Tình trạng thiếu điện bị lũng đoạn để trục lợi

RFA

Công nhân EVN đang sửa đường day điện cao thế tại Sapa-Lào Cai

BÀI 1: VIỆT NAM… “THIẾU ĐIỆN”?

Bộ Công Thương vừa công bố dự tính giao cho EVN đàm phán với Công ty Lưới điện Phong Nam của Trung Quốc (CSG) tăng nhập khẩu điện qua đường dây 220 KV hiện hữu và phối hợp với CSG đầu tư hệ thống Back-to-Back để tăng mua điện từ Trung Quốc vào năm 2022. EVN và CSG cũng sẽ bàn tính phối hợp mua điện qua cáp điện áp 500 KV kể từ 2025. Đây là lý do nên xem lại vài khía cạnh

Việt Nam có thiếu điện không?


Trong một báo cáo gửi cho Bộ Công Thương và chính phủ Việt Nam, EVN dự báo năm nay, Việt Nam có thể “thiếu điện” vì các lý do: Các nhà máy nhiệt điện phát điện bằng than tại Quảng Ninh, Hải Phòng thiếu than. Các nhà máy thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên thì thiếu nước.

Qua báo điện tử Zing, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho biết, năm 2018, TKV đã cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Quảng Ninh 2,6 triệu tấn than, đến cuối năm, EVN hỏi TKV mua thêm  200.000 tấn. Nhiều người dựa vào đó khẳng định, than không thiếu mà vì EVN hoặc dự báo không chính xác về nhu cầu hoặc cố ý mua nhẩn nha.

Bàn về cảnh báo “thiếu điện”, trong một bài viết gửi cho báo Đấu Thầu, ông Nguyễn Tuấn Anh, Cục trưởng Cục điều tiết điện lực của Bộ Công Thương, khẳng định: Năm nay không thiếu điện! Cơ quan của ông và EVN đã phối hợp xây dựng kế hoạch cung cấp điện cho năm 2019, bảo đảm đủ điện để phục vụ sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội.

EVN kể trong Báo cáo hoạt động 5 tháng đầu 2019 rằng, các nguồn cung cấp điện đã khởi công để đưa vào vận hành trong năm năm tới rất thấp so với yêu cầu tại Quy hoạch điện VII đã điều chỉnh cho giai đoạn 2018 – 2022.

Quy hoạch điện VII đã điều chỉnh xác định, đến năm 2020 cần có  60.000 MW, năm 2025 cần có 96.500 MW, đến 2030 là 129.500 MW.

Quy hoạch điện VII đã điều chỉnh xác định, đến năm 2020 cần có  60.000 MW, năm 2025 cần có 96.500 MW, đến 2030 là 129.500 MW. Song EVN than rằng, ngoài 47.000 MW hiện có, mới chỉ có bảy dự án nhiệt điện dùng than cung cấp thêm 7.860MW được triển khai, còn thiếu 18.000MW từ các dự án nhiệt điện dùng than khác không hoặc chưa thể khởi công.

Cứ đem Quy hoạch điện VII đã điều chỉnh do EVN khởi thảo rồi bổ sung, chính phủ chỉ kiểm tra và phê duyệt so với những khó khăn mà EVN kể lể, cảnh báo thì “thiếu điện” không phải chuyện đùa, không ai dám đùa nên EVN dắt đi đâu cũng phải ngoan ngoãn đi theo.

“Thiếu điện” do tính sót, cộng thiếu

Dù hết sức chật vật nhưng điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện địa nhiệt, điện từ nhiên liệu sinh hoạt – gọi chung là năng lượng tái tạo cũng đang từ từ trỗi dậy tại Việt Nam. Chẳng hạn biến quang năng thành điện năng (điện mặt trời) giờ không chỉ là chuyện của các nhà máy sản xuất điện mà bắt đầu phổ biến trên mái nhiều căn nhà tại các khu dân cư.

Theo tính toán của nhiều chuyên gia năng lượng, Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng lớn về năng lựợng tái tạo. Nếu quan tâm đầu tư vào năng lượng tái tạo, đến năm 2030, điện mặt trời có thể cung cấp cho Việt Nam 35.000MW, điện gió có thể cung cấp cho Việt Nam 20.000MW, điện sinh khối có thể cung cấp cho Việt Nam 3.000 MW…

Năng lượng tái tạo sẽ giúp giảm dần sự phụ thuộc vào các nguồn cung ứng điện thường thấy, phát điện bằng đốt các nhiên liệu hóa thạch, vừa tốn kém, vừa nguy hại cho môi trường sống ở cả phương diện quốc gia lẫn bình diện quốc tế nên năm 2015, chính phủ Việt Nam đã thông qua “Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

 

Nhà máy năng lượng điện mặt trời Phú Yên sử dung 752.640 tấm PV chuyển đổi trực tiếp ánh sáng mặt trời thành năng lượng điện AFP

 

Vào thời điểm này, không kể nguồn điện từ các nhà máy thủy điện quy mô lớn và vừa, nguồn điện khai thác từ năng lượng tái tạo chiếm 2,1% tổng công suất toàn hệ thống. Trong khi nhiều giới, đặc biệt là các chuyên gia năng lượng, môi trường hết sức hoan hỉ khi các nhà máy tận dụng quang năng (ánh sáng mặt trời) thành điện năng ở Tây Ninh, Phú Yên, Bình Thuận,… bắt đầu phát điện thì hồi tháng 4, EVN càm ràm với chính phủ về chuyện phát triển năng lượng tái tạo đang gây khó khăn vì tạo ra gặp một số thách thức cho hệ thống vận hành.

Trò chuyện với RFA về những vấn đề xoay quanh EVN, phát triển nguồn điện, “thiếu điện”,  Tiến sĩ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ – cho rằng: Cả Việt Nam thì tôi không rõ nhưng riêng ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tôi không tin là thiếu điện… Giáo sư Tiến sĩ Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường – cũng tin là vào lúc này, Việt Nam không “thiếu điện”: EVN đang phấn đấu để đảm bảo đủ điện và tôi tin rằng sẽ đảm bảo được, không phải nhờ vào việc mua điện của Lào và Trung Quốc.

EVN đang phấn đấu để đảm bảo đủ điện và tôi tin rằng sẽ đảm bảo được, không phải nhờ vào việc mua điện của Lào và Trung Quốc. – Giáo sư Tiến sĩ Đặng Hùng Võ

Song ông Võ lưu ý: EVN cần có kế hoạch phát triển điện sản xuất từ năng lượng tái tạo để đảm bảo môi trường và nhấn mạnh băn khoăn: Dường như kế hoạch trong một vài năm tới của EVN vẫn là xây dựng thủy điện và nhiệt điện và câu chuyện môi trường sẽ vẫn là câu chuyện đáng được suy ngẫm.

Có thể dự báo ngay từ năm nay, Việt Nam có thể “thiếu điện” không có lợi cho EVN nên gần đây, qua báo Tiền Phong, ông Đinh Quang Tri – Phó Tổng giám đốc EVN – nói lại cho rõ là năm nay, tuy thủy điện thiếu nước nhưng EVN sẽ huy động thêm nguồn điện từ các nhà máy đốt than và khí. Sau năm 2020, nếu “không giải quyết các vấn đề nước” thì mới “chắc chắn thiếu điện”.

Vậy là năm nay chưa… “thiếu điện”, sau năm 2020 mới… thiếu! Tuy nhiên sẵn dịp EVN cảnh báo “thiếu điện”, phải xem lại các cảnh báo “thiếu điện” của EVN và những đề nghị để tránh tai họa do “thiếu điện” của EVN ảnh hưởng thế nào đến môi trường mà ông Đặng Hùng Võ cũng như nhiều chuyên gia liên tục khuyến cáo “suy ngẫm”…

Ở bài kế tiếp, RFA sẽ trình bày tại sao “Thiếu điện” lại giống như cơ hội của một nhóm và đại họa cho cả cộng đồng.

RFA
2019-07-03
Mưa lũ và sạt lở ở Bắc Kạn khiến hàng chục người chết vào năm 2017

Bài 2: “THIẾU ĐIỆN”, CƠ HỘI CỦA THIỂU SỐ, ĐẠI HỌA VỚI ĐA SỐ

Cho đến giờ, tác hại của phong trào xây dựng các thủy điện vừa và nhỏ, rồi phong trào phát triển hệ thống nhà máy đốt than phát điện (nhiệt điện than) đối với môi trường, kinh tế – xã hội đã rõ. Cả hai cùng là con đẻ của cảnh báo “thiếu điện”.

Điểm lại tác hại của những phong trào này là cần thiết để bớt mơ hồ, thêm cảnh giác khi EVN lại cảnh báo “thiếu điện”…

Rừng núi tan hoang

Cuối thập niên 1990, cảnh báo của EVN về viễn cảnh “thiếu điện” đã mở đường cho phong trào xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ở cả vùng rừng núi phía Bắc, lẫn rừng núi miền Trung và Tây Nguyên trong thập niên 2000.

Năm 2013, chính phủ Việt Nam công bố một báo cáo, theo đó, Việt Nam có hơn 1.500 dự án thủy điện vừa và nhỏ. Theo tính toán của các chuyên gia, mỗi dự án thủy điện vừa và nhỏ ngốn khoảng 59 héc ta rừng.

Chẳng phải dân chúng, báo giới và các đại biểu Quốc hội cũng đồng thanh chỉ trích: Phát triển thủy điện vừa và nhỏ thực chất chỉ là tổ chức cấp giấy phép phá rừng! Cũng vì vậy, tháng 9 năm 2013, chính phủ Việt Nam loan báo không xem xét đưa vào qui hoạch 172 vị trí được xem là có “tiềm năng thủy điện. Loại ra khỏi qui hoạch 424 dự án thủy điện bị xem là sẽ gây nguy hại ở mức nghiêm trọng cho môi trường và xã hội. Ra lệnh tạm dừng khởi công 136 dự án thủy điện đã được phê duyệt.

Tính đến thời điểm đó, theo qui hoạch đã được phê duyệt, Việt Nam vẫn còn 815 dự án thủy điện, trong đó có 286 dự án đã hoàn thành, 205 dự án đang xây dựng, hơn 300 dự án sẽ khởi công. “Thiếu điện” cho nên cần phát triển các dự án thủy điện từ bậc thang, vừa, tới nhỏ đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nuốt chừng… 48.000 héc ta rừng.

Mưa lũ, lụt xảy ra nhiều hơn những năm gần đây Photo: RFA

Gia tăng nguồn điện từ các dự án thủy điện cho khỏi… “thiếu điện” tỉ lệ thuận với gia tăng thiệt hại do thiên tai: Lũ quét nhiều hơn, dễ lụt và lụt nặng hơn trong mùa mưa, hạn hán trầm trọng hơn trong mùa khô. Thiệt hại về nhân mạng, tài sản do thời tiết dị thường mà từ chuyên gia tới dân chúng cùng tin là hậu quả của phong trào phát triển thủy điện tăng dần chứ không giảm.

Tháng 7 năm ngoái, tờ Nông nghiệp Việt Nam thực hiện một phóng sự, chứng minh hạn hán dị thường, lũ lụt dị thường, người chết, mùa màng thất bát, hàng trăm ngàn gia đình trắng tay, hệ thống hạ tầng hư hại nặng nề, thiệt hại nhân mạng, tài sản càng ngày càng cao đều do một “thủ phạm giấu mặt” gây ra. Tờ báo này đã vạch mặt thủ phạm đó: Thủy điện!

Trong mùa lũ, thủy điện xả lũ sẽ khiến lũ chồng lũ; còn trong mùa hạn hán – khiến khô kiệt thì thủy điện tích nước làm  gia tăng hạn hán; chặn đường cá đi cá không di cư sinh sản được, chặn cát và phù sa mịn khiến bờ biển, đáy biển (sông) thiếu cát gây sạt lở, ảnh hưởng nông nghiệp- Nguyễn Hữu Thiện -Chuyên gia nghiên cứu môi trường

Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia nghiên cứu độc lập về môi trường nói với RFA: “Thủy điện cái chính là chặn phù sa và chặn đường cá đi. Trong mùa lũ, thủy điện xả lũ sẽ khiến lũ chồng lũ; còn trong mùa hạn hán – khiến khô kiệt thì thủy điện tích nước làm  gia tăng hạn hán; chặn đường cá đi cá không di cư sinh sản được, chặn cát và phù sa mịn khiến bờ biển, đáy biển (sông) thiếu cát gây sạt lở, ảnh hưởng nông nghiệp…”

Về lý thuyết, thủy điện là một trong những nguồn năng lượng tái tạo, cần phát triển để hạn chế và loại bỏ dần việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch, hủy diệt môi sinh, tàn phá môi trường nhưng ở Việt Nam, qua tư vấn của EVN, thủy điện là ác mộng cho dân chúng khu vực hạ du, thủy điẹn khiến mùa khô thiếu cả nước sinh hoạt và mùa mưa thì chẳng biết lúc nào mất mạng, trắng tay do thủy điện xả lũ, vỡ đập.

Biển… bạc như vôi

Sau giai đoạn phát triển ồ ạt thủy điện, EVN tiếp tục cảnh báo sẽ lại “thiếu điện”. Đầu thập niên 2010, EVN soạn và trình chính phủ Qui hoạch điện 7. Qui hoạch điện 7 xác định Việt Nam sẽ bảo đảm nguồn điện bằng cách phát triển các nhà máy đốt than phát điện. Theo qui hoạch này, Việt Nam sẽ xây dựng các trung tâm nhiệt điện than ở Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Kiên Lương (Kiên Giang),…

Kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy đốt than phát điện nằm dọc bờ biển Việt Nam, suốt từ Bắc và Nam đã được các chuyên gia xem là một nỗ lực hủy diệt biển. Than là nguồn nhiên liệu hóa thạch bẩn nhất và ô nhiễm nhất. Đốt than để sản xuất điện sẽ tạo ra nhiều loại khí độc, phóng thích nhiều kim loại nặng làm ô nhiễm cả nguồn nước mặt lẫn nguồn nước ngầm, đất, chưa kể than còn tạo ra tro, xỉ… Báo chí Việt Nam thi nhau dẫn các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới, các đại học, cảnh báo đốt than phát điện là nguyên nhân dẫn tới đủ loại ung thư, nhiễm độc thần kinh, dị tật cho thai nhi… Vì các nhà máy nhiệt điện dùng than của Việt Nam đều được sắp đặt cạnh biển, biển Việt Nam được dự báo sẽ ô nhiễm nặng nề, không còn nguồn lợi hải sản nào.

Giống như nhiều trường hợp khác, các khuyến cáo, lời kêu gọi của giới chuyên gia, các tổ chức bảo vệ môi sinh, môi trường trong và ngoài Việt Nam – đừng xây dựng những nhà máy đốt than phát điện, giống như nước đổ đầu vịt. Cuối năm ngoái, dựa trên tính toán của giới hữu trách, tờ Tuổi Trẻ loan báo, chừng ba năm, Việt Nam hết chỗ chứa tro xỉ than do các nhà máy nhiệt điện dùng than thải ra. Hệ số phát thải tro xỉ của Việt Nam gấp 4,7 lần so với Nhật. Tỉ lệ than dư trong tro xỉ gấp khoảng năm lần so với thế giới, tỉ lệ này càng cao thì nguy cơ sử dụng tro xỉ để san lấp, làm vật liệu xây dựng cho môi trường và sức khỏe con người càng lớn. Chưa đầy mười năm, Việt Nam đã qua mặt Úc, Nhật, Canada, hiện diện trong nhóm mười quốc gia dẫn đầu thế giới vì phát thải tro xỉ khi đốt than phát điện!

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn –Phó viện trưởng Viện nghiên cứu về biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) nói với RFA: “Nhiệt điện ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường nhất là khi nó phát thải lượng khí nhà kính lớn, tác động ô nhiễm không khí; nhà máy nhiệt điện còn phát thải tro xỉ khó xử lý và sử dụng lượng nước lớn để làm mát hệ thống nên nước thải của nó không như nước bình thường làm ảnh hưởng các loài vi sinh vật và hệ sinh thái. Ngoài ra, hoạt động phát thải của các nhà máy nhiệt điện cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Riêng vùng ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn, rất nhạy cảm đối với sự thay đổi về môi trường nên sẽ bị tác động đáng kể đến sản xuất nông nghiệp và thủy sản”.

Tuyên bố chỉ sử dụng công nghệ tiên tiến, sạch khi phát triển hệ thống nhà máy đốt than phát điện của EVN hóa ra là hết sức vô lý! Làm sao có thể có công nghệ tiên tiến, sạch khi vừa vay vốn của Trung Quốc (cho nên phải dùng công nghệ đốt than phát điện của Trung Quốc – quốc gia dẫn đầu thế giới về tỉ lệ than dư trong tro xỉ, từ 5% đến 15%) vừa mời gọi Trung Quốc đầu tư vào lĩnh vực đốt than phát điện?

Nhà máy nhiệt điện còn phát thải tro xỉ khó xử lý và sử dụng lượng nước lớn để làm mát hệ thống nên nước thải của nó không như nước bình thường làm ảnh hưởng các loài vi sinh vật và hệ sinh thái. Ngoài ra, hoạt động phát thải của các nhà máy nhiệt điện cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người -TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện BĐKH

Cả hai lần dân chúng huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận nổi loạn (một lần vào tháng 4 năm 2015, một lần vào tháng 6 năm ngoái) đều phát xuất từ sự bất bình do phải gánh chịu ô nhiễm quá mức chịu đựng từ Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân. Theo qui hoạch, trung tâm này có năm nhà máy đốt than phát điện. Hiện mới chỉ có 3/5 vận hành (Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4), 2/5 (Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 Mở rộng) đang xây dựng nhưng Tuy Phong đã trở thành một thùng thuốc súng, thêm hai nhà máy nữa, thùng thuốc súng có thể nổ nhiều lần nữa.

Tác hại của việc phát triển các nhà máy đốt than phát điện đối với môi trường, kinh tế – xã hội, nhân tâm càng lúc càng rõ, tháng 8 năm ngoái, chính quyền tỉnh Long An chính thức từ chối sử dụng công nghệ đốt than phát điện tại Trung tâm Điện lực của tỉnh này. Tuy Bộ Công Thương đã tìm nhiều cách ép chính quyền tỉnh Long An chấp nhận xây dựng các nhà máy đốt than theo đúng tinh thần Qui hoạch điện 7 nhưng Long An dứt khoát lắc đầu.

Xây dựng các nhà máy đốt than phát điện bằng công nghệ Trung Quốc, dùng vốn Trung Quốc dường như không hợp thời nữa, có thể vì thế, theo sau cảnh báo “thiếu điện” mới nhất, EVN vừa vạch ra một con đường mới: Mua điện của Trung Quốc. Mua điện của Trung Quốc có đáng phải bận tâm hay không sẽ là nội dung bài kế tiếp và cũng sẽ là bài cuối của loạt bài này.

RFA
2019-07-03
Người dân ở ĐBSCL bắt cá giữa cánh đồng khô hạn -Ảnh chụp năm 2016 tại Sóc Trăng

Bài 3: MUA ĐIỆN CỦA TRUNG QUỐC, TRẢ TIỀN ĐỂ NHẬN THÊM HỌA?

Điện là một loại hàng hóa. Nguồn, phương thức phân phối, giá bán thứ hàng hóa này tác động trực tiếp đến kinh tế – xã hội, quyết định mức độ phát triển của một quốc gia nên điện trở thành hàng hóa đặc biệt. Sản xuất – cung ứng điện được xem là một yếu tố quan trọng phải tính  kỹ để duy trì và bảo vệ an ninh năng lượng.

Dù liên quan tới an ninh năng lượng nhưng nhập khẩu điện (mua điện của nước ngoài) là điều bình thường, thậm chí rất nên nếu có thể tiết giảm vốn đầu tư, gia tăng khả năng cung ứng, hạ giá bán, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Mua điện của Trung Quốc, Lào sẽ không phải là chuyện cần phải bận tâm, đáng bàn nếu…

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) không… còn

ĐBSCL – vựa lúa của Việt Nam đang ngắc ngoải. Sông rạch chằng chịt nhưng khu vực này đang thiếu nước ngọt cho cả sản xuất lẫn sinh hoạt. Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL không còn dồi dào như trước, mực nước của hệ thống sông rạch tụt xuống là lý do nước mặn từ biển xâm nhập càng ngày càng sâu vào đất liền. Cách nay ba năm, nước mặn lấn sâu vào sông rạch tới 90 cây số. Ruộng thiếu nước, vườn thiếu nước, con người cũng thiếu nước ăn, uống, tắm, giặt, phải khai thác nước ngầm và bề mặt sụt lún. Nếu bề mặt tiếp tục sụt lún và nước biển tiếp tục dâng lên, phần lớn ĐBSCL sẽ biến mất.

Hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL khiến người dân phải đào giếng lấy nước ngọt- AFP Photo: RFA

Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL giảm đáng kể còn là lý do đất đai cằn cỗi vì không được phù sa bù đắp, lượng cát sỏi cũng giảm dần, đây cũng là lý do sạt lở xảy ra khắp nơi. Theo các thống kê đã công bố, mỗi năm, sạt lở làm ĐBSCL mất khoảng 300 héc ta. Khu vực này hiện có 564 điểm sạt lở cả ở bờ sông (512 điểm) lẫn bờ biển (52 điểm). Chi phí chống sạt lở dù tính bằng tỉ nhưng những tỉ đồng đó cũng đổ xuống sông, biển vì chính đê bao, kè biển bị xói mòn. Tuy có nhiều lý do dẫn tới thảm cảnh này: Khai thác cát quá mức. Số công trình ven bờ gia tăng tác động tới nền địa chất vốn yếu ớt,… song các chuyên gia vẫn khẳng định, nguyên nhân chính vẫn là sự suy giảm lượng nước, lượng phù sa từ thượng nguồn.

Có những thứ độc quyền của ĐBSCL vĩnh viễn biến mất. Trước tiên phải kể đến vỉa than bùn của vùng U Minh, từ hơn 8.000 ha với chiều dày hơn 2 mét, nay chỉ còn lỏm chỏm trong vùng U Minh Hạ và trong vườn quốc gia U Minh Thượng và chiều dày chỉ còn khoảng một mét và có nguy cơ mất dấu theo thời gian vì mực nước ở các vùng này mỗi năm mỗi kiệt hơn – TS Dương Văn Ni, Đại học Cần Thơ

Tiến sĩ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ – lưu ý: Có những thứ độc quyền của ĐBSCL vĩnh viễn biến mất. Trước tiên phải kể đến vỉa than bùn của vùng U Minh, từ hơn 8.000 ha với chiều dày hơn 2 mét, nay chỉ còn lỏm chỏm trong vùng U Minh Hạ và trong vườn quốc gia U Minh Thượng và chiều dày chỉ còn khoảng một mét và có nguy cơ mất dấu theo thời gian vì mực nước ở các vùng này mỗi năm mỗi kiệt hơn.

Thông qua hệ thống truyền thông Việt Nam, những chuyên gia như Tiến sĩ Lê Anh Tuấn – Viện phó Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ – từng nhiều lần lưu ý: Việc các nhà máy thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong, tích nước cho việc phát điện trong mùa khô là một trong những lý do chính gây ra đủ thứ họa cho ĐBSCL. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện – một chuyên gia độc lập về ĐBSCL và thủy điện Mekong – từng lặp đi, lặp lại, các đập thủy điện ở Trung Quốc đã làm giảm 50% lượng phù sa mà lẽ ra ĐBSCL có thể nhận được hàng năm, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến độ màu mỡ của đất đai, sự phát triển của nông nghiệp mà còn gia tăng mức độ sạt lở bờ sông, bờ biển.

Không chỉ dẫn đầu trong việc chặn dòng Mekong để phát triển thủy điện (từ cuối thập niên 1990 đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất 5/7 dự án theo kế hoạch khai thác đoạn Mekong trên lãnh thổ Trung Quốc), Trung Quốc còn đầu tư vào Lào, Campuchia để phát triển thủy điện trên đoạn Mekong chảy qua hai quốc gia này và cho họ vay vốn để phát triển các công trình thủy điện. Nếu kế hoạch này hoàn tất, năm 2030, đoạn Mekong chảy qua Lào và Campuchia trước khi đổ vào Việt Nam sẽ có thêm 12 công trình thủy điện nữa!

Các tổ chức bảo vệ sông ngòi, môi trường quốc tế đã lên tiếng nhiều lần, cố gắng thuyết phục cả Trung Quốc, Lào, Campuchia rằng, phát triển các công trình thủy điện trên dòng Mekong là hủy diệt cả nông nghiệp, ngư nghiệp lẫn tương lai toàn bộ khu vực thuộc lưu vực Mekong nhưng không hiệu quả. Chẳng riêng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng cũng bị đe dọa khi Trung Quốc đang và sẽ xây dựng các công trình thủy điện trên thượng nguồn sông Hồng, sông Đà đoạn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc.

Trong bối cảnh như hiện nay, ý tưởng hỏi mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để thiên hạ tích cực hơn trong việc tạo thêm họa cho mình. Mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để nhận thêm họa?

Không sợ thảm họa hạt nhân

Ngoài nguồn điện từ thủy điện, Trung Quốc đang phát triển nguồn điện từ các nhà máy điện hạt nhân để thay thế hệ thống nhà máy đốt than phát điện mà Trung Quốc đang hỗ trợ Việt Nam cả về vốn lẫn công nghệ để đừng “thiếu điện”!

Năm 2016, dân chúng Việt Nam xôn xao khi có tin Trung Quốc xây dựng ba nhà máy điện hạt nhân sát biên giới Việt Nam (một ở Quảng Tây – Nhà máy Phòng Thành cách Móng Cái chỉ 50 cây số, một ở Quảng Đông – Nhà máy Trường Giang cách Hải Phòng khoảng 100km, một trên đảo Hải Nam – Nhà máy Xương Giang cách nhiều điểm ở Việt Nam khoảng 200 cây số. Đến giữa 2017, cả ba nhà máy đều đã vận hành từ hai đến ba tổ máy phát điện và tiếp tục xây dựng thêm những tổ máy khác.

Do khoảng cách giữa ba nhà máy vừa kể với biên giới Việt – Trung, theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam phải lập kế hoạch ứng phó mở rộng (EPD – bán kính mở rộng đến 100 cây số), hoặc lập kế hoạch theo dõi nhiễm xạ đối với thực phẩm và hàng hóa ICPD (bán kính mở rộng 300 cây số).

Theo một số chuyên gia về năng lượng hạt nhân, Trung Quốc phát triển rất nhanh trong lĩnh vực điện hạt nhân. Năm 2010 đã đạt được mục tiêu đề ra cho năm 2020. Tuy nhiên việc phát triển rất nhanh như thế kéo theo nhiều rủi ro do dễ mắc sai lầm và vi phạm các tiêu chuẩn về an toàn. Một loại rủi ro khác là thiếu minh bạch, thường bưng bít thông tin nên rất khó đánh giá nguy cơ để phòng ngừa.

Từ sự lo âu của dân chúng Việt Nam, tháng 4 năm 2017, Bộ Khoa học – Môi trường Việt Nam loan báo đã liên lạc với giới hữu trách Trung Quốc để thảo luận về ba nhà máy điện hạt nhân đã kể. Lúc đó, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khải – Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân – cho biết, hai bên đã thảo luận về việc soạn thảo Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa các cơ quan hữu trách của hai bên nói riêng và ngành năng lượng hạt nhân nói chung. Tuy nhiên, khi đặt vấn đề về việc hợp tác xây dựng mạng quan trắc và kế hoạch ứng phó tầm mức quốc gia khi xảy ra sự cố – một trong những nội dung quan trọng trong hợp tác thì phía Trung Quốc lại không tán thành và bỏ đi!

Việt Nam từng dự định làm điện hạt nhân nhưng cuối cùng Quốc hội quyết định ngưng vì sự thật là đến nay, điện hạt nhân vẫn là thứ không bảo đảm an toàn. Còn chuyện Trung Quốc làm điện hạt nhân thì Việt Nam không có cách nào bắt họ dừng được…Tiến sĩ Đặng Hùng Võ, Nguyên thứ trưởng Bộ TN-MT

Khi được đề nghị cho ý kiến về sự hiện diện của các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc tọa lạc sát biên giới Việt – Trung, Giáo sư Tiến sĩ Đặng Hùng Võ bảo rằng: Việt Nam từng dự định làm điện hạt nhân nhưng cuối cùng Quốc hội quyết định ngưng vì sự thật là đến nay, điện hạt nhân vẫn là thứ không bảo đảm an toàn. Còn chuyện Trung Quốc làm điện hạt nhân thì Việt Nam không có cách nào bắt họ dừng được…

Tất nhiên là Việt Nam không có cách nào khiến Trung Quốc ngưng phát triển các nhà máy điện nguyên tử về phía Nam theo kế hoạch của Trung Quốc. Đàm phán mua điện của Trung Quốc là một ý tưởng góp phần thúc đẩy viễn cảnh sẽ sớm có thêm nhiều nhà máy điện hạt nhân gần lãnh thổ Việt Nam hơn.

***

Duy trì sự ổn định của nguồn điện, thỏa mãn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia là một vấn đề hết sức quan trọng. Song giao vấn đề hết sức quan trọng đó cho Bộ Công Thương, EVN lập kế hoạch và giữ vai trò nhạc trưởng có bảo đảm phát triển bền vững hay không dường như còn quan trọng hơn. Chẳng lẽ cứ để “thiếu điện” là dịp mở thêm một đoạn đường đưa quốc gia vào sâu hơn trong tuyệt lộ?

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s