỉ số Công lý 2015 – Hướng tới một nền tư pháp vì dân

UN – 15 thg 6 2016

image

Báo cáo “Chỉ số Công lý 2015 – Hướng tới một nền tư pháp vì dân” trình bày đánh giá tổng quan về việc đảm bảo tiếp cận công lý, công bằng và bình đẳng trong giải quyết tranh chấp và khiếu nại, cũng như quyền cơ bản của người dân dựa trên phỏng vấn 13,841 người dân được tiến hành ở 63 tỉnh thành của Việt Nam.

Một số kết luận và khuyến nghị, rút ra từ các dữ liệu và phân tích thực chứng của nghiên cứu Chỉ số Công lý 2015 được trình bày trong báo cáo, giúp định hướng các giải pháp chính sách và lập kế hoạch cho các hành động và cải cách ở trung ương cũng như các địa phương trong thời gian tới, hướng tới một nền tư pháp vì dân, xây dựng nhà nước pháp quyền, xã hội công bằng dân chủ. Báo cáo cũng gợi ý về việc sử dụng Chỉ số là công cụ theo dõi và đánh giá việc triển khai các chương trình hành động quốc gia nhằm hiện thực hóa cam kết của Việt Nam về thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững theo Chương trình nghị sự 2030.

***

Xin mời tài tài liệu tại đây

***

[Trích]

TÓM TẮT BÁO CÁO

Chỉ số Công lý công bố lần đầu năm 2013(1) và Chỉ số Công lý 2015 thể hiện trong báo cáo này là một trong những sáng kiến nhằm xây dựng một công cụ đo lường hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đảm bảo tiếp cận công lý, bình đẳng và bảo vệ quyền dựa trên phản hồi từ trải nghiệm và quan sát thực tiễn của người dân về hoạt động của hệ thống công quyền. Ba câu hỏi chính mà nghiên cứu đặt ra và tập trung giải quyết là:

1. Vai trò và hiệu quả của các thiết chế tư pháp trong việc tạo điều kiện tối thiểu cho tiếp cận công lý trong giải quyết tranh chấp dân sự và khiếu nại hành chính, bảo vệ quyền cơ bản theo Hiến pháp của người dân trên thực tế

2. Các thể chế hiện nay có là cơ sở hữu hiệu để đảm bảo thi hành pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền và tiến bộ xã hội

3. Các cơ hội để chính quyền trung ương và địa phương, các tổ chức hội đoàn và xã hội dân sự đóng góp vào cải thiện tình hình hiện tại theo hướng hành động, thay đổi và cải cách, dựa trên việc khắc phục và giải quyết các hạn chế và yếu kém theo phản hồi của người dân.

Trên cơ sở các yêu cầu nội dung này, nghiên cứu Chỉ số Công lý hướng tới hai mục tiêu: Một là đánh giá tổng quan trên toàn quốc về đảm bảo tiếp cận công lý, công bằng và bình đẳng trong giải quyết tranh chấp và khiếu nại, cũng như quyền cơ bản của người dân theo Hiến pháp; Hai là xây dựng một bộ chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp địa phương – cấp tỉnh thành – trong đảm bảo công lý và quyền cơ bản của người dân.

Mục tiêu chính của Chỉ số Công lý là:

• Cung cấp dữ liệu đáng tin cậy – tổng hợp từ ý kiến của người dân, nguồn thông tin khách quan và độc lập – tới Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội để phân tích, đánh giá và giám sát hoạt động cơ quan tư pháp trong bảo đảm tiếp cận công lý, bình đẳng và bảo vệ quyền của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế;

• Tạo điều kiện cho phân tích và so sánh tương đối về hiệu quả quản trị và thi hành pháp luật hướng tới xây dựng một nền tư pháp vì dân ở các địa phương;

• Cung cấp một công cụ giúp đánh giá tiến độ và tác động của cải cách tư pháp tới việc bảo đảm tiếp cận công lý và bảo vệ quyền trên thực tế; giúp cho việc xác định và đầu tư nguồn lực vào các mục tiêu ưu tiên, giúp cho việc theo dõi và đánh giá kết quả các chương trình cải cách.

 

Tổng quan cả nước, các phát hiện chính từ khảo sát cho thấy:
• Các cơ quan nhà nước ở địa phương giữ vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu và vướng mắc pháp lý của người dân. Thủ tục giải quyết tranh chấp không rõ ràng, thời gian thụ lý kéo dài và hiệu quả giải quyết còn thấp là các lý do chủ yếu làm người dân có tâm lý tự giải quyết hoặc chọn các phương pháp không chính thức để giải quyết tranh chấp, thay vì tiếp xúc với các thiết chế tư pháp cơ sở.

• Hiệu quả trợ giúp của cơ quan nhà nước địa phương về giải quyết vướng mắc pháp lý và khiếu nại của người dân còn thấp. Trợ giúp của luật sư và trợ giúp pháp lý được đánh giá cao hơn về hiệu quả so với trợ giúp của các cơ quan tư pháp địa phương.

• Việc tiếp cận tòa án còn nhiều hạn chế mà lý do chính là các quan ngại về chi phí, về thủ tục, và niềm tin vào sự công tâm của thẩm phán và cán bộ tòa án.

• Những cải thiện về sự đa dạng của nguồn thông tin đã giải thích cho những thay đổi tích cực về tiếp cận thông tin và mức hiểu biết pháp luật của người dân.

• So sánh với kết quả khảo sát 2012, không có nhiều thay đổi về việc bảo vệ quyền cơ bản của người dân trên thực tế. Có tiến bộ về tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin, tuy nhiên không thấy có chuyển biến về đảm bảo các quyền dân sự và tự do cá nhân như tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, biểu tình, tự do tôn giáo và tự do tín ngưỡng.

• Thực tế còn tồn tại bất bình đẳng giữa các nhóm xã hội. Người nghèo, người có học vấn thấp và người không có vị trí xã hội chịu nhiều rào cản xuất phát từ nguồn lực cá nhân và nguồn lực xã hội, vì vậy gặp nhiều hạn chế về tiếp cận thông tin, tiếp cận các thiết chế tư pháp cơ sở.

• Cán bộ nhà nước ở một số địa phương còn thái độ phân biệt đối xử với người có HIV và người đồng tính.

• Còn khoảng cách giữa phụ nữ và nam giới về tiếp cận công lý và bảo vệ quyền cơ bản trên thực tế. Tỷ lệ nữ không quan tâm tới tiếp cận thông tin và đặc biệt là thông tin pháp luật cao hơn nhiều so với nam. Mặt bằng chung về hiểu biết pháp luật của phụ nữ còn thấp hơn nam giới.

• Đánh giá của phụ nữ về đảm bảo quyền trên thực tế đa phần là thấp hơn so với tỷ lệ trả lời của nam giới. Phụ nữ cũng ít tham gia tiếp xúc cử tri hơn nam giới

• Quyền được tham gia của người dân cần được đảm bảo tốt hơn ở cơ sở. Người dân có nhu cầu được cung cấp thông tin cập nhật về chính sách và pháp luật kịp thời và đầy đủ, ủng hộ việc công khai và minh bạch hơn về ngân sách và chi tiêu của chính quyền địa phương

• Các nỗ lực tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý xã hội cần song hành với đảm bảo trách nhiệm giải trình từ chính quyền địa phương. Trên thực tế, việc xử lý cán bộ công chức làm sai ở cấp cơ sở chưa thực sự công khai và minh bạch.

• Hiểu biết của người dân về Quốc hội và vai trò của đại biểu Quốc hội còn hạn chế. Người dân quan tâm và theo dõi hoạt động và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp xã và HĐND cấp tỉnh hơn là quan tâm tới hoạt động và nghị quyết của HĐND cấp huyện.

 

Từ những phát hiện chính nêu trên, một số khuyến nghị chính sách được đề cập trong báo cáo, cụ thể là:

• Công khai, minh bạch và hiệu quả hoạt động của các thiết chế tư pháp ở cơ sở là tiền đề xây dựng và củng cố niềm tin vào hệ thống tư pháp địa phương. Cần có các chính sách cụ thể tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin, tiếp cận các dịch vụ bổ trợ tư pháp thân thiện và hiệu quả, bảo đảm công bằng và bình đẳng cho các nhóm yếu thế trong xã hội.

• Song song với việc triển khai các luật mới về tố tụng và tổ chức tòa án, ngành tòa án và các cơ quan tư pháp cần tiếp tục đổi mới theo hướng bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực, sự công tâm và liêm chính của bộ máy tư pháp.

• Cần khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ luật sư và trợ giúp pháp lý để hỗ trợ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân trong việc giải quyết tranh chấp cũng như tiếp cận các nguồn thông tin pháp luật có chuyên môn và chất lượng.

• Chuyển trọng tâm từ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật sang hoàn thiện và tổ chức thực thi pháp luật từ trung ương tới các địa phương.

• Các quyền cơ bản của công dân và đổi mới hoạt động của các cơ quan nhà nước theo Hiến pháp mới 2013 cần được tiếp tục củng cố và bảo vệ thông qua việc ban hành và thực thi các quy phạm pháp luật cụ thể. Các nội dung về bảo vệ quyền con người theo các cam kết quốc tế của Việt nam cần được bảo đảm thực thi nghiêm túc và có trách nhiệm.

• Sự tham gia của người dân vào quản trị địa phương và triển khai dân chủ cơ sở trên mọi mặt đời sống xã hội cần được đẩy mạnh thông qua việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở(2)

• Nâng cao hiệu quả thể chế dân chủ đại diện thông qua chuyên nghiệp hóa hoạt động của các cơ quan dân cử, cụ thể là đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Tạo điều kiện để người dân tham gia tiếp xúc cử tri một cách thực chất.

• Các chiến lược phát triển chỉ đơn thuần dựa trên các mục tiêu phát triển kinh tế sẽ là không trọn vẹn. Để triển khai các Mục tiêu Phát triển Bền vững và chính sách tăng trưởng bao trùm, cải cách tư pháp là một nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, cụ thể là đổi mới hoạt động các cơ quan tư pháp hướng tới xây dựng một nền tư pháp vì dân, đảm bảo trên thực tế các quyền và tự do cá nhân theo Hiến pháp.

Tổng quan về các tỉnh thành theo khảo sát từ thực tiễn tiếp cận công lý, hiệu quả hoạt động của các thiết chế tư pháp ở cơ sở, sự tham gia của người dân vào quản trị địa phương và vai trò của các cơ quan dân cử, hy vọng sẽ có ích để các cơ quan nhà nước xác định và triển khai các giải pháp hiệu quả, đồng bộ trong thời gian tới. Một số ứng dụng của bộ chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động tư pháp ở cơ sở cụ thể là:
• Chỉ số Công lý cung cấp thông tin so sánh hiệu quả hoạt động của các tỉnh thành trong cả nước về công tác tư pháp ở cơ sở, hướng tới bảo đảm công bằng, bình đẳng và bảo vệ quyền cơ bản của người dân.

• Chỉ số Công lý cung cấp thông tin có thể kiểm chứng, có độ tin cậy cao, và phân tích chuyên sâu về quản trị địa phương và đặc biệt là công tác tư pháp địa phương ở Việt Nam. Chỉ số Công lý có thể là một kim chỉ nam, giúp nhận diện các tiến bộ, đồng thời các hạn chế và yếu kém cần tiếp tục cải thiện ở cấp cơ sở.

• Một số chỉ số thành phần và dữ liệu của Chỉ số Công lý là tương thích với các chỉ số của các Mục tiêu Phát triển Bền vững (MTPTBV). Kết quả Chỉ số Công lý 2015 có thể sử dụng như thông tin cơ sở cho việc theo dõi và đánh giá thực hiện một số mục tiêu cụ thể của các MTPTBV 5, 10 và 16. Kết quả của nghiên cứu Chỉ số Công lý cũng cung cấp thêm thông tin cho các tổ chức xã hội và người dân tham gia góp phần xây dựng một nền tư pháp vì dân, mang lại công bằng, bình đẳng, và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.

 

1 Xem tại http://chisocongly.vn/; http://www.vn.undp.org/ content/vietnam/vi/home/library/democratic_governance/ justice_index_report/.

2 Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, có hiệu lực từ 1/07/2007.

[/Hết trích]

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s