Ý đồ của Trung Quốc khi đưa tàu khảo sát quay lại vùng biển Việt Nam

Thứ ba, 20/8/2019, 11:23 (GMT+7) VnExpress

Giới chuyên gia đánh giá Bắc Kinh muốn tăng sức ép với Hà Nội và các đối tác khi điều tàu khảo sát quay lại vùng biển của Việt Nam.
Tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trong hoạt động năm 2018. Ảnh: Schottel. 

Tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc trong hoạt động năm 2018. Ảnh: Schottel. 

“Trung Quốc đang cố làm giảm quyết tâm của Việt Nam và các đối tác an ninh của Việt Nam trên thế giới”, Giáo sư John Blaxland, Giám đốc Viện Đông Nam Á, Đại học Quốc gia Australia (ANU), nói với VnExpress về hành động của Trung Quốc. Bắc Kinh cũng đang nỗ lực đánh đổ các điều khoản của UNCLOS.

Tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 cùng một số tàu hộ tống của Trung Quốc đã quay lại xâm phạm vùng biển Việt Nam hôm 13/8. Nhóm tàu này trước đó đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía đông nam Việt Nam từ đầu tháng 7 đến ngày 7/8. Đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Gregory Poling, Giám đốc Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI), Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Mỹ, đánh giá, việc tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trở lại vùng biển của Việt Nam đã gửi ra một thông điệp chính trị rõ ràng. Trung Quốc sẽ không chỉ quấy rối mà còn thăm dò đơn phương nhằm gia tăng áp lực.

Đồng tình với ý kiến này, Murray Hiebert, chuyên gia về Đông Nam Á của CSIS, đánh giá Trung Quốc muốn thể hiện rằng “tất cả các tài nguyên hydrocarbon nằm trong Đường 9 đoạn đều thuộc về Trung Quốc”. Đây là điều Bắc Kinh đã tuyên bố và đang muốn biến nó thành hiện thực.

Theo Hiebert, Trung Quốc không chỉ sử dụng tàu khảo sát để ngăn cản Việt Nam khai thác dầu khí, mà còn áp dụng với Malaysia, ngay cả khi các hoạt động của Việt Nam và Malaysia nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Với Philippines, từ đầu tháng 7 và tháng 8, Trung Quốc cũng đã điều hai tàu khảo sátDong Fang Hong 3 và Zhang Jian hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, cách bờ biển phía đông nước này khoảng 80 hải lý.

“Chiến dịch dùng tàu khảo sát của Trung Quốc khiến cho tranh chấp ở Biển Đông trở nên phức tạp hơn. Các nước không chỉ xung đột về chủ quyền với các đảo và thực thể, mà giờ đây họ còn có xung đột về các tài nguyên”, Hiebert nói.

Lục Anh Tuấn, chuyên gia nghiên cứu chiến lược và an ninh khu vực tại Đại học New South Wales Canberra, Australia nhắc tới nguy cơ Trung Quốc đặt giàn khoan ở vùng nam Biển Đông của Việt Nam nhưng “không phải trong tương lai gần”. Trung Quốc không muốn đẩy tình hình đi quá xa, mà khôn khéo thực hiện ý đồ dần dần. Trước khi Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN vào 2020, Trung Quốc sẽ không “tạo cớ” để Hà Nội kêu gọi các nước ASEAN đạt đồng thuận về vấn đề Biển Đông trong các cuộc họp cấp cao vào năm tới. Bắc Kinh cũng không muốn Mỹ và đồng minh có thêm lý do để tăng hoạt động ở Biển Đông.

Ông Tuấn nhận định tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc sẽ không ở lại vùng biển của Việt Nam quá lâu vì cần tiếp nhiên liệu và xử lý các vấn đề hậu cần khác. Trong dài hạn, Trung Quốc sẽ điều các tàu đến rồi đi, tiếp tục thách thức các lực lượng của Việt Nam ở Biển Đông. Ông lưu ý các lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam cần kiềm chế, tránh để Trung Quốc lặp lại kịch bản ở bãi cạn Scarborough năm 2012. Khi đó, Bắc Kinh đã đẩy căng thẳng lên cao và chiếm bãi cạn của Philippines.

Theo Hiebert, khi Trung Quốc tỏ rõ thái độ coi thường luật pháp quốc tế, các nước ASEAN và các đối tác khác như Mỹ, Nhật Bản có thể tính đến việc trừng phạt các công ty liên quan của Trung Quốc.

“Lực lượng dân quân tham gia ngăn cản tàu của Việt Nam ở nam Biển Đông là lực lượng của nhà nước Trung Quốc và cả các công ty tư nhân. Họ có thể bị đưa vào danh sách cấm kinh doanh với các nước để cho thấy sự phản đối của cộng đồng quốc tế”, Hiebert nói.

Giáo sư John Blaxland miêu tả cách Trung Quốc dùng các tàu khảo sát trên Biển Đông là một cách “bất chấp” để đòi yêu sách của mình, dần dần biến những đòi hỏi trở thành “chính đáng”. Cách hành xử của Bắc Kinh cho thấy sự tác động lớn và dài hạn với trật tự quốc tế.

“Với Việt Nam, việc Hà Nội thể hiện sự kiên trì chống lại các hoạt động của Trung Quốc là điều rất quan trọng. Với các nước khác, cần cho thấy sự thống nhất và quyết tâm phản đối”, Blaxland nhấn mạnh.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s