Ký: Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

nhangheo1

Ký: Phạm Nga

 

Ta buồn bã khiêng mùa thu xuống núi
Mưa phùn bay nhè nhẹ ở ngoài trời
Ta cóng lạnh nhìn em cười nụ nhỏ
Đẹp vô cùng nhưng ngắn ngủi, tan, vơi…

THƯỢNG THUẬT
(Khiêng Mùa Thu Xuống Núi – tạp chí Văn, 1972)

1.
Tôi và Châu kết bạn từ hơn 50 năm trước ở Sài Gòn. Hồi đó, tôi đang học đệ nhị C Pétrus Ký thì bạn trong lớp rủ vô một thi văn đoàn học trò – nhóm ‘Văn Nghệ Tim’. Tôi sớm kết thân với anh chàng nhóm phó đặc trách thơ – Ngô Văn Châu, người nghĩ ra tên nhóm. Trong giới thơ văn học trò lúc này rất phổ biến cái kiểu chọn bút hiệu khá cải lương, như trong nhóm tôi thì Châu xưng Hà Thy Châu, tôi xưng Dzũng Thy do khoái cái âm ‘Z’ trúc trắc, rồi Hà Mộng Thủy, Đỗ Lệ, Trần Thiện Ngã, Sa Miên…

Châu nghỉ học sớm, nhưng bù lại anh sớm có thơ và truyện ngắn đăng ở nhiều nhật báo, tạp chí văn hóa – nghệ thuật như Văn, Tự Thức, Thời Tập, Thời Nay, Tuổi Ngọc…, trong đó tôi nhớ nhất là bài thơ Ta Buồn Bã Khiêng Mùa Thu Xuống Núi và truyện Người Tình Ngực Lép mà anh đều ký là Thượng Thuật, đăng trên Văn, tạp chí văn học – nghệ thuật danh giá nhất miền Nam thời xưa. Châu còn cặm cụi làm một cuốn bìa đen cỡ thật lớn để cắt dán những bài thơ, văn của nhóm viên Văn Nghệ Tim được đăng trên các báo…

Đến tuổi lính thì Châu trở về quê, đăng vô cán bộ Xây dựng Nông thôn ở Trung tâm Chí Linh, Vũng Tàu. Chẳng bao lâu, anh làm biên tập viên trong tờ Nước Ta, cơ quan ngôn luận của lực lượng “áo đen”.

Châu vừa ham mê đá banh đủ để viết bài tường thuật bóng đá, vừa mê mãi làm thơ lục bát đủ để gởi cho nhiều tờ báo lớn, nhỏ cũng như để tán gái. Đúng ra, máu me văn nghệ lai láng cỡ nào cũng không đủ tạo cho Châu vẻ phong nhã, hào hoa trước mắt con gái, do nhà thơ vừa lùn, tướng thô, y như một anh thâu tiền chỗ ngoài chợ, vừa thường xuyên túng bấn, tính mời bạn gái ly nước mía cũng phải đắn đo… Vậy mà không riêng gì vài cô gái trẻ, nhiều bà già, ông già cũng dễ cảm mến Châu vì gã dân Nam bộ thuần gốc này rất cởi mở, vui vẻ, lúc nào cũng ăn nói bải buôi, ân cần với bất cứ ai, bộc lộ tánh chất phác đến buồn cười. “Để anh Châu nói em nghe nè…”, lúc nào cũng cái giọng ngọt lịm ấy mà lấy thêm tình cảm của các cô ái mộ nhà thơ, hay lối xưng ngộ nghĩnh là hô lên đầy đủ tên họ, như “Bữa nào Ngô Văn Châu với Phạm Văn Khả làm tiết canh, lòng heo nhe Phạm Văn Khả?”, do Châu đề xướng trong giới bạn bè “đồ đen” đã khiến nhiều anh rất khoái nói chuyện với Châu.

Còn tôi, từng phải nhiều lần đành cười trừ, bỏ qua về chuyện có chút nhuận bút nào từ bài tôi viết cho tờ Nước Ta thì coi như tiền… “chiến sĩ trận vong” – đúng hơn là “chận vong”. Hỏi thì Châu cười hề hề vì sau khi ký lãnh dùm tôi tại tòa soạn, cậu mình tỉnh bơ ăn “chận”, làm tiêu “vong” hết số nhuận bút, chỉ để trả những chầu café thuốc lá cho bạn bè bất kể có mặt tôi hay không. Do tôi rủ vô làm thân hữu, Châu gởi thơ tình đăng trên tập san Nghiên Cứu Triết Học của nhóm Triết ở đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi nhóm ra tờ tạp chí văn học – nghệ thuật ‘Tự Thức’, Châu vừa đươc đăng thử vài bài thơ, chuẩn bị gởi tiếp thì xảy tới biến cố 30-4-75.

2.
Nhà thơ Thượng Thuật, con người lạc quan, chất phác ấy khó mà còn cười nói vô tư sau ngày 30/4. Học tập cải tạo xong, anh rời Vũng Tàu rút về xã An Ngãi, thuộc huyện Long Đất, Bà Rịa, xin một ít đất của người bà con đề làm rẫy kiếm sống. Tôi thường chọc: “Ở chế độ mới, cấp cán bộ rất được trọng dụng, nể nang. Ở chế độ cũ mày cũng làm cán bộ chớ bộ, tiếc cái lại là cán bộ bình định nông thôn. Mà bọn ‘chiêu hồi’, ‘bình định’ như mày thì cũng ‘tội lớn với nhân dân’, khác gì ngụy quân tụi tao. Thôi về quê cắm câu là phải Châu ơi!”.

Muốn đến vạt rẫy khô cằn, nghèo mạt ấy thì từ phải quốc lộ đi Long Hải vượt qua khoảng 3 cây số đường mòn quanh co đi về phía chân núi Dinh Cố, khu rừng thưa rất vắng người, cây dại um tùm. Tôi nhớ cứ mỗi bận gò lưng đạp xe vô rẫy Châu, cứ thầm nghĩ giờ mà xui xẻo bị rắn cắn dọc đường thì chắc chết, vì hoàn cảnh rất rất ngặt nghèo là phải lết đi ít nhất nửa cây số đường mòn mới mong thấy được một căn chòi, căn nhà lá nào đó.

Thấm thoát mấy chục năm trôi qua, nơi nhà thơ náu thân vẫn là nhà tranh, vách đất, vẫn đèn dầu, nước giếng và cây trái còi cọc ngoài rẫy – nghĩa là gia đình Châu vẫn nghèo, nghèo suốt. Thỉnh thoảng, ngặt nghèo quá, có khi Châu phải lén cắt cỏ tranh “lộn” bên đất người bà con để bán kiếm tiền đong gạo. Cho nên mỗi lần từ Sài Gòn xuống Bà Rịa chơi, phải sơ ý lắm tôi mới quên mang theo thứ quà cáp thực tế – đồ ăn, nhưng thứ ít thực tế hơn là sách báo, tạp chí thì bạn tôi cũng rất mong mỏi. Đặc biệt khi có ý định làm món gì đó ăn, nhậu với Châu, thường là tôi lễ mễ mang theo luôn đủ thứ, từ bột ngọt cho đến hành ngò.

Vậy mà trong những năm 80 – 90, hễ gặp lúc phiền muộn, bất đắc chí là từ Sài Gòn, tôi mò xuống rẫy Châu ở ít bữa. Cứ gọi là đi hoang, đi bụi, hay đi thiền gì cũng đúng, tôi muốn tìm đến một khung cảnh hoang sơ, vắng lặng, không điện, không nước máy, không nhà xí…

Chúng tôi thường uống ngoài vườn. Lúc nào cũng là manh chiếu rách trải dưới tàng cây mít, mảng cầu điếc nào đó. Thứ rượu thuốc rẻ mạt mà bình toong nhà binh đựng được tới gần 5 xị, bọn tôi ‘cưa’ đôi với vài miếng cóc, ổi, khấm khá hơn thì có con khô đuối, khô hố hay một con rắn vô phước nào đó dám bò ngang lưỡi cuốc của Châu ngoài rẫy. Tôi thường tựa lưng vào gốc cây, uể oải đưa tầm mắt ra xa, vượt khỏi khu vườn còi cọc của Châu, nhìn về núi Dinh Cố. Bên dưới vài đám mây trắng lóa bởi nắng trời, sườn núi xanh rờn màu cây lá, lác đác vài chỗ chợt sẫm tối bởi bóng mây.

Chè chén kiểu “phong lưu hàn sĩ” mạt hạng như thế mả Châu cũng làm được thơ tình, thơ đời, tôi cũng viết được vài tản văn, tạp bút từ những cảm hứng ngông ngạo, hí lộng cuộc đời thời ấy. Rồi anh Hai Lúa đất An Ngãi làm gì có tiền để lên thành phố, tôi lại đem những bài lục bát của bạn về Sài Gòn và sau đó, thấy đăng trên mấy tờ báo tuổi trẻ, học trò, tờ Áo Trắng chẳng hạn.

3.
Hồi năm 1982, gia đình bên vợ tôi ngụ bên Vũng Tàu, do trong nhà có mấy anh em vượt biên ở Rạch Dừa nên bị chính quyến buộc phải “hồi hương, lập nghiệp” tức phải chuyển về Bà Rịa – quê ngoại của vợ tôi. Từ đó, tôi về Bà Rịa thường xuyên hơn, nhất là gặp lúc Châu tạm bỏ cái rẫy còi cọc ở An Ngãi để đi đẩy xe ba bánh chở rau, đậu ở chợ Bà Rịa kiếm sống, sau vài tháng ốm nhách, đen thui khi làm lò than bên Châu Pha.

Cũng lúc này, tôi làm nhân viên soát vé ở rạp xi nê Văn Cầm, Phú Nhuận. Biết tôi là sĩ quan chế độ cũ học tập cải tạo về, một cô thuyết minh phim ở rạp thố lộ mình là con vị chánh án tỉnh Phước Tuy cũ và ông cũng vừa ‘đi học’ bên ngụy quyền về. Khi đó, nghỉ chủ nhật là tôi dông liền về Bà Rịa, vô đất rẫy ở Long Đất, báo tin về vị chánh án cho bác Sáu Tí – ba Châu – vì ngẫu nhiên bác vốn là một cảnh sát viên áo trắng gác tại toà án Bà Rịa, tức tỉnh Phước Tuy cũ.

Cái tin tôi tình cờ làm việc cùng chỗ với con gái vị chánh án đã khiến bác Sáu hết sức vui. Lập tức bác bắt Châu chạy đi lấy thêm mấy xị nữa rồi truy cứu tiếp nơi tôi những thông tin quá nghèo nàn về vị xếp cũ. Có gì đâu, ông cảnh sát già đang sống lại cảm giác vinh quang của cái hồi được chuyển công tác, từ gác chợ về gác tòa án tỉnh. Sau bao nhiêu đổi thay, mất mát từ ngày 30-4, ông già thầm lặng đóng cửa với hiện tại, tiếp tục sống tự hào ngấm ngầm về một chút quá khứ ‘làm công chức’ một thời mà bà con ở quê thường gọi một cách kính trọng là ‘mần việc’. Thật may mắn, nếu cần một xác minh hùng hồn cho mãng quá trình ‘mần việc’ của bác Sáu thì vị cấp trên cao nhất vẫn còn đó. Bác Sáu bắt tôi vô một ly đầy rồi trợn mắt quả quyết: “Bây giờ mà gặp thì chắc chắn ông Đẫu nhớ tao liền hà!”.

“Để bữa nào lên Sàigòn một chuyến, con dẫn thằng Châu với Sáu tới nhà ông Đẫu thăm ổng…”. Người già ở miền Nam có cái tật rất dễ thương là khi gần gũi, ân cần, họ xưng trõng trơ với con cháu bằng thứ bậc tư, năm, sáu, bảy… gì đó, lướt nhẹ tưng qua vai vế chú, bác, cậu, dượng… vốn ấn định người trên kẻ dưới, để giữa người già và bọn trai trẻ thắm đẫm hơn nữa cái tình trìu mến, tin cậy. Vào lúc ấy thì nói nào ngay, cái thằng tôi khố-rách-áo-ôm chẳng có gì đáng cho bác Sáu bấu lấy mà cậy nhờ. Chỉ có chuyện rất nhỏ nhoi là tôi sẵn sàng ra đón bác ở bến xe miền Đông để đưa bác đến nhà người mà bác muốn gặp lại với tất cả lòng kính mến. Trở về Sàigòn, tôi lập tức kể chuyện về bác Sáu cùng niềm mong mỏi của bác với cô con gái vị chánh án. Rất thuận lợi vì liền sau đó, vị xếp cũ của bác Sáu đã nhắn qua con gái mình rằng ông rất vui khi được gặp lại một thuộc cấp còn nhớ tới ông.

Rồi cuộc sống khó khăn đã xô dạt, nhấn chìm đâu mất cuộc hẹn gặp giữa hai ông già. Vị chánh án qua đời đang khi trông ngóng hồ sơ H.O. nghe nói còn nằm đâu đó bên Thái Lan. Biết được tin buồn này vào lúc đã nghỉ việc tại rạp chiếu bóng, tôi lại phải bám chặt lấy Sàigòn để kiếm sống nên rất chậm trễ trong bổn phận đưa tin về Bà Rịa. Rồi bác Sáu đau ốm liên miên, lặng lẽ qua đời trong niềm tuyệt vọng không còn cơ hội lên Sàigòn, dù chỉ còn có thể đến viếng mộ phần cấp trên của mình như một cách vớt vát cho một ước nguyện nhỏ bé cuối đời bác. Đã có gì đó thúc thủ, cam chịu, rất số phận về cái chết của hai người già – hai món đồ chơi cũ mèm mà bàn tay vô tâm của Định Mạng đã lạnh lùng vứt vào xọt rác Hư Vô.

4.
Cuộc sống của Châu chỉ chợt đổi khác khi run rủi, uỷ ban xã An Ngãi cần thư ký đánh máy. Tuyển được một nhân viên gần như là người có chữ nghĩa nhất xã, mấy cán bộ giao luôn con dấu của ủy ban cho Châu giữ. Anh có thêm hai nghề mới, một là làm đơn mướn giá “bèo” cho bà con nông dân, hai là nghề … nhậu. Nhậu cả giấc trưa lẫn giấc chiều tối, nhậu lòng vòng ở gần ủy ban xã với tay cán bộ nấu rượu tại nhà hay nhậu với anh nông dân ở chỗ xa mút chỉ cà tha, cần làm đơn xin tách thửa nhưng chỉ trả bằng chầu nhậu. Nhậu đến té bờ té bụi nhưng nhà thơ /thư ký xã đã có hoàn cảnh, cơ hội để phất lên.

Những lá đơn liên quan đến đất đai, như: xin lại đất tập đoàn, xin quyền sử dụng đất, xin tách thửa, xin thừa kế.v.v…, luôn luôn đem lại lợi lộc cho cán bộ ký giấy và chút cháo cho thư ký xã làm giấy. Hơn thế, nhờ thân cận với cán bộ, vạt đất 200m2 do người bà con cho ngày nào mà Châu cùng cha mẹ già đã dần hồi khai khẩn, mở rộng thành hơn 2000m2, đã được sớm sủa cấp giấy đất, thuộc diện “tự khai khẩn, phát hoang từ đất rừng”, ông chủ đất Châu chỉ tốn mỗi một chầu nhậu thịnh soạn đãi cán bộ. Lô đất nằm ngay bên con đường nhựa mới mở theo qui hoạch, thay thế cho con đường mòn xưa cũ. Có điện, có đường nhựa, xã An Ngãi đươc treo bảng là khu du lịch – thắng cảnh tôn giáo với chùa Thiên Thai, chùa Ngũ Đế… và đặc biệt một ngôi chùa mới tinh, nguy nga đồ sộ, do một Việt kiều bỏ tiền ra xây cất, rất gần rẫy của Châu. Khách du lịch đi chơi biển Long Hải ít khi quên ghé khu vực này để tham quan, hành hương. Xóm làng đông vui hơn, nhưng vui nhất là giá đất lên vùn vụt.

Và… nhà thơ lấy vợ. Chuyện anh chọn vợ là người Thiên Chúa giáo đã bị bà mẹ và các cô em gái sùng tín đạo Phật phản đối kịch liệt. Rốt cuộc, vì Châu nắm toàn bộ kinh tế gia đình nên từ việc cưới hỏi tại nhà thờ cho đến việc chú rễ – đã 55 tuổi – học giáo lý để theo đạo đều suông sẻ, vui vẻ.

Vậy mà, trong vòng chỉ hơn một năm không gặp nhau, tôi đã sững sờ khi vợ Châu báo cho biết mới đưa chồng lên Sài Gòn, vô bịnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Xơ gan và loét bao tử – những bệnh không mới lạ, độc đáo gì đối với những bợm nhậu. Vợ Châu cho biết, cả năm rồi anh thường cảm thấy khó chịu, đau râm rang ở bao tử. Nhiều khi đi cầu ra phân đen như dầu hắc. Thôi rồi, y học gọi đó là xuất huyết nội, máu đã rỉ rả chảy từ vết loét tự hồi nào! Xuất huyết bên trong khiến người ớn lạnh và đổ mồ hôi thì Châu cho đó là trúng mưa, nóng lạnh. Khi vợ con dìu ra khỏi nhà cầu, thấy phân đen thì Châu nói đại rằng do chiều hôm qua nhậu tiết canh vịt hay ăn cháo huyết. Sau khi uống bậy mấy viên thuốc cảm, thuốc đau bụng hay mấy gói thuốc Nam cho dễ tiêu hóa, anh hể hả nói “ợ một cái là khỏe!” rồi nhậu tiếp! Đến lúc quá đau đớn, Châu mới chịu mò ra trạm y tế xã, rồi trung tâm y tế huyện. Bác sĩ ở đây nói đích danh bệnh loét bao tử, yêu cầu bệnh nhân phải bỏ rượu và kiêng mấy thức ăn cay-chua-cứng. Châu bắt đầu uống thuốc trị loét nhưng quá khó kiêng cữ. Ngày nào mà không ‘đụng’ với mấy xếp và dân nhờ làm đơn, nghĩa là tránh rượu thì gặp bia và mồi nhậu phải cay, chua thì nhậu mới bắt. Cuối cùng là sau một trận ói có máu lẫn vào những sợi bún, Châu nằm liệt…

Nhìn Châu ốm o, già háp, hôn mê thiêm thiếp, truyền nước biển rồi truyền máu, tôi hiểu bạn mình đã quị ngã thật sự lần sau cuối chứ không phải như những lần trước, chỉ là quá xỉn mà lủi xe xuống mương, nằm đo đất cùng cái triết lý “trời kêu ai nấy dạ!”. Học hết đệ nhị ban C, cộng thêm tánh ham đọc sách báo, tạp chí đủ loại, có thể cũng tạm đủ cho bạn tôi hiểu biết tối thiểu về các bệnh tật đe dọa dân nhậu. Nhưng phải chăng do nghèo khố lâu năm cùng tâm lý sống biết-ngày-nào-hay-ngày-nấy cố hữu đã khiến nhà thơ mất ý thức về việc chăm sóc bản thân?

Bác sĩ lắc đầu, ký giấy cho về, Châu được gia đình đưa về quê nhà Bà Rịa. Nhà thơ tắt nghỉ chính trên miếng đất rẫy của mình.

5.
Một điều rất đáng tôn quý, Châu bạn tôi – gã áo rách từng cắm cúi làm thơ tình trên rẫy trồng khoai mì ngắn ngày cứu đói, từng gò lưng đẩy xe ba bánh chở đồ hàng rẫy ngoài chợ, khi từ bỏ cõi tạm này cũng kịp để lại nhiều bài thơ ngọt ngào cảm xúc cho thế nhân cùng chút ít của cải, tức miếng đất rừng tự khai khẩn cho vợ con, cho mẹ cùng các em mình.

Mới đây, tình cờ nhận ra nhau trên Facebook, cậu em út của Châu đã gởi cho tôi vài tấm ảnh đen trắng, vàng ố của bọn tôi chụp chung thời còn sống nghèo, thiếu, rách – và ốm nhách – ở đất Bà Rịa, trong đó có cảnh đất rẫy An Ngãi. Châu được chôn chính trên trong mảnh đất cằn khô, quạnh hiu ấy, cạnh phần mộ bác Sáu Tí, gần gốc cây mít mà trong một thời cùng khổ, bọn chúng tôi đã từng lãng đãng chia xẽ những xị rượu bất đắc chí, ngông ngạo đàm luận thơ văn…

PHẠM NGA ghi

Bài của Phạm Nga:
Lãng đãng với cà phê và nhạc
Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

 

6 thoughts on “Ký: Nhớ Bạn Làm Thơ Từ Đất Rẫy Quê Nghèo

  1. Câu chuyện kể về cuộc đời một người bạn thơ của anh nhưng câu chuyện cũng giúp em hình dung rõ hơn những phận người, những lớp cha anh sống thời VNCH trước và sau 1975.

    Em cám ơn anh Nga đã chia sẻ.

    Số lượt thích

  2. Con chào chú Nga con là con của ba Ngô Văn Châu. Con tên là Ngô Đỗ Khôi Nguyên con của ba Châu. Hôm nay con đọc được bài viết của chú về ba của con, con cũng đọc bài viết cho mẹ của con và mẹ con cũng đã kể về chú cho con. Con xin cám ơn tình cảm chân thành của chú về người bạn già quá cố của chú. Con rất cảm động và đặc biệt là mẹ con khi nghe xong bài viết này đã khóc rất nhiều. Và ước gì được gặp chú, mẹ con đang rất muốn gặp chú và các nhà thơ bạn của ba khác nữa. Và cuối cùng thì con cũng lại một lần cám ơn chú về tình cảm bạn bè của chú với ba con, con chúc chú có một sức khỏe dồi dào và gia đình hạnh phúc. Con Nguyên và mẹ Nhạt xin cám ơn và thân chào chú.

    Số lượt thích

    1. Nguyên mến, chú lăng người, “đứng hình” khi nhận được những dòng phản hồi của con – con của Châu-bạn-già-thân-thương quá cố. Không ngờ run rủi mà con và chị Nhạt cũng đọc được bài viết này… Chú vẫn có giữ 1 ảnh của 2 mẹ con chụp ở chợ Bà Rịa. Dịp nào chú và cô xuống đó, mong là có duyên để mình gặp nhau. Chúc 2 mẹ con sức khỏe và may mắn, Khôi Nguyên nhé. (Chú Phạm Nga)

      Số lượt thích

  3. Con mong là vậy.Chú ơi mẹ con muốn xin số điện thoại của chú để tiện liên lạc vì ngày 26/6 này con và mẹ lên trên Sài Gòn có việc và con cũng tìm thấy quán caffe Văn Khoa, mà không biết quán còn bán nữa không để mà tới đó. Mẹ con thấy chú trả lời lại thì rất vui và cũng đang ao ước tới ngày đó có thể gặp chú ở Sài Gòn và các bạn cũ của ba.
    Mẹ con mong là gặp được mọi người. Chú cũng có thể liên hệ với mẹ con qua số điện thoại: 0933524470 này. Con thân chào chú. Khôi Nguyên.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s