“Tiếng Việt từ TK 17: các truyền thống tang chế” (phần 52)

 

     (1) Nguyễn Cung Thông

Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa.

Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh (sđd) và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển/Hội Khai Trí Tiến Đức 1931/1954), TNNL (Thiên Nam Ngữ Lục) …v.v… Kí còn viết là ký (tên người, tên sách), kị – kỵ và trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt cổ hay Hán cổ).  

Trong cuộc đời người, không có một sự kiện gì mà có thể ảnh hưởng đến 3 (ba) năm liên tục, thay đổi hầu như tất cả các hoạt động thường ngày, như việc cha mẹ qua đời. Ngay cả sinh nhật, dựng vợ gả chồng cũng không đòi hỏi nhiều thay đổi/thời gian và cuộc sống như vậy, td. theo như truyền thống cư tang thì phải để tang suốt 3 năm cho cha hay mẹ. Do đó, ta có thể nói việc tang chế là một sự kiện quan trọng nhất trong đời người Việt Nam theo truyền thống, đặc biệt còn mang dấu ấn của đạo hiếu/Nho giáo và tôn giáo như đạo Phật chẳng hạn.

Vấn đề trở nên cực kì phức tạp khi ảnh hưởng của Đạo giáo, Khổng giáo và Phật giáo đan xen lẫn nhau cùng với tín ngưỡng của bản địa truyền lại từ ngàn xưa. Trong tài liệu Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 đến 1646, LM de Rhodes cũng từng ghi nhận – qua bản dịch bằng tiếng Pháp của LM Henri Albi dòng Tên cùng thời – rằng ‘ … Trên quả đất có người ở này, không có một dân tộc nào kính trọng và tôn sùng người qua đời bằng vương quốc An Nam …’. LM G. F. de Marini cũng nhận xét (1663, sđd) khá tinh tế rằng – tạm dịch/NCT: ‘ … Không cái gì mà nước này sợ bằng sự chết, vậy mà không có lễ hội nào long trọng bằng việc tổ chức một đám tang, lúc mà người ta thể hiện ân nghĩa với người quá cố và bạn bè … Vì người ta không sợ hành hạ bởi người sống so với người đã chết, vì mức đau khổ do người sống gây ra không so bì được với những gì người chết có thể làm được. Thành ra, đám tang của một người luôn luôn hao tốn nhiều hơn so với số tiền bỏ ra xây nhà và bảo trì nhà này cho người đó khi còn sống“.

Phần này tập trung vào các thông tin ghi nhận trong từ điển VBL và các tài liệu dùng chữ quốc ngữ từ kỳ phôi thai. Dựa vào các tài liệu như Thọ Mai Gia Lễ, của Hồ Sỹ Tân (1690-170) liên hệ sâu xa đến Chu Công Gia Lễ, khai triển từ Hồ Thương Thư Gia Lễ của danh thần Hồ Sỹ Dương (1621-1681, ông nội của Hồ Sỹ Tân). Các tang lễ theo truyền thống rất phức tạp và khác nhau tùy theo gia đình hay địa phương và dùng nhiều từ Hán Việt. Dựa vào các bản Thọ Mai Gia Lễ được chép lại, tài liệu vào đầu TK 20 như Việt Nam Phong Tục (Phan Kế Bính) và “Cô Mai – Scènes de la vie annamite” chương XIV – tác giả Georges Seiler (bút danh của nhà Hán học Georges Cordier). Đặc biệt là cuốn “A Description of the kingdom of Tonqueen” của tác giả/thương gia Samuel Baron (khoảng 1685): ông có cha là người Hà Lan và mẹ là người Kẻ Chợ (Thăng Long) và từng sống ở Đàng Ngoài nên các quan sát/hình minh họa và ghi chép của ông rất đáng quan tâm. Tài liệu bằng tiếng Pháp “Le rituel funéraire des Annamites: Étude d’ethnographie religieuse” của Dumoutier (1904) ghi rất chi tiết các tục lệ trong đám tang ở Bắc Kỳ (1904): giải thích các kinh kệ đọc bằng tiếng Việt, Hán và có khi xen lẫn tiếng Phạn; ngoài ra còn một chương về các loại phù chú và ý nghĩa của chúng với nhiều hình vẽ minh họa ở phần cuối sách.

Đại khái một đám tang truyền thống có các lễ như sau: 1) mộc dục (tắm gội người chết) 2) khâm liệm (quấn vải) gồm tiểu liệm (vải bao người chết, bọc trong) và đại liệm (bọc ngoài) 3) phạn hàm (ngậm hàm) 4) hạ tịch (đặt trên chiếu) 5) chiêu hồn/phục hồn 6) nhập quan 7) thành phục (trang phục tang lễ tùy theo liên hệ huyết thống) 7) chiêu tịch diện (lễ cúng cơm chiêu/buối sáng, tịch/buổi tối) 8) thổi kèn giải (phường bát âm) 9) cầu siêu 10) phạt mộc (dùng dao chém/gõ vào quan tài) 11) di quan/động quan/chuyển cữu 12) nghi trượng : thể kỳ, minh tinh, hương án, thực án, nhà táng, đồ mã …  cùng đưa đi đường khi chôn cất 13) hạ huyệt/hạ khoáng gồm có cúng thổ thần sau khi xem phong thủy (địa lí), lễ đắp mồ, lễ đốt mã … 14 ) ngu tế gồm có sơ ngu (cúng sau 1 ngày), tái ngu (cúng ngày thứ 2) và tam ngu (cúng vào ngày thứ 3) 15) tam chiêu (nghi lễ sau 3 ngày) 16) tuần đàn/tuần thất (nghi lễ sau 7 ngày/1 tuần) 17) chung thất (nghi lễ sau 49 ngày) 18) tốt khốc (tốt là thôi/hết, nghi lễ sau 100 ngày) 19) tiểu tường (giỗ đầu sau 1 năm) 20) đại tường (giỗ sau 2 năm) 21) đàm tế (bỏ hết tang phục trở lại bình thường) gồm có lễ xả tang (mãn tang) … 22) cải táng (sang cát/bốc mộ) thường sau 3 hay 5 năm …v.v…

Như vậy là có ít nhất 22 nghi lễ chính mà người viết (NCT) đã ghi nhận được, trong đó không kể đến các nghi lễ liên hệ khác như a) khấn vái trong lúc cầu hồn, nhập quan … b) đốt mã (trong khi cúng tế ở nhà và khi hạ huyệt ở ngoài) c) hồn bạch để trên bàn thờ (để thu lấy hồn người chết) d) các loại áo tang và thời gian mặc và để tang – thường có năm bậc (ngũ phục) như trảm thôi (cho đại tang 3 năm), tư thôi (cho tang 1 năm), đại công (cho tang 9 tháng), tiểu công (cho tang 5 tháng), ti ma (cho tang 3 tháng) e) xem ngày/xem tuổi khi nhập quan hay hạ huyệt (td. tránh trùng tang hay điềm xấu) f) tìm địa điểm phương hướng (phong thủy) để đặt quan tài ở nhà hay khi chôn g) các bài văn tế/điếu văn/truy điệu cho các giai đoạn trong tang lễ; cáo đạo lộ (trước khi di quan) h) các điều kiêng kỵ như cha mẹ không đi đám ma con cái, người mang thai không đi đám tang, nhốt mèo (đen) lại để tránh điềm xấu … i) báo tang (cáo phó) j) đặt thụy hiệu hay tên hèm (tên đặt cho người đã mất), đặt tên cúng cơm – đặt/vẽ bùa để dán, quy trình soạn minh tinh, thể kỳ, bài vị hương án (thường dùng chữ Nho) cũng đòi hỏi kiến thức về chữ Nho và truyền thống từ xưa k) nhà trạm (hay trạm trung đồ) để linh cữu tạm dừng lại trên đường đi chôn cất và để làm lễ diện tế l) chúc thực: lễ đặt bó đuốc trước sân để xua đuổi tà ma và dẫn đường cho vong linh trong đêm tối m) giáp cữ: sau 24 giờ hay giáp cữ thì mới làm lễ khâm liệm và nhập quan – đây là để tránh hiện tượng chết giả (hay chỉ bất tỉnh) và hồn phách chưa ổn định …v.v…

LM Cristophoro Borri (1631, sđd) đã từng nhận xét rằng “… chúng tôi quan sát thấy có nhiều điều liên hệ đến nghi lễ (tang chế/NCT) và mê tín mà nếu muốn kể hết thì không sao kể được …”. Trong bản tường trình “Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina” (1631, sđd), Borri tiếp tục ghi nhận vài tục lệ nổi bật như chiêu hồn, đãi ăn long trọng cho mọi người suốt tám ngày trong tang lễ, phường bát nhã, đốt vàng mã/xe tang, phong thủy địa lý cho mồ mả … Tuy không ghi tên từng nghi lễ như trên trong các tài liệu ghi chép bởi de Rhodes, Borri và Baron: VBL đã ghi nhiều cách dùng liên hệ trực tiếp hay gián tiếp như săng (quan tài), thây ma, cất ma, thượng khâm, hạ khâm, quàn, để tang để tóc, thần vì, đô tì, trùng tang liên táng, minh tinh, thầy địa lí, chiêu hồn/phục hồn/gọi hồn, của mã, nhà táng, giỗ, giỗ chạp … Phần sau sẽ đi vào chi tiết các cách dùng này qua ngôn ngữ của dân gian vào TK 17 (VBL) cùng bàn thêm các chi tiết liên hệ từ các tài liệu Hán và Nôm.

Bài dài (35 trang). Để đọc toàn bài, click vào ô “Tải về”.

Tiếng Việt từ TK 17 – p.52Tải về – File Word

   

Tiếng Việt từ TK 17 – p.52Tải về – File PDF

(1) Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc) – email nguyencungthong@gmail.com

Bình luận về bài viết này