75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài

Người đàn bà khóc đứa con vừa lọt lòng đã bị chết trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 1 – Nơi chết đói nhiều nhất miền Bắc

08/04/2019, 06:30 (GMT+7)

Chưa bao giờ Việt Nam xảy ra một thảm họa lớn như thế cả về số lượng người chết lẫn quy mô của vùng bị nạn, có lẽ chỉ thua cuộc chiến chống Mỹ 1954-1975 nhưng thời gian nạn đói 1944-1945 thì có 6-7 tháng. Hàng triệu người chết đói nay tuy thân xác đã tiêu tan mà vẫn còn để lại nỗi đau trong lòng con cháu, vì sao họ lại ngã xuống, vì sao không có sự bù đắp, vì sao không một tượng đài…

Đứa con lưu lạc

“Con đi theo bà này về nhà sẽ được cho ăn cơm”. Bố dỗ dành như vậy nhưng tôi cứ bám chặt lấy đùi ông: “Con không thích ăn cơm, con ở đây với thầy bu cơ”. Ông kiên quyết gỡ tay tôi ra, cầm lấy 2 hào người ta đưa rồi bà kia dắt tôi từ chợ Nhổn (Hà Nội) về nhà. Mẹ nuôi đầu tiên tên là Thịnh-một địa chủ. Vì quá bé nên tôi chỉ làm được mỗi việc quét sân nhưng ở một thời gian ngắn thì bị bệnh kiết lị. Sợ chết, mẹ đem tôi cho bà Miên-một địa chủ khác. Uống xong một ấm thuốc của cụ lang trong làng thì tôi khỏi hẳn.

Đã gần 75 năm trôi qua nhưng bà Nguyễn Thị Hòe chưa bao giờ nguôi ngoai ký ức của một ngày lon ton theo bố mẹ từ quê lên Hà Nội lánh đói.

Bà Hòe kể lại chuyện mình bị cho ngoài chợ Nhổn

Tôi biết bà qua bản thông báo tìm người thân mà nhà sử học Đặng Hùng đưa cho: “Tên tôi là Nguyễn Thị Hòe, sinh năm 1939, ở Vân Trì 4, Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội. Cần tìm gia đình thất lạc 1945. Quê quán không nhớ rõ, chỉ nhớ ở Thái Bình hoặc gần đó như Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình…nhà gần chợ Cầu, chợ Đồn (hoặc chợ Cồn) có bán rất nhiều mực tươi, rươi, trước nhà có cái ao to mọc nhiều củ ấu… Bố đẻ làm thợ mộc, mẹ đẻ bán trầu cau. Tôi có 2 người chị tên là Phú và Phí, có cậu em trai tên Tám. Lúc đó tôi tên là Hải. Ông Tuân hàng xóm có con gái là chị Xế. Năm 1945 cả gia đình chạy đói lên đến chợ Nhổn, Hà Nội được người ta xin nuôi rồi từ đó mất liên lạc…Mọi thông tin xin liên lạc với con trai tôi là Sáng, ĐT 0938739999…”.

Trong cửa hàng tạp hóa tại nhà, bà quệt nước mắt mà kể: “Gia đình tôi cũng chẳng phải là quá nghèo, có 4 gian nhà tranh nhưng năm đó chẳng hiểu sao lại đói. Thêm vào đó là khoản vay nặng lãi của một hàng xén trong làng. Lúc đầu, nhà tôi còn được ăn cháo nhưng sau gạo hết, phải chuyển sang ăn cám…Mấy hôm liền ăn cám như thế, một đêm mẹ gọi chúng tôi dậy, bảo đi.

3 em bé bị đói không có quần áo mặc năm đói (Ảnh: Võ An Ninh)

Mẹ bế đứa em trai tôi mới còn lẫm chẫm, hai chị thay phiên nhau gánh quần áo, chăn màn còn bố thì xách chàng, đục. Từ quê đi bộ lên Hà Nội bao nhiêu ngày tôi cũng chẳng nhớ nữa mà chỉ tiếc mãi đôi guốc màu đỏ mẹ mới mua cho, không dám dùng mà vẫn treo ở trên vách nhà vì vội nên đã bỏ quên…”.

Con trai út của bà, anh Vương Duy Sáng bảo đã 20 năm nay mình nhiều lần đi tìm, lúc đầu qua bạn bè, về sau vào cả các UBND xã hay vào làng gặp người cao tuổi để hỏi. Gần đây anh còn đăng trên facebook, in tờ rơi phát hay đến các đài phát thanh, truyền hình ở Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định…thông báo mà vẫn chưa có kết quả.

Trở lại tâm đói

Địa chí Thái Bình trang 118 ghi: “Nạn đói xảy ra vào cuối năm 1944 khi vụ mùa gần như mất trắng. Dân Thái Bình rơi vào nạn đói kéo dài từ tháng 8, tháng 9 năm Giáp Thân (1944) sang đến những tháng đầu năm Ất Dậu (1945). Trong khi đáng lẽ phải cứu đói khẩn cấp thì chính quyền phát xít Nhật-Pháp ráo riết thực hiện chính sách thu mua thóc tạ thời chiến…Nhiều làng chết đói từ 50-80% dân số. Làng Sơn Thọ (nay là xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy) có 1.025 người thì chết đói mất 965 người, làng Thanh Nê (Kiến Xương) có 4.164 người, chết đói 1.854 người…

Người đàn ông bị chết đói mà mắt không thể nhắm được (Ảnh: Võ An Ninh)
Địa chí Thái Bình trang 118 viết: “Trước 1945 ở Thái Bình chỉ có 12% chủ sở hữu ruộng đất là đủ và thừa ăn còn 88% hộ nông dân thiếu ăn… Trong những năm mùa màng thu hoạch bình thường, bằng việc làm thuê, vay mượn lần hồi, những hộ nông dân ít ruộng còn có thể chật vật vượt qua được còn những năm bị mất mùa thì bị rơi vào tình trạng đói.”

Chỉ trong vòng 5 tháng, số người chết đói trong toàn tỉnh lên tới 28 vạn người (khoảng 25% dân số)…”. Xóm làng nay trù phú, nhà tầng, nhà gác khắp nơi. Cảnh no đủ đó khiến cho nhiều người không thể hình dung 75 năm trước xác đói nằm rũ ngoài đường như những tàu lá chuối khô, có người chết rồi mà mồm vẫn còn vương rơm rạ.

Ông Vũ Đức Cả ở thôn Sơn Thọ năm nay đã 87 tuổi nhưng vẫn bật khóc, nghẹn  không nói thành lời khi nhắc về nạn đói 75 năm trước, chỉ lặp đi, lặp lại: “Chết nhiều lắm, nhà tôi mất 5 người thân”.

Còn bà Phạm Thị Thoạn-106 tuổi cùng thôn thì kể về cái xóm Đầm chuyên nghề chài lưới chết rỗng làng, rỗng xóm, cụt nhiều chi họ.

Lúc bắt đầu đói, 1 giỏ cá 10-15 kg đổi được lưng bơ gạo nhưng về sau không ai chịu đổi cho nữa nên dân chài phải ăn cá trừ cơm. Hệ tiêu hóa vốn không quen với việc thiếu lương thực khiến cho bệnh đau bụng hoành hành. Đói lại thêm rét.

Dân hầu hết không có quần áo mà chỉ quấn manh chiếu hay cái áo tơi lá che thân. Không đủ sức để đi biển nhưng nhiều người vẫn cố lê chút hơi tàn ra bãi mò cua ốc, nhai sống rồi gục xuống.

Gia đình ông Nguyễn Văn Táng, Nguyễn Văn Chuyên… hàng xóm của bà Thoạn chết không còn sót một ai. Cả nhà cậu Cúc cũng chết còn mỗi mình ông lết đến xin một bữa ăn.

Bà bảo: “Nhà cháu chỉ có ít cơm độn khoai và hành luộc thôi”. Ông mừng rỡ: “Được thế thì còn gì bằng. Nếu tôi có thể qua được cơn này, nhà chị sống thì tôi Tết, chết thì tôi giỗ”. Sau bữa đó một thời gian ông cũng chết vì đói.

Bà Thoạn bảo chết đói rỗng cả làng

Một buổi sáng bà Thoạn gặp chị Muồn tha thẩn ở bờ ao. Chị vốn đi ở nhưng khi liệu chừng sắp hết gạo thì bị nhà chủ đuổi đi. Lúc bà ngỏ ý với bố mẹ chị muốn mua chị về làm con nuôi để lo cơm nước và trông 3 đứa con cho mình đi chợ thì họ đồng ý luôn mà không tính tiền. Bà bèn nấu một bữa cơm đãi cả nhà chị. Ăn xong, người bố dặn: “Nhà ta rồi cũng không thoát khỏi nạn đói đâu! Khi nào về mà không thấy ai thì con cứ ra bãi tha ma cồn Kiềm mà kiếm. Trước khi chết bố mẹ sẽ cố bò ra đó, chỗ có lắm hố người ta đã bốc mộ rồi lăn xuống. Tìm thấy con cứ việc lấp đất lên chứ sức con yếu như thế này không đào nổi huyệt đâu”. Chị Muồn khẽ “vâng”.

Bố mẹ và 5 anh em chị về sau chết hết. Chị tìm ra cồn như lời dặn nhưng người ta đã lấp đất mất nên không biết xác nằm ở đâu. Xóm Đầm hơn 100 hộ với khoảng 500 nhân khẩu chết cỡ 3/4. Chị may mắn sống về sau còn được mẹ nuôi gả chồng, thọ đến khi đầu bạc.
Bắp ngô trên mâm cỗ cúng

Trên mâm cơm giỗ nhà ông Nguyễn Gia Hoạt ở làng Sơn Thọ những ngày này dù nhiều bát, lắm đĩa cũng không thể thiếu một bắp ngô. Bắp ngô là ước ao cuối cùng của em trai ông dặn mẹ trước lúc bị chết đói. Khi bà cầm được bắp ngô từ chợ về thì con đã chết cứng tự lúc nào. Đó là ngày 24/3 âm lịch năm 1945. Bố cùng anh trai ông khiêng đi chôn. Sang đến ngày ¼ âm lịch, anh này đói quá nói với mẹ rằng muốn có một nắm cơm nhưng bà bất lực, đành nhìn con chết trong ngày. Lần này thì bố cùng với ông Hoạt khiêng đi chôn.

Ông Hoạt đang thắp hương cho 2 người anh em chết đói
Trong cuốn “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” của học giả Pháp P. Gourou phân tích một gia đình nông dân ở Tiền Hải gồm 6 người cấy một mẫu công điền ruộng 2 vụ chỉ thu hoạch được 700 kg thóc/năm trong khi đó phải cần đến 1.400 kg thóc để ăn.

Bố là thầy tử vi nhưng lúc đó chẳng có ai xem nữa vì sống hôm nay chưa chắc đã đến ngày mai, bởi vậy cả nhà chỉ trông chờ vào tài buôn thúng bán mẹt của mẹ. Thỉnh thoảng bán được cái gì đó, bà lại mua một bơ cám về rang lên, lấy lá mít xúc cho mỗi người một lá.

Nhớ về thời kỳ này, ông Hoạt có mấy vần thơ rằng: “Hàn vi cay đắng ruột dầu. Nhớ năm Ất Dậu mà đau đớn lòng. Nhật đem đổ thóc biển Đông. Bắt dân nhổ lúa để trồng thay đay. Gông cùm cơ cực đắng cay. Dân bị chết đói hơn hai triệu người. Trẻ thơ không có tiếng cười. Xóm làng ảm đạm vắng người vào ra. Nhiều gia đình chết cả nhà. Bó manh chiếu rách thật là thảm thương…Trẻ thơ chưa nói thành lời. Nhoai vần xác mẹ bú hơi sữa tàn”.

Ông Phạm Huy Thung ở làng Các Đông gần Sơn Thọ kể năm đó mình đã 24 tuổi có vợ và 1 con. Ruộng đất ít lại chua mặn nên năng suất lúa chỉ khoảng 25 kg/sào. Cả làng không có một địa chủ, một viên gạch nung mà toàn ở nhà đất.

Khá giả nhất có mấy ông trùm (đứng đầu giáo họ) Hành, Cộng, Tho, Quang, cơm cũng phải độn ngô khoai nhưng con không ai chết đói.

Người đàn bà không có quần áo mặc (Ảnh: Võ An Ninh)

Thanh niên đi phu, đi lính gần hết nên ở lại chủ yếu người già, đàn bà và trẻ con. Dân đói hái cả lá dâu mà ăn nhưng Nhật vẫn trưng thu thóc về xay tại nhà ông ký Thưởng rồi chở ra cửa sông Diêm Điền đổ xuống biển.

Nhà các ông Sinh, Dược, Nhi, Kiện, Sính…7-8 người chết hầu như không còn ai. Tỷ lệ tử vong của xóm cỡ 60-70% trong đó dân công giáo chết nhiều hơn dân lương, nhất là giáo họ Tô. Nhà xứ Bích Du khi đó cũng tổ chức phát chẩn nhưng mấy ngày mới có 1 nồi 30 bát cháo, chỉ như muối bỏ bể.

Nhà thờ này năm xưa có hàng trăm người đói nằm chờ chết
Trên đường phố Phủ Lý, Hà Nam hai người con xin được tí cháo về đổ cho bố thì cháo chảy ngược vì hàm ông đã cứng lại (Ảnh: Võ An Ninh)

Khi chú Phạm Huy Tạ chết cùng 3 con, ông Thung và bố phải bỏ vào quang, gánh ra bãi. Do bố vợ là một phú nông nhờ trông ngô ngoài bãi nên gia đình ông mới được mấy bắp mỗi ngày. Một buổi ông bắt quả tang bá hộ Sờ (đã đổi tên, hào lý thời phong kiến) đang lấy trộm, ông này nằn nì: “Anh ơi cho tớ mấy bắp ngô”. Nhà bá hộ về sau chết chỉ còn sót 1 người con gái. Ông ký Nhờ em ông bá hộ đói quá chân không đi nổi nữa mà lồm cồm bò đến năn nỉ: “Trước khi chết xin anh  mấy bắp ngô”. Ông Thung lén bẻ mấy bắp đưa cho nhưng ông này về sau cũng chết đói. Nhiều người chết rục trong ổ rơm không ai biết đến khi thối quá hàng xóm không chôn nổi đành phải cho một mồi lửa đốt luôn cả nhà.

Thái Bình nên dựng tượng đài về nạn đói

Nhà sử học Đặng Hùng (ảnh) giải thích con số 280.000 nạn nhân chết đói của tỉnh Thái Bình có thể khiến cho một số người không tin vì quá lớn nhưng có lẽ đó chính là số lượng nhân khẩu hụt đi ở các làng, xã khi kiểm tra sau này thấy như thế.

Số lượng sở dĩ nhiều như thế có thể chết đói tại chỗ, có thể bỏ làng ra đi rồi chết đói dọc đường và cũng có thể có những người còn sống sót. Bà Nguyễn Thị Hòe ở Hà Nội mới đây vẫn về Thái Bình tìm người thân sau khi bị cho làm con nuôi năm 1945 là một trường hợp điển hình.

Nguyên nhân của nạn đói theo ông thì có nhiều, trước tiên là lũ lụt vỡ đê điều, mất mùa trắng cuối năm 1944 khiến dân không đủ ăn. Khi cấy tiếp vụ chiêm hi vọng đến giữa năm 1945 có cái bỏ vào miệng thì Nhật lại bắt nhổ lúa trồng đay. Rồi nạn trưng thu lương thực của Nhật, Pháp, với giá rẻ.Tiếp đó là nạn dịch tả tràn lan và sau đói lại có tình trạng được mùa rồi chết vì no đã hợp thành một tai ương khủng khiếp kéo dài từ Quảng Trị ra đến miền Bắc. Chính sử của ta chép 2 triệu người chết đói còn các phía như Pháp, Nhật ghi chép ít hơn, từ vài trăm ngàn người đến triệu người. Lý do có những con số khác nhau phần vì công tác thống kê hồi đó còn sơ sài, phần bởi vì Pháp mà đặc biệt là Nhật không muốn ghi nhận tội ác chiến tranh của họ, không muốn phải đền bù cho nạn nhân của năm đói quá nhiều…

20 năm trước ngành văn hóa đã từng kiến nghị với UBND tỉnh Thái Bình về chuyện dựng tượng đài tưởng niệm nạn chết đói, tỉnh cũng đã bàn nhưng không thực hiện mà cũng không giải thích rõ nguyên nhân. Giờ chẳng ai nói gì đến nữa. Tất cả cũng chỉ như gió thổi mây bay. Nhưng theo tôi vẫn phải dựng tượng về hình ảnh người dân chết đói năm 1945 để thế hệ sau biết được một giai đoạn bi thương chết vì đói, vì mất mùa, vì giặc ngoại xâm gây ra…trong lịch sử của dân tộc.Tượng đài nên đặt tại cột mốc km số 3 nơi cụ Võ An Ninh chụp bức ảnh nổi tiếng về nạn đói năm 1945 ở Thái Bình hoặc có thể dựng tại bảo tàng tỉnh hoặc trung tâm thành phố Thái Bình. Biểu tượng là hình chữ S cao cỡ 10m, phần từ Quảng Trị hất ra Bắc có những chấm thể hiện các tỉnh bị đói, từ đó chìa ra các mũi tên ghi số lượng người chết đói của từng tỉnh.

Phần từ Quảng Trị trở về Nam là bức phù điêu với phông nền là sóng nước xung quanh tượng trưng cho lũ lụt, vỡ đê, một bên là cảnh Nhật ép dân nhổ lúa trồng đay, một bên là cảnh Nhật trưng thu lương thực, cảnh người dân cầm bông lúa ăn rồi chết no. Ở giữa tạc cảnh người chết đói, có thể là đứa bé đang day vú mẹ đã chết, cảnh xe kéo xác chết, cảnh ngôi chợ la liệt xác chết, cảnh làng quê xơ xác tiêu điều người dân li hương để kiếm ăn…

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 2 – Những chuyến xe chở xác ở chợ Xanh, Ninh Bình

09/04/2019, 06:35 (GMT+7)

Bà Đỗ Thị Xuân khi đó đang nằm ở gốc đa giếng Méo thì bị tuần đinh nhặt lên xe cút kít, định đem đi chôn liền kêu toáng: “Chúng mày ơi, tao còn sống!” rồi lồm cồm bò xuống.

I. “Chúng mày ơi, tao còn sống!”

Những người suýt bị chôn sống

Ông Dương Văn Toàn năm nay 87 tuổi nhưng vẫn nhớ như in tiếng cót két phát ra từ chiếc xe cút kít chở xác từ chợ Xanh (xã Khánh Thiện, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) về những hố chôn tập thể ngày nay có tên mả Đói hay gò Ma. Đầu năm 1944, ông mới 11 – 12 tuổi, đang học chữ Nho của thầy đồ Đàm, những hôm đi sớm đều thấy hai bố con thầy thì thào chuyện gì đó rất nghiêm trọng: “Tình hình căng rồi con ạ! Trước là Tàu, sau là Pháp, giờ lại đến Nhật cai trị”.

Tiêu điều chợ quê (Ảnh: Võ An Ninh)

Lính Nhật về làng thật, đóng tại hai cửa hiệu to nhất chợ Xanh là nhà ông Cường, ông Tráng, bắt dân phá hoa màu để trồng đay rồi lệnh cho lý trưởng, phó lý phải thu nộp. Tổng Bồng Hải (xã Khánh Thiện ngày nay) khi ấy có 9 làng, ruộng vài ba ngàn mẫu nhưng năm đó mất mùa to. Giữa lúc dân đang đói Nhật vẫn bắt phải đóng thóc lẫm rồi tập trung cả trăm tấn vào đình, cử tuần đinh trông coi cẩn mật.

Năm đói, dân tứ xứ bỗng nhiên kéo về đông như nước lụt, đứng ngồi la liệt hai bên đường, tối ngủ chen chúc trong các dãy quán ở chợ Xanh, sáng ra lại có vài người không bao giờ trở dậy nữa. Tháng 8 – 9/1944 đến lượt dân làng bắt đầu đói. Lợn bị giết đầu tiên để lấy cám cho người ăn. Trâu bò phần không ai đi chăn sinh ốm chết phần bị mổ ăn. Tiếp đó là chó, gà và cuối cùng thì người chết.

Hai em bé ngồi mút vỏ ốc ở bãi rác trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Trước khi chết người ta nhét đủ thứ để làm đầy dạ dày như cỏ, thân chuối, nõn bèo tây, ruột cây đu đủ… Có người vì ăn cây đu đủ phù lên mà chết. Chị Cúc của ông Toàn khi đó đã 18 tuổi, đang giúp việc cho bác ruột mới đẻ thì không có gạo ăn nữa phải trở về. Về sau kiệt sức quá, chị nằm mê sảng trên giường 3 ngày liền, cứ ú ớ kêu: “Bu ơi, con đói quá”.

Mẹ ông vay mượn đâu đó được nửa bát gạo về nấu cháo loãng. Có hơi cháo, chị tỉnh lại rồi chết đúng dịp Tết 1944. Tháng 4/1945 mẹ ông trước lúc ra đi trăn trối: “Các con với bố ở lại gắng mà sống”. Nhưng bố ông cũng chết sau đó mấy tháng. Ngay cả hai bố con thầy đồ Đàm cũng không thoát khỏi nạn đói.

Những nhà giàu có trong làng như hội Vận, hội Ấp, hai Hoạch suốt ngày cổng đóng then cài với tường rào ba lớp, hóp ngoài cùng, tre gai kế sát còn trong cùng là tường gạch. Nhà ai cũng nuôi lắm chó, nhiều ngỗng cùng một đám gia nhân để canh phòng.

Ông Vũ Văn Rạng hồi đó đã 16 tuổi nên còn nhớ rõ cứ 7 ngày chánh hội Năm, tộc Diệu hay thơ Huyến lại tổ chức phát chẩn 1 lần. 1 nồi 30 cơm, nắm nhỏ như quả cam, 3 – 5 gia nhân đội đi kèm theo 20 – 30 tuần đinh cầm tù và, gậy tầy bảo vệ đằng sau. Chỗ cơm ít ỏi đó chẳng thấm vào đâu so với số cả ngàn người đói nên họ tranh nhau, dẫm đạp lên nhau mà chết. Hễ kẻ nào cả gan dám xông vào cướp cơm trên thúng liền bị tuần đinh vung gậy đập cho mất mạng.

Ông Rạng bên chợ Xanh ngày nay

Mỗi ngày có 20 – 30 người chết nằm ngổn ngang quanh chợ. Những chiếc xe cút kít, sàn bằng tre, bánh bằng gỗ, bắt đầu được gửi về làng để chở xác. Tuần đinh đào những cái hố to bằng nửa cái sân, sâu 1 – 2m rồi hất xác xuống. Nhiều kẻ đang còn ngắc ngoải cũng vẫn bị túm lên xe vì tuần đinh nghĩ đằng nào chẳng chết.

Bà Đỗ Thị Xuân khi đó đang nằm ở gốc đa giếng Méo thì bị tuần đinh nhặt lên xe cút kít, định đem đi chôn liền kêu toáng: “Chúng mày ơi, tao còn sống!” rồi lồm cồm bò xuống. Ông binh Nhị gánh nước qua thấy vậy cho uống một ngụm thì bà tỉnh lại liền mỗi lần đi qua cho 1 nắm cơm nhỏ như quả trứng. Vậy mà bà sống sót, về sau lấy chồng và mất khi đã già.

Bà Vậy đang nằm ở xó đình với cái bao tải rách quấn thay váy cũng bị quẳng lên xe. Đau quá, bà mắng: “Tiên sư bố chúng mày! Bà mày còn sống!”. Về sau bà lấy một ông thợ may trong làng và sống rất thọ.

Kéo xác chết đói đi chôn (Ảnh: Võ An Ninh)

Có nhiều người đã bị chôn sống như thế chỉ vì sức yếu không kêu nổi. Những chuyến xe cút kít đi về như con thoi chở người chết đói ở chợ, ở đình, ở xóm ra hàng chục hố chôn tập thể rải từ cầu Gỗ thôn Phú Hậu đến Gồ thôn Phong An, ước tính cỡ 500 – 600 xác.

Bố mẹ ông Rạng khi đó thuộc loại có điều kiện nhưng cũng phải bán căn nhà lim 5 gian cho ông Thơ Tâm với giá 25 đồng vì đói. 1 thùng thóc 10kg khi đó có giá 6 đồng, tính ra ngôi nhà chỉ được hơn 40kg thóc, chưa đủ cho gia đình hơn 10 người cầm cự 1 tháng. Ông Rạng có 9 anh em thì chết đói mất 7.

Ông Rạng bên gò mả Đói

Đầu tiên là anh, sau đó là em trai 4 tuổi chết vì ăn thóc lép tán thành thính sinh táo bón, kế đó là em gái mới 3 tháng tuổi, mẹ không có sữa mà xin bú trực không ai cho. May được cô ruột đón về chăn trâu nên ông mới sống sót.

Ký ức của một con ở

Bà Đỗ Thị Chính ở xóm 1 năm đó 13 tuổi, hết đi ở cho ông hai Hoạch lại sang bà cả Phụng. Ngày bà chăn 2 con trâu, 2 con lợn sề, tối ngủ ngay bên xó bếp, đến bữa ăn chung nồi cháo cám với chó.

Được cái cháo cám cho chó là cám gạo tám nên khá ngon chứ không phải là cám gạo thường, lẫn nhiều trấu cho lợn. Lắm buổi đói quá, bà Chính tranh ăn hết phần của chó còn cám lợn thì chẳng dám ăn bởi không có vung đậy nên lúc nhúc ruồi nhặng.

Thế mà một bà khi đến xin làm thuê nhưng không được nhận đã van nài xin một bát cám lợn. Bà Chính can: “Toàn ruồi nhặng ăn vào đau bụng chết” mà người kia vẫn lăn xả vào húp. Về sau bà này bị chết đói dọc đường vào Thanh Hóa.

Một hôm, người hàng xóm chạy sang bảo bà Chính: “Thím Gia chết rồi mà thằng Còi vẫn còn rúc vào bú. Thím bế nó ra để cho tôi còn bó chiếu đem chôn”. Về sau Còi bị cho làm con nuôi, giờ vẫn còn sống nhưng không mấy khi trở về quê cũ.

Mẹ bà Chính khi đó vẫn thỉnh thoảng làm cỏ vườn thuê cho địa chủ, không trả tiền mà mỗi bữa được cho 2 bát cơm. Mẹ bà lén trút 1 bát vào khăn rồi lận luôn xuống bụng để phần cho lũ con ở nhà.

Cơm nóng khiến bỏng cả da nhưng mẹ bà không dám ngọ nguậy bởi sợ chủ nhà biết, lo không đủ sức lao động sẽ đuổi thẳng cổ. Nhìn bụng mẹ thâm hết vì giấu cơm nóng, bà Chính thỉnh thoảng đưa vụng cho 1 bát cháo cám. Được 3 – 4 lần thì chủ biết, cấm ngặt.

Bát cơm giấu trong khăn không thể chống lại cái đói cho cả nhà nên bố và 4 anh em của bà lần lượt chết. Chồng bà Chính sau này là ông Phạm Văn Cơ khi đó có bố mẹ và 6 chị em cũng chết đói.

Bà Chính bảo 3-4 lần giấu bát cháo cám đưa cho mẹ chống đói thì bị chủ nhà phát hiện, cấm ngặt!
Ninh Bình ghi nhận 37.939 người chết đói. Tạp chí Thanh Nghị số 119 ngày 24/5/1945 viết: “Chính sách thu mua thóc của người Pháp tàn ngược với dân quê vì giá mua của họ trả cho người dân thật tai hại. Như vụ vừa qua, tiền vốn 1 tạ tính ra mất 80 đồng mà giá bán cho nhà nước chỉ có 25 đồng 1 tạ trong khi giá thị trường lên đến 200 đồng 1 tạ. Mà số thóc dân quê phải nộp thường là ¾ số thóc thu hoạch, có khi quá cả số thóc gặt được. Nghĩa là có khi nông dân phải đong thóc thêm bằng giá 200 đồng để bán cho nhà nước và thu về 25 đồng”.

Nhờ làm mướn ở huyện khác nên ông mới thoát nhưng lúc về nhà chỉ thấy mỗi xác của bố. Nạn đói hằn sâu trong ký ức ông bà đến nỗi ăn bữa trước lại nghĩ bữa sau, không bao giờ dám bỏ đi dù chỉ là một hạt cơm.

Nhà nghèo trong làng khi đó hầu như đều chết vài ba người, chỉ duy nhất gia đình ông Bùi Nam Thư thoát nạn.

Ông Thư nay đã 89 tuổi mà khi kể lại chuyện 75 năm trước vẫn còn trào nước mắt. Bố ông vốn thức thời, thấy nguy cơ đói đã dắt díu 7 người trong nhà lên nhờ thuyền buôn muối ngược sông Đáy tới tỉnh Yên Bái.

Từ đó, bố đi Hải Phòng bán kem còn mẹ đi làm vú em cho nhà giàu.

Ông Thư khóc khi nhớ về nạn đói

Miền núi hồi ấy sẵn sắn nên ít đói. Ông Thư cùng lũ em phần xin, phần ăn trộm sắn trên nương để cầm cự. Một lần đi chăn trâu thuê ông cắt cỏ nhầm vào lá mái – một loại lá rất sắc mà ăn vào gia súc có thể bị đứt lưỡi. Ngay lập tức ông bị trói nghiến lại, đánh cho gần chết nên phẫn quá bỏ về quê.

Trước khi đi bà mẹ đem 6 đồng khâu vào dưới mảnh vá của áo ông như một chiếc túi bí mật.

Rúc gầm ghế tàu hỏa để trốn vé, tới Nam Định ông đi bộ về Ninh Bình. Khi qua đò sông Đáy, đến giữa dòng thì bị chủ đò dọa: “Mày không đưa tiền đây thì tao sẽ đập chết”.

Nhìn dòng sông khi đó dập dềnh toàn xác người đói, lắm cái chỉ có ba sợi lạt buộc bởi cánh tuần đinh nhiều làng ngại đào hố chôn cứ quẳng bừa xuống, ông rủn cả chân tay.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

II. ‘Thừa ăn’ mà chết đói, tài liệu từ phía Pháp

Trước khi qua đời, năm 2001, bác sĩ Ngô Văn Quỹ đã dành công sức viết về nạn đói năm Ất Dậu 1945 để làm tư liệu cho hậu thế…

Gạo ở miền Nam dùng để đốt lò

“Lần giở lại những tư liệu cũ, lòng càng xót xa đau đớn hơn nữa. Làm sao có thể hiểu nổi, có thể chấp nhận được, một nước có nền văn minh lúa nước lâu đời, từ xưa đến nay, nói chung lúc nào cũng “thừa ăn”, mà lại có hàng triệu người phải chết thê thảm vì thiếu ăn. Tôi xin nhắc lại và nhấn mạnh về hai chữ “thừa ăn”, vì đó là nhận định trong rất nhiều tư liệu của chính thực dân Pháp còn để lại”.

Các em bé đội khăn tang ngồi khóc người thân bị chết đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Ông Ngô Văn Quỹ đã viết như vậy. Và ông dẫn tài liệu của André Gaudel: Đông Pháp đối mặt với Nhật Bản. Cả bán đảo Đông Dương trước Cách mạng tháng Tám 1945 được coi là xứ Đông Pháp thuộc Chính phủ bảo hộ là nước Pháp. Khái niệm “thừa ăn” được hiểu theo nghĩa so sánh năng lực sản xuất lương thực với số dân, nạn đói chỉ xảy ra chủ yếu do nguyên nhân xã hội hay thiên tai lớn. Từ năm 1913 trở đi, sự “thừa gạo” càng ngày càng tăng. Riêng trong năm 1940 đã thừa ra để có thể xuất khẩu được 1.500.000 tấn gạo và thóc, nên riêng về gạo, năm nào cũng chiếm đến 2/3 kim ngạch xuất khẩu của chính quyền thuộc địa.

Trong năm 1937, Pháp đã nhập về chính quốc 43%, rồi năm 1938 là 52% số gạo thừa này. Năm 1939 Pháp xuất bán sang các nước Ấn Độ thuộc Anh, Nam Phi, Anh, Philippine 50% tổng số gạo thừa. Đến năm 1945, khi xảy ra thảm họa chết đói của năm Ất Dậu, là một năm tương đối được mùa (ở miền Nam), sản lượng thu hoạch được là 2.700.000 tấn thóc.

Ước tính nhu cầu của nhân dân là 1.600.000 tấn, vậy còn dư ra 1.100.000 tấn để xuất khẩu. Nỗi lo lắng lớn của chính quyền thuộc địa thời đó là không thể xuất hết ra ngoài được vì điều kiện chiến tranh, để lâu sợ mất giá, nên trong khi đồng bào ta nằm chết la liệt ở dọc đường dọc xá, thì chúng cho xây ở Sài Gòn những kho chứa 350.000 tấn, và gửi trong những kho chứa ở Chợ Lớn hơn 200.000 tấn nữa.

Ủy ban Ngũ cốc trực thuộc Phủ Toàn quyền đi về các tỉnh trù phú ở đồng bằng SCL thu mua thóc gạo với giá rẻ mạt để tích trữ lại. Ở Sài Gòn lúc đó, giá ngoài chợ có 7 xu một lít gạo trắng ngon.

Tha thứ nhưng không quên

Giờ đây đối với những tội ác trong quá khứ của quân cướp nước gây ra trên đất nước ta, nhân dân Việt Nam sẵn lòng tha thứ nhưng không quên. Vì “Chính sự quên lãng của những người sống làm chết đi những người đã chết” như một nhà văn Pháp đã từng viết.

Nhà máy nhiệt điện Sài Gòn có một thời không thể mua được than đá chạy máy, đã dùng thóc để đốt lò. Nhiều vị lão thành ở Sài Gòn ngày nay còn nhớ rõ điều này và Ủy ban cứu đói ở Sài Gòn đã có lần nêu lên báo chí. Giữa lúc nạn đói ở Bắc Bộ khủng khiếp nhất, chính quyền thuộc địa và quân đội Nhật tìm mọi cách để ngăn cản nhân dân Nam Bộ chở gạo ra Bắc bằng thuyền buồm và đường hỏa xa, đi từng đoạn một đến đâu chúng chặn lại và tịch thu luôn. Vào đêm chính biến 9 tháng 3 năm 1945, quân đội Nhật còn tích trữ ở cảng Sài Gòn hơn 200.000 tấn gạo để cho tàu đến chở về nước…

Thừa gạo tích trữ trong kho, đợi nâng giá xuất khẩu, nhẫn tâm để hơn 2 triệu con người phải chết đói thê thảm, tội ác này phải được phanh phui trước lịch sử nhân loại, cũng như trước lịch sử của dân tộc ta. “Nguyên nhân chủ yếu là sự đầu hàng nhục nhã của Pháp ở cả chính quốc lẫn thuộc địa trước quân Nhật”, bác sĩ Ngô Văn Quỹ nhấn mạnh.

Dồn dân vào thảm họa

Đô đốc Hải quân Jean Decoux lên làm Toàn quyền Đông Dương từ ngày 20 tháng 7 năm 1940 đến ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã viết trong hồi ký “Cầm lái Đông Dương”, cho thấy chính quyền thuộc địa cung cấp cho phát xít Nhật một khối lượng vật tư tài sản vô cùng to lớn bóc lột của nhân dân Việt Nam: Riêng về gạo, cung cấp cho Nhật 700.000 tấn (1941), 1.050.000 tấn (1942), 950.000 tấn (1943), 900.000 tấn (1944).

Đã thế, Decoux còn chấp nhận các yêu sách của Nhật, bắt dân nhổ lúa lấy đất cho chúng trồng các cây công nghiệp phục vụ cho chiến tranh. Năm 1940, quân Nhật đã dùng 7.750ha đất ruộng để trồng bông, năm 1944 diện tích này được tăng lên đến 62.000ha. Đồng thời 600ha ruộng cũng phải nhổ lúa lên để trồng đay, và đến năm 1944, diện tích này cũng tăng lên đến 1.700ha.

Ngoài ra, ông Quỹ nêu số liệu: “Nhật còn lấy 17.000ha đất ruộng để trồng những cây có dầu, lấy dầu trộn với dầu cá, dầu dừa, dầu lạc, làm một thứ dầu máy thay thế cho dầu mazout. Diện tích này đến năm 1944 đã tăng vọt lên đến 68.000ha. Như vậy, tính đến cuối năm 1944, nông dân đã mất đứt 131.700ha đất ruộng không được trồng lúa gạo nữa. Con số này chắc chắn còn dưới xa sự thật thì hỏi sao không dồn dân vào thảm họa chết đói”.

KHẢI MÔNG

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 3 – Một đại gia đình chết đói 60 người ở Nam Định

10/04/2019, 06:35 (GMT+7)Đói đến nỗi củ chuối, rau má, quả sung, quả sú vẹt cũng không có ăn mà cầm hơi, rét không có manh áo ấm che thân, nhà cửa đồ đạc có cái gì kể cả long ngai, bài vị, bát hương thờ tổ tiên cũng đem đi bán mà vẫn không cứu vãn được…

I. Một thời u ámNắm gạo lẫn cùng máu tươi

Những xác người chết đói buộc bằng 3 sợi lạt rồi thả trôi sông năm ấy nhiều đến nỗi có người giải thích rằng tên cửa Ba Lạt-nơi con sông Hồng đổ vào biển Đông hình thành từ đó. Đoạn chảy qua xã Hồng Thuận (Giao Thủy, Nam Định) sông không thẳng mà uốn cong như cổ trâu tạo thành một vũng xoáy khiến cho nhiều xác tấp vào bờ. Dân làng vớt lên đem chôn cạnh miếu Bách Linh.

Em bé trai gày còm không có quần áo trong nạn đói (Ảnh: Võ An Ninh)

Năm 1952 Pháp mở trận càn Bretagne huy động 21 tiểu đoàn thủy, bộ, không quân. Chúng dỡ miếu lấy gạch lót đường cho xe bánh xích càn vào đồng Thập Phiên lùng du kích. Hơn 20 năm sau, xí nghiệp gạch ngói huyện lại lấy một phần đất miếu để làm cơ sở sản xuất. Những nhát cuốc đầu tiên đào lên, lộ ra vô số xương cốt bó trong những manh chiếu, tuy đã mủn nhưng vẫn có thể nhìn rõ từng sợi ngang, sợi dọc in hằn.

Nhóm công nhân nữ 14 người của bà Vũ Thị Hằng khi đó có nhiệm vụ đào còn nhóm khác gồm 4 nam thì khiêng hài cốt đi. Suốt một tháng trời họ quy tập được gần 300 bộ. Đó chỉ là một phần nhỏ của khu mộ tập thể rất lớn xung quanh miếu. Đầu năm 2014, dân làng đồng lòng góp công, góp của dựng lại miếu Bách Linh mới trên cái nền cũ. Tôi về đúng dịp đó và gặp được những nhân chứng sống của một thời u ám.

Ngôi miếu Bách Linh mới được khôi phục

Ông Phạm Công Báo-nguyên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã kể, đến cuối năm 1944 thì dân quê đã đói vàng cả mắt. Đầu năm 1945 ông rủ ông Bùi Trang lên nhà bà cô ở tỉnh Yên Bái kiếm tí sắn về cầm cự.

Đến bến xe Nam Định, cả hai bỗng giật mình bởi một tiếng quát bằng thứ ngôn ngữ lạ. Tò mò nhìn lại thì thấy tên lính Nhật mắng xa xả mấy người đói rách đang vục tay vào lỗ thủng của một bao gạo trên chiếc xe kéo hắn áp tải. Quát mắng không lại, tên lính quay đầu súng, hướng lưỡi lê xiên thẳng vào bụng một người. Máu phun thành vòi, nhuốm đỏ vạt gạo trắng vãi trên đất. Người bị đâm giãy lên mấy cái rồi nằm bất động nhưng mấy kẻ khác vẫn xô vào tranh nhau bốc từng nhúm gạo lẫn máu, nhét mồm ăn.

Giới sử học Nhật Bản khi nghiên cứu về nạn đói 1944-1945 ở Việt Nam khá ngạc nhiên bởi quy mô và mức độ lớn như thế nhưng không thấy chuyện ăn thịt đồng loại như một số nạn đói ở các nước. Đây cũng là điều mà tôi ghi nhận từ các nhân chứng sống khi thực hiện loạt bài này.

Chưa hết bàng hoàng, cả hai vào quán ăn trong bến xe Lương Thực cũ gọi hai nắm cơm thì bỗng có một người từ đâu nhào tới cướp ngay trên tay ông Báo rồi chạy. Vừa ra đến cửa thì một người khác đã đuổi kịp anh này, túm chặt áo. Núng thế, kẻ cướp liền nhét vội nắm cơm vào miệng, trệu trạo nhai rồi nuốt chửng. Không chịu thua, người kia vật luôn xuống, đạp thốc tháo vào bụng khiến kẻ cướp phải nôn ra. Người vừa bắt cướp liền bốc bãi nôn đưa luôn lên miệng…

Nhà chết 60 người vì đói

Ngày 20/3 Nhật về bắt hai tên quan Pháp ở đồn Quất Lâm và Ngô Đồng, chính thức hất cẳng người da trắng để trực tiếp cai quản. Chúng bắt dân đóng thóc lẫm nhiều hơn cộng với nạn mất mùa vì bệnh vàng lụi khiến cho cái đói được đẩy lên đến cực điểm.

Trang 70 của cuốn lịch sử đảng bộ huyện Giao Thủy chép: “…Đói đến nỗi củ chuối, rau má, quả sung, quả sú vẹt cũng không có ăn mà cầm hơi, rét không có manh áo ấm che thân, nhà cửa đồ đạc có cái gì kể cả long ngai, bài vị, bát hương thờ tổ tiên cũng đem đi bán mà vẫn không cứu vãn được. Nhiều người phải bỏ xới để đi tha phương cầu thực rồi cũng phải bỏ xác nơi đầu đường, xó chợ, chết không có người chôn.

Nhiều gia đình chết không sót một người nào, riêng Giao Lạc 720 người, Giao Thiện 560 người, Giao Long 500 người. Toàn huyện trên 17.000 người chết, nhiều nhất là Quất Lâm 2.194 trong đó có 53 hộ gồm 265 người chết hết cả nhà (gia đình ông Sen ở xóm Lâm Quý, ông bà, vợ chồng, con cháu, dâu rể 60 người chết, gia đình ông Lâm ở xóm Lễ Thọ 30 người chết…)

Người đàn bà khóc đứa con vừa lọt lòng đã bị chết trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Làng lúc đó vắng bặt tiếng gà gáy, chó sủa, lợn kêu. Ngay cả tiếng người cũng hiếm vì không ai còn sức để mà nói. Những đám ma không người khóc than.

Chỉ có tiếng quạ kêu từ sáng đến tối trên nóc những nhà có người vừa chết.

Đại gia đình ông Vũ Ngôn hàng xóm với ông Báo có trên 20 khẩu vì có tới 7 con, người đã dựng vợ, gả chồng, kẻ vẫn còn đánh khăng, đánh đáo.

Vậy mà chết hết, sót lại mỗi người con nuôi tên Dần. Đại gia đình ông Vũ Ngự chết 14 người gồm vợ chồng ông cùng 3 con nhỏ, vợ chồng anh con trai lớn Vũ Bào cùng 2 con, vợ chồng người con rể cùng 3 con…

Nhà của một địa chủ còn sót lại ở xã Hồng Thuận

Vợ của anh Bào là người tắt thở cuối cùng. Khi liệu sức mình không thể trụ lại được nữa, chị quấn một manh chiếu rách che thân rồi lồm cồm bò ra đồng Thập Phiên rồi nằm xuống chờ chết. Vậy nhưng tử thần chưa chịu tới. Mấy người bắt ốc đi qua chứng kiến thỉnh thoảng chị lập cập đứng lên rồi lại ngã xuống. Cứ đứng lên rồi lại ngã xuống như thế đến 3 hôm sau chị mới chết trong tư thế ngồi.

Hai người đàn bà chia nhau nắm cơm trong nạn đói 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Bà Trần Thị Thanh năm đó đã 10 tuổi nên nhớ khá rõ: Sáng mẹ tôi cầm cái lá mít xúc cho mỗi người một nhúm cám rang, chiều lại chia cho một mẩu khoai lang luộc to bằng cỡ ngón chân cái.Làng Hà Cát khi đó mất chừng hơn 300 người, phần lớn là bần cố nông. Khắp các xóm xộc mùi thối khăn khẳn của tử thi bị bỏ quên. Đôi lúc người ta lại nghe thấy tiếng sủa của lũ chó hoang tranh nhau những mẩu thi thể chết đói hay tha lôi ruột của họ vắt từ bên này đường sang bên kia đường.

Trước đó, bố tôi vốn cẩn thận đã trữ được một hũ thóc cỡ 10 kg đem chôn ngay tại vườn, vệ sinh ngay lên trên để đề phòng người lạ nhòm ngó. Từ cái hũ ấy, mẹ tôi mấy ngày lại lấy ra một ít thóc giã thành cám để cả nhà cầm cự.

Một buổi mẹ bà Thanh nghe thấy có tiếng trẻ khóc khào khào phát ra từ nhà ông Phạm Quyền, tìm sang thì thấy 7 cái xác người đang nằm xếp lớp, ruồi nhặng đen đặc.

Da bụng của bà Quyền đã thâm lại nhưng đứa con 2 tuổi vẫn còn bám chặt vào, mồm nó vẫn còn nhay bầu vú đã héo khô. Mẹ bà bèn bế đứa bé về nhà.

Bố bà trông thấy thế, thở dài sườn sượt vì lo cho đàn con 4 đứa còn chưa chắc đã qua khỏi nạn đói huống hồ con nhà người. Vậy nhưng, một lúc sau ông lại bảo vợ nhá rồi bón cho đứa bé một nhúm cám.

Nhờ mỗi sáng có một lá mít cám, mỗi chiều có một mẩu khoai lang mà cả nhà bà Thanh cùng người con nuôi mới nhặt đã thoát chết…

Bà Trần Thị Rụt khi đó cứ ám ảnh mãi cảnh tượng mẹ mình chết hôm 15 thì đến hôm 17 bố cũng chết nốt. Anh em bà vì thế phải lang thang khắp nơi, mót từng hạt cỏ lồng vực ngoài đồng về giã nhỏ ra để ăn thay cám.

Cả một ngày tìm cật lực cũng chỉ được chừng một nắm thế nhưng chính những hạt cỏ nhỏ bé lại cứu mạng họ khi tưởng như đã cầm chắc chết.

Bà Rụt mất cả cha lẫn mẹ chỉ trong 2 ngày

Hoành Nhị hồi ấy là huyện lị của Giao Thủy, có cái sân vận động rất to. Năm đói, chẳng có hoạt động vui chơi nào ở đây mà toàn là người nghèo đến tá túc. Ngày họ túa đi các chợ quanh vùng kiếm lá bánh, bã mía, vỏ chuối…ăn cho đỡ cồn ruột. Đêm họ ngủ vòng tròn quanh những đống rấm đốt lên cho đỡ rét, đỡ muỗi. Suốt 6-7 tháng đói, quanh sân vận động người ta nhặt được 200-300 xác, phần lớn của dân ngụ cư, vô danh.

Sau lưng là cái đói, trước mặt là biển Đông, ở quê kiểu gì cũng chết nên nhiều người đánh liều tha hương. Giao Thủy tựa như một ốc đảo khi đó, chủ yếu thông thương với bên ngoài qua các bến tàu Bạch Thái Tòng lên Nam Định, bến đò bà Cai Dĩnh lên Hà Nam. Lúc này các bến cũng chật ních người đói, nhiều nhất là các xã Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Thiện… Họ đi vu vơ lên Hà Nam vì nghe đồn ở đó cần người gặt thuê nhưng chẳng ai mướn đành phải trở về. Cơn đói lại dày vò từng đường gân, thớ thịt, buộc họ phải đi tiếp. Lần này xa hơn, Hà Nội-nơi tụ tập của những đoàn người đói khắp miền Bắc kéo về, miền Trung kéo ra đồng thời cũng là nơi có những nấm mồ tập thể lớn nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại.

Sau khoảng 1 tuần nhịn đói, cơ thể sẽ tiêu hết chất béo vốn trữ năng lượng. Tiếp đó gan sẽ bị rối loạn, các độc tố sẽ tàn phá cơ thể từ bên trong. Đau đớn khiến cho người ta chỉ muốn tìm đến cái chết nhưng vẫn còn phải chịu đựng thêm 20-30 ngày nữa. Lịch sử Nam Định ghi nhận có 212.218 nạn nhân đói năm 1944-1945, có những người tuy chết mà không thể nhắm mắt được.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG
II. Tai hại chết người lệnh cấm chở gạo từ Nam ra Bắc

Ông Phan Khánh, cán bộ hưu trí Bộ Thủy lợi, nhân chứng của nạn đói năm 1945 nhớ lại năm đói ở miền Trung…

Tôi muốn nói đến quê tôi, làng Yên Bài (nay là xã Sơn Ninh), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh…Làng tôi chừng 200 nóc nhà, 800 nhân khẩu thì có gần 200 người chết đói. Ngay từ cuối năm Giáp Thân (1944), khi móng vuốt của giặc đói vừa giơ ra thì bộ máy cai trị đã làm ngơ. Người chết đói vào giữa tháng 2 đã nhiều như ngả rạ. Chính quyền vẫn bất động. Không có một sự kêu gọi cưu mang giúp đỡ nào, dù là chút ít. Còn bọn nhà giàu trong huyện, thóc chất đầy “lẫm” (kho).

Cánh hàng xáo làng tôi tới hỏi mua, chúng cười khẩy: “Thóc ta để nhìn cho sướng mắt. Ruộng vườn, nhà cửa, tiền bạc… ta đã nhiều, bán để làm gì?”. Cả huyện Hương Sơn, tôi chỉ thấy một vị quan lớn về hưu (Nguyễn Khắc Niêm, bố đẻ nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện) là có suất gạo nấu cháo phát chẩn cho dân làng. Tiếc rằng vị này không giàu nên sự cứu đói của ông chẳng thấm vào đâu. Còn đại đa số bọn giàu có, đắp chăn cho thóc “nằm ngủ”, thản nhiên nhìn dân chết đói.

Cảnh lầm than của năm đói (Ảnh: Võ An Ninh)

Rõ ràng, để dân chết đói là một tội ác của Pháp, Nhật và bọn địa chủ. Chúng đổ lỗi cho thiên tai (hạn hán và lũ lụt). Theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được, hạn hán ở Bắc Bộ và Trung Bộ xảy ra thường xuyên, nhưng thường là diện hẹp, thiệt hại không quá lớn. Tính từ năm 1930 đến năm 1944, chỉ có năm 1932 là Nghệ An bị hạn hán nặng, toàn tỉnh chết đói gần 500 người. Cũng tương tự, năm 1939, năm 1944 lại là năm được mùa. Sản lượng thóc tính bình quân đầu người là tính theo lý thuyết, thực tế còn thấp hơn nhiều.

Mặt khác, thóc còn dành làm giống và phần lớn tập trung trong tay người giàu. Về lý thuyết cũng như thực tế, nếu toàn bộ ruộng đất Bắc Bộ và Trung Bộ được huy động để trồng lúa, cho dù có được mùa, nếu nơi nào tiêu thụ nơi ấy thì Bắc Bộ sống cầm chừng, Trung Bộ có nguy cơ chết đói.

Từ năm 1942, ở Bắc Bộ, gần 1/2 diện tích ruộng Pháp và ruộng Nhật bắt phải trồng đay. Trung Bộ, tôi chỉ biết ở Nghệ Tĩnh chúng cũng bắt bỏ lúa trồng lạc. Đay và lạc (đậu phộng) đều do chúng thu mua. Như vậy sản lượng theo đầu người đã giảm đi một nửa. Ngoài ra, chúng còn từng mua thóc bắt buộc tính theo diện tích ở cả Bắc Bộ và Trung Bộ. Trong tình thế đó, lệnh cấm chở gạo từ Nam ra Bắc qua đèo Hải Vân chính là lệnh cấm tai hại.

Hơn 70 năm đã qua, có người thử hỏi, giá gạo Bắc – Nam chênh nhau hàng trăm lần, như vậy cấm thế nào được buôn lậu khi mà giao thông thủy bộ đều thông suốt. Xin thưa, không ai dám liều với thanh gươm của giặc Nhật lúc đó. Chỉ 10 kg gạo có thể nhận một nhát chém từ vai xuống, không cần xét xử.

“Lúa chiêm năm Ất Dậu (1945) rất tốt. Người ta nói là nhờ hơi người chết. Nhưng có lẽ vì sạch bách chuột bọ, côn trùng. Chỉ phải cái thu hoạch quá muộn. Đầu tháng 4 âm lịch, thấy lúa chiêm đã ngậm sữa, một số người quá đói bò ra ruộng, bóc đòng lúa ăn ngấu nghiến. Có người gục chết tại ruộng. Ít lâu sau, lúa đặc sữa, các nhà khá giả cũng không đợi được, gặt về, đập xong phải luộc cho lúa đặc lại rồi mới phơi hoặc rang để thổi cơm. Đói quá, có cơm một số người ăn no, cũng lăn ra chết”.

KHẢI MÔNG

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 4 – Đói từ khắp nơi, đói về Hà Nội

11/04/2019, 06:35 (GMT+7)“Trong bài giảng đại học, tôi dạy về nạn đói Việt Nam. Mong muốn nhiều người Nhật biết sự kiện này và muốn đóng góp hòa bình thế giới”. Ito Masako-giảng viên Đại học Kyoto Nhật đã ghi như thế trong cuốn sổ lưu niệm tại khu mộ tập thể vạn người chết đói ở Kim Ngưu, Hà Nội…

 

I. Khu mộ tập thể vạn người chết đói ở Kim Ngưu, Hà NộiThứ khiến cho nhiều người Nhật phải cúi đầu

Tấp nập của phố phường khiến cho ít người để ý đến trong cái ngõ nhỏ sâu hun hút 559/86/17 đường Kim Ngưu, Hà Nội có một cánh cổng dẫn vào khu mộ chứa hàng vạn bộ hài cốt năm đói. Tôi chầm chậm lật giở hai cuốn sổ lưu niệm ở đây. Cuốn thứ nhất ghi từ ngày 18/4/2006 có 36 trang thì 5 trang có người Việt viết còn lại toàn là người Nhật. Cuốn thứ hai đến thời điểm này có 19 trang thì 2 trang có người Việt còn lại cũng toàn là người Nhật.

Ông Đặng Văn Tuyến – bảo vệ khu còn đưa cho tôi xem cuốn sách bằng tiếng Nhật có tên “Một phần của lịch sử Mỹ – chiến tranh Việt Nam” của Shirai Yoko viết sau khi đến thăm nơi này.

Khu mộ tập thể ở Kim Ngưu

Ở trang 11, 12 có ghi rõ từ năm 1944 đến 1945 tại Bắc Bộ do lũ lụt và chính sách cưỡng chế cung cấp lương thực của quân Nhật khiến 2 triệu người chết đói nên xảy ra sự kiện Việt Minh kêu gọi phá kho thóc cứu đói.

Tại sao những người Nhật lại quan tâm nhiều đến nơi này như vậy? Làm bảo vệ ở đây từ 2005 ông Tuyến vẫn nhớ rõ vẻ mặt đanh lại, u buồn và hối lỗi của những đoàn khách Nhật đến đều đặn hàng năm. Có người còn khóc rồi bảo rằng ngày xưa bố mình cũng tham chiến ở Việt Nam: “Bản thân chúng tôi không gây ra tai họa này nhưng nước tôi đã gây nên. Hôm nay chúng tôi đến đây để thắp hương xin lỗi các vong hồn của nạn đói ngày xưa”.

Có đoàn sau khi thắp hương xong còn đòi vào thăm nhà riêng khiến cho ông phải báo cáo công an phường rồi mới dám dẫn về. “Tại sao ông lại nhận trông khu mộ này?”. Họ hỏi. Ông thực thà trả lời: “Thảm họa này do nước các ông gây nên. Chúng tôi, thế hệ hậu sinh muốn thắp nén tâm nhang cầu cho những vong hồn được siêu thoát”. Đoàn khách bỗng đầu cúi xuống, mắt đỏ hoe. Chưa bao giờ quá khứ và hiện tại lại gần nhau đến thế!

Ông Tuyến bên khu mộ

Thảm cảnh tại thủ đô

Hà Nội của 75 năm trước tuy không phải là nơi nạn đói hoành hành dữ dội nhưng lại là thỏi nam châm khổng lồ hút người đói từ khắp nơi đổ về. Trong bài thơ “Đói”, thi sĩ Bàng Bá Lân đã tả: “Đói từ Bắc Giang đói về Hà Nội / Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm / Khắp đường xa những xác đói rên nằm / Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp / Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt / Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma / Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa / Như muốn bắt những gì vô ảnh…”.

Vận chuyển hài cốt về mộ tập thể (Ảnh tư liệu)
“Lại thêm người đói các nơi ùn tới. Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con. Ở làng tôi, người quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng. Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán gà lợn. Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì. Bắt đi lắm khi lại dắt về. Khốn khổ” – Tô Hoài, “Chuyện cũ Hà Nội”.

Còn trong bức thư tháng 4/1945, tác giả Vespi viết: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy.

Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó”.

Dân Hà Nội hồi đó phải mua gạo bằng thẻ do chính quyền cấp, dù không đủ no cũng ít khi chết đói.

Ví như làng Vân Trì ở Từ Liêm nơi bà Nguyễn Thị Hòe (nhân vật trong bài đầu) lưu lạc từ Thái Bình đến chỉ chết 3 người.

Nhưng số phận của những kẻ ngụ cư lại khác. Họ lang thang khắp phố phường rồi ngã gục dần vì đói.

Những ai còn đủ sức thì tụ tập thành từng đoàn thất thểu về Trại tế bần Giáp Bát hay Viện tế bần ở phố Sinh Từ.

Báo Bình Minh số 21, ngày 12/4/1945 viết: “Chúng tôi đã chọn trong những hành khất 200 người làm phu xuống sửa sang trại Giáp Bát.

Sáng thứ hai 9/4/1945 chúng tôi cho 2.000 ăn mày xuống đó xong chúng tôi sẽ cho dùng xe bò chở xuống trại tất cả những người ốm đau. Như thế thành phố sẽ nhẹ hẳn đi được một gánh thương tâm và nguy hiểm…Cả thành phố chúng ta bây giờ phải cố vào công việc này để cứu lấy đồng bào và tự cứu mình… Mỗi ngày số cơm thu được ước hai tấn”.

Báo Tin Mới, số 1609 ngày 29/4/1945 viết: “…Trại lập trên một đám đất rộng 25 mẫu. Trong trại 32 gian nhà, xếp đặt thành từng khu, thứ tự và ngăn nắp. Đây là nơi ngày trước dùng làm chỗ ở cho những vợ con binh lính trường bay Bạch Mai. Bây giờ, Tổng hội Cứu tế tổ chức thành trại thứ nhất chứa những đồng bào sống dở chết dở trên các bờ hè thành phố hà Nội… Tôi nhìn lên tấm bảng đen treo trước của Tổng bộ.

Quy tập xương (Ảnh tư liệu)
“Khi đi nhặt xác, gặp ai ngắc ngoải, bọn này cũng lôi đi chôn, vì nếu có để lại thì rồi cũng đến chết nốt. Lúc bị vùi xuống hố, những người ấy còn chắp tay van lạy nhưng bọn người đi chôn cũng cứ lấp đất đi vì không chôn được người thì không được trả công” – Tô Hoài, “Chuyện cũ Hà Nội”, trích lại những dòng tin về nạn đói của phóng viên tờ Tin Mới bị kiểm duyệt của Nhật cắt bỏ nhưng thợ in đã lén tuồn ra ngoài.

Tôi đọc: Ngày 26/4/1945, Buổi sáng số người còn lại 3.036, số người chết 16; Buổi chiều số người còn lại 3.020, số người chết 18, số người vào 2.000, số người còn lại 5.002”.

Báo Bình Minh số 36 ngày 2/5/1945 còn thông báo về việc tìm xác chết tại Hà Nội như sau: “Bà con trong thành phố thấy có xác chết ở chỗ nào xin báo ngay cho hội Hợp Thiện… Hội đã nhận được của cụ Thụy Thành cho 100 đôi chiếu và 300 thừng, các bà Hòa Tướng 100 đôi chiếu và 300 thừng, Đức Sinh 100 đôi chiếu và 300 thừng, Hội Ái hữu Đốc lý 300 đôi chiếu, ông Hồ Công Sĩ một lô bao cói. Hội cần nhiều chiếu, thừng và vôi bột để dùng vào việc chôn người chết đường. Các nhà từ thiện có lòng giúp đỡ xin cứ gửi”.

Thành phố ngày ấy có hàng trăm nấm mồ tập thể mọc lên khắp nơi mà lớn nhất là nghĩa trang Hợp Thiện (Kim Ngưu) và Phúc Thiện (nằm trong công viên Thủ Lệ). Giờ chỉ Hợp Thiện là còn dấu tích.

Nhà cửa xây trên những cốt người

Khu tưởng niệm được lập nên năm 1951 trong nghĩa trang Hợp Thiện cũ do chính người dân Thủ đô tự bảo nhau mang xe bò đi quy tập hàng vạn hài cốt từ nhiều nấm mồ tập thể, cá nhân nằm rải rác khắp phố. Lễ khánh thành còn có sự chứng kiến của người Pháp. Thế rồi, ngôi mộ tập thể ấy bị lãng quên mấy chục năm ròng. Gần đây, cơn lốc đô thị hóa khiến cho người sống phải giành đất với người chết, diện tích khu bị co hẹp, bỏ hoang tàn.

Nhờ đề tài “Cải tạo không gian tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói 1944 – 1945” của 3 sinh viên của Trường đại học Kiến trúc Hà Nội năm 2001 mà đến năm 2003, Hà Nội đã đầu tư xây dựng lại.

Phân loại xương (Ảnh tư liệu)

Đến năm 2013 khu lại được tôn tạo lần cuối nhưng vẫn rất nhỏ bé với diện tích 158m2, đơn sơ chẳng có gì nhiều và bị nhà dân xây bọc kín…Bức tường có đắp dòng chữ “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944 – 1945” từ năm 1951 được giữ nguyên còn khu bể mộ chứa hài cốt được ốp đá, bịt bớt các lỗ thông âm dương để không thể nhìn thấy xương cốt bên trong nữa.

Ông Tuyến vốn là tổ trưởng dân phố. Lúc bấy giờ, do người trông mộ không được đảm bảo nên ông mới báo cáo lên phường tìm người thay thế mà mãi chẳng có ai, đành nhận chỉ định coi luôn từ đó.

Mức hỗ trợ ban đầu 500.000 đồng/tháng, sau nâng lên 1.000.000 đồng/tháng và giờ là 1.500.000 đồng/tháng. Khu mộ khá vắng vẻ, thoảng mới có người qua bỏ vài đồng bạc lẻ vào hòm công đức để mua dầu đèn, hương oản.

Ngày hai lần sáng và chiều ông Tuyến quét dọn, thắp hương đủ 3 ban thờ vong, thờ thần, thờ Phật và tiếp khách. Ngay cả hôm 30 Tết cũng thế.

Chia gạo cứu đói (Ảnh tư liệu)

Ông kể, cứ sau mỗi lần báo đài nhắc về khu mộ là thường có những người già nhờ con cháu chở đến, thắp hương rồi bảo: “Suốt cả đêm qua tôi không ngủ được, giờ tôi giờ mới biết ở Hà Nội lại có nơi tưởng niệm này”.

Lại có những người nhờ nhà ngoại cảm chỉ mà cứ đinh ninh rằng người thân của mình chết năm đói năm xưa được quy tập về đây nên xin di cốt đi khiến cho ông phải giải thích mãi.

Nhiều người đến thăm cứ trăn trở chuyện tại sao lại không đặt một tượng đài ở đây để tưởng niệm cho thảm họa của cả dân tộc?

Ông Tuyến bảo: “Ngay cả cái nhà thắp hương này trước cũng là giải tỏa của một hộ dân mới có. Muốn dựng tượng đài phải có ít nhất từ 500m2 trở lên, phải giải tỏa tiếp.

Trước khi tôn tạo, cũng có họp mấy lần, có đề nghị phải mở rộng diện tích, xây dựng tượng đài nhưng rồi lại chẳng thấy đâu”.

Khánh thành khu mộ năm 1951 (Ảnh tư liệu)

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG
II. Quần nhau với “giặc đói”

“Cách mạng đã thắng nạn đói” là báo cáo bằng tiếng Pháp của ông Hoàng Văn Đức – Giám đốc Nha Nông chính Bắc Bộ (Bộ Canh nông) được cơ quan thông tin nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành tại Paris tháng 5/1946. Báo Nông nghiệp Việt Nam sử dụng nguyên văn bản dịch tiếng Việt do chính tác giả thực hiện.

Tình cảnh bế tắc

Đói ăn là bệnh đặc hữu ở miền Bắc Việt Nam (Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ). Vậy mà chính quyền bảo hộ Pháp chẳng mảy may quan tâm đến. Năm 1943 – 1944: Chế độ thu thóc khét tiếng hoạt động ráo riết. Trên lưng một dân số bị nạn đói đe dọa nặng nề hơn bao giờ hết, người ta lấy đi mất 192.000 tấn thóc năm 1943 và 185.000 tấn thóc năm 1944. Tháng 10 và 11 năm 1944, bão và mưa muộn kéo dài bất thường gây thiệt hại lớn cho vụ lúa mùa. Vụ lúa tháng 10 bình thường thu hoạch 1.088.771 tấn thóc (sản lượng bình quân tính từ năm 1938 đến năm 1943), tháng 11 năm 1944 chỉ gặt được 1.000.000 tấn thóc, thất thu mất 88.711 tấn. Thêm vào đó, 185.000 tấn thóc chính quyền Pháp thu của dân để nuôi quân đội Pháp và quân đội Nhật, ta có tổng số thiếu hụt lên tới 273.711 tấn.

Những cây ưu tiên (đay, thầu dầu) mà họ dùng vũ khí buộc nông dân phải trồng, chiếm đất của các cây hoa màu lương thực, những vụ oanh tạc của máy bay gây xáo trộn khó khăn cho việc tiếp tế lương thực, bộ máy thu thóc hoạt động ráo riết gây nên tệ tham nhũng và bán đầu cơ. Và cuối cùng, việc tích trữ lương thực làm bế tắc luồng lưu thông thóc gạo. Tất cả những sự kiện đó cộng vào một chế độ đàn áp dã man, làm bùng nổ một thảm họa lớn nhất mà một dân tộc phải trải qua. Thiếu ăn cực độ đi đến chết đói.

Người đàn bà đang ngồi ăn con chuột sống để chống đói (Ảnh: Võ An Ninh)

Từ ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trực tiếp nắm quyền điều hành tại Việt Nam. Chế độ thu thóc tiếp tục hoạt động. Tình thế đã căng thẳng lại nguy ngập thêm. Đến tháng 5/1945, vào lúc lúa chiêm được thu hoạch – bình thường, vụ lúa chiêm thu hoạch được 700.000 tấn thóc – dự trữ lương thực nhiều nhất chỉ đạt 700.000 tấn thóc chiêm + 92.600 tấn hoa màu lương thực quy ra thóc, tổng công 792.600 tấn lương thực quy thành thóc, do đấy người dân chỉ có một khẩu phần 16,5kg thóc, tức 11kg gạo/người/tháng.

Phải trông vào dự trữ đó để qua một thời kỳ chuyển tiếp dài 6 tháng, từ lúc thu hoạch vụ lúa chiêm đến vụ thu hoạch lúa mùa vào tháng 11. Tám triệu người ăn đói từ tháng giêng, đáng lẽ cần có một khẩu phần trên 26,5kg thóc/người/tháng, nhưng chỉ có ăn 16,5kg thóc tức 11kg gạo/người/tháng. Tình trạng thiếu ăn đã tới cao điểm. Ta đứng trước một trạng thái thăng bằng bấp bênh đến mức chỉ một biến cố nhỏ cũng gây tai họa lớn.

Thiên tai, địch họa

Cùng với những chính sách của chính quyền bảo hộ, những biến cố thiên nhiên dồn dập tới cực kỳ nhanh. Tháng 8/1945 xảy ra trận lụt lịch sử. Mức nước ở Hà Nội đạt đỉnh lũ là 12,68 mét. Trước đó, mực nước lớn nhất đo được là 12,30 mét. Nước ngập phần lớn miền đông đồng bằng Bắc Bộ, ngập cả đến vùng đất cao miền trung du (Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phúc Yên). Trong tổng số 830.000 ha lúa mùa, 350.000 ha mục sâu dưới nước. Thiệt hại ước tính trên 300.000 tấn thóc. Một phần lớn dự trữ lương thực bị mất và phải 3 tháng nữa lúa mùa mới được thu hoạch.

Chưa hết, từ ngày 15/9 đến ngày 15/12 không có một giọt nước mưa. Những đồng lúa mùa ở chân ruộng cao thoát không bị ngập trong vụ lụt vừa qua nay lại bị hạn. Mùa màng còn lại sau vụ lụt lại bị mất đi 50%. Cuối cùng, đến vụ thu hoạch lúa mùa (tháng 11/1945). Trung bình hàng năm lúa mùa thu hoạch được 1.088.000 tấn thóc, nông dân chỉ gặt được 500.000 tấn thóc. Đó là vụ mất mùa lớn nhất từ trước đến nay. Cũng trong lúc này, ở Bắc Trung Bộ tình hình lương thực đột nhiên trở nên nguy ngập: Một trận lụt bất thường ngập lúa trên đồng gây thiệt hại 100.000 tấn thóc ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Tám triệu người lâm trong cảnh thiếu thốn vật chất quá nghiêm trọng, đặc biệt là thiếu ăn…đã làm chết 2 triệu nông dân.

Nhà nhà tăng gia

Để đẩy lùi nạn đói, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã làm mọi biện pháp. Trong đó, ngày 19/11/1945, Bộ Canh nông mới thành lập được 4 ngày đã thiết lập Ban Tăng gia sản xuất Trung ương với chức năng vận động tăng gia sản xuất và hướng dẫn kỹ thuật.

Ngay sau khi được thành lập, Ban Tăng gia sản xuất Trung ương đã xuất bản tuần báo “Tấc Đất” (tiền thân của báo Nông nghiệp Việt Nam ngày nay) do Kỹ sư Canh nông Hoàng Văn Đức làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, là cơ quan vận động sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật. 50.000 số báo đã được gửi đến các Ban Canh nông tỉnh, huyện, xã, phát không ở khắp các địa phương từ vĩ tuyến 16 trở ra.

Báo Tấc Đất 1945
“Phép lạ” đã thànhNgay từ tháng 1/1946, khi vụ ngô khoai thứ nhất kết thúc được mùa, cảm tưởng chung là “phép lạ” đã thành, sẽ không có nạn đói. Tuy vậy, Chính phủ và các chuyên gia dụng ý không công bố kết quả mong chờ, phải duy trì đà tiến công đã có, đề nghị nhân dân gieo trồng nữa, sản xuất nhiều hơn nữa.

KHẢI MÔNG

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Bài 5 – Tranh luận về số người chết và nguyên nhân nạn đói

12/04/2019, 06:35 (GMT+7)Đây có lẽ là tranh luận không bao giờ có hồi kết bởi chứng cứ hiện tại không còn nhiều và nhân chứng phần lớn đã chết hoặc quá già, chỉ có những gì tiệm cận nhất với sự thật lịch sử mà thôi…

I. Tranh luận không bao giờ có hồi kết

Đi điều tra nhờ tiền di chúc của cha

Năm 1994, Giáo sư sử học Văn Tạo nhận được một bức thư của ông Furuta Motoo, Giáo sư trường Đại học Tokyo, Chủ tịch thường trực Hội Hữu nghị Việt – Nhật trong đó kể về khoản thừa kế theo di chúc của cha trước khi qua đời với mong muốn dành một phần để làm một cái gì có ích cho Việt Nam. Và Giáo sư đã muốn dùng khoản đó (10.000 USD) cho chương trình hợp tác khoa học của Hội Hữu nghị Việt – Nhật về đề tài “Quan hệ Việt – Nhật thời kỳ 1940-1945”, trọng tâm là nghiên cứu về nạn đói 1944-1945.

GS Furuta Motoo (ảnh tư liệu) và bức thư gửi cho giáo sư Vũ Tuyên Hoàng

Đoàn đã khai thác tư liệu từ nhiều nguồn và chủ yếu là khảo sát, điều tra thực địa trên 23 điểm thuộc 21 tỉnh, thành từ Quảng Trị trở ra với ba đợt năm 1992, 1993-1994, 1994-1995. Đã huy động nhân lực của hàng trăm nhà nghiên cứu ở trung ương và địa phương và hàng ngàn nhân chứng. Cuốn sách viết chung “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử” được hoàn tất sau đó.

Có nhiều nguyên nhân được lý giải: Chính sách thu mua thóc bắt buộc với giá rẻ, miền Bắc mất mùa, Nhật chặn gạo vận chuyển từ miền Nam ra để phục vụ cho chiến tranh, sự giả dối của chiến lược vùng thịnh vượng chung Đại Đông Á nhằm ăn cướp lương thực…

Hai tác giả cũng có những điểm khác biệt trong góc nhìn. Nếu GS Văn Tạo coi phát xít Nhật là nguyên nhân chính gây nên thảm kịch này và kịch liệt lên án thì GS Furuta Motoo lại đi sâu vào kỹ thuật hơn khi khảo sát diễn biến cụ thể của thảm họa, ở đâu khốc liệt nhất, tầng lớp nào chết nhiều nhất, sự mất nhân tính trong cơn đói thế nào…

Cổng của khu mồ tập thể Hợp Thiện ở Hà Nội
Tại 23 ngôi làng mà đoàn điều tra, tỷ lệ người chết đói tính trên tổng dân số năm 1945 được phân bố từ 8,37% của Nhượng Bạn tỉnh Cao Bằng đến 58,77% của Quần Mục TP Hải Phòng, có 6 làng tỷ lệ người bị chết đói hơn 40%.

Công trình đã chứng minh con số 300.000 người chết đói mà phía Nhật đưa ra khi đền bù chiến tranh cũng như con số 1 triệu người chết đói mà chính quyền miền Nam đưa ra hồi 1959 khi đòi Nhật bồi thường là chưa chính xác. Trang 19 phân tích: “Cuốn Lịch sử Hà Nam Ninh xuất bản năm 1988 đã ghi, phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) mỗi ngày chết 400 người.

Huyện Kim Sơn (Ninh Bình) cả vụ đói năm 1945 có 22.908 người chết đói…Con số người chết đói của tỉnh Hà Nam Ninh (bao gồm ba tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình) là Nam Định chết 212.218 người, Hà Nam chết 50.398 người, Ninh Bình chết 37.939 người.

Riêng tỉnh Thái Bình, nơi mà nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban Lịch sử tỉnh điều tra, nghiên cứu và tổng kết cho biết con số tương đối sát thực tế là: “Cả tỉnh chết đói mất 280.000 người”. Như vậy chỉ tính số người chết đói ở bốn tỉnh cũ kể trên đã lên tới 580.547 người thì con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ, tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà nội, Hải Phòng là gần với sự thật”.

Nhật từng đền bù chiến tranh cho Việt Nam

Ngay tại Nhật, những người thừa nhận nạn đói ở Việt Nam năm 1944-1945 là có thật vẫn còn băn khoăn về sự sai khác con số giữa các nguồn tài liệu, về các nguyên nhân gây nên.

Năm 1993, nhà nghiên cứu Saotome Katsumoto đã cho ra đời tại Nhật Bản cuốn sách “Ghi chép về 2 triệu người chết đói của Việt Nam” nhờ vào việc phỏng vấn nhân vật ở một số tỉnh thành như Thái Bình, Hải Phòng… và khảo sát nhiều tài liệu, báo chí tiếng Nhật. Tác giả cho biết khi nạn đói năm 1945 xảy ra ở Việt Nam 2 triệu người đã chết đói (trang 127). Tác giả cũng cho biết, trong cuốn lịch sử bậc trung học cơ sở của Nhật Bản do Nihon Shoseki xuất bản (phát hành năm 1993), phần về chiến tranh Thái Bình Dương cũng ghi nhận 2 triệu người Việt Nam chết đói.

Theo Giáo sư Yoshizawa Minami trong cuốn sách Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta, trang 2 thì: “Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản trong việc đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi thường chiến tranh đã đưa ra một đề án để trình Quốc hội Nhật Bản trong đó có đoạn viết: “Sở dĩ có tình hình đặc biệt ở khu vực Việt Nam là do sự có mặt thường xuyên của khoảng trên dưới 8 vạn quân ta và vai trò của 20 vạn lực lượng hậu cần đối với khu vực phía Nam. Do đó tình hình kinh tế ở đây hỗn loạn đến cực độ…

Thêm vào đó, bước vào năm Thiên Hòa thứ 20, dự đoán đã có tới 30 vạn người chết đói vì trưng thu khá nhiều vật tư. Chính phủ Việt Nam (tức chính quyền Ngô Đình Diệm) tính con số đó là 1.000.000 người.

Ở Nhật Bản, có một số người phản đối Hiệp định bồi thường vì lý do chính trị đã tính số người chết đói ở vùng Bắc Bộ là 2.000.000 người.

Có lẽ hai con số đó có phần khuếch đại. Nếu tính cả những người thiếu dinh dưỡng trước lúc chết đói thì cũng có thể đạt tới con số như vậy. Ngoài ra, trong đó hàng vạn công nhân bị lao động cưỡng bức, chúng ta cũng không khó khăn gì mà có thể thấy được có khá nhiều người chết”.

GS Văn Tạo lập luận: “Nếu chỉ vì do thiếu dinh dưỡng hay bị cưỡng bức lao động khiến bị kiệt sức mà chết thì trong suốt hơn 80 năm thực dân Pháp thống trị, tình trạng trên vẫn thường xuyên xảy ra nhưng có bao giờ bị chết hàng triệu người trong một thời gian ngắn như vậy không? Còn nạn mất mùa năm 1944 là có thật. Nhưng nếu được đưa gạo từ miền Nam ra và không bị phát xít Nhật cướp đi thì không thể có nạn đói như vậy được” (trang 21 Nạn đói năm 1945-Những chứng tích lịch sử).

Cũng theo ông: “Chính quyền Ngô Đình Diệm không thể là đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam để nhận bồi thường được. Đấy là chưa nói về pháp lý đơn thuần thì nạn đói xảy ra ở miền Bắc chứ không phải ở miền Nam Việt Nam. Còn về khoản bồi thường, một nhà sử học Nhật Bản đã nói ở ngoài lề Hội thảo khoa học Hòa Bình châu Á và vai trò của Nhật Bản…tổ chức vào tháng 12/1992 ở Tokyo rằng khoản bồi thường quá ít ỏi, chỉ đủ mở một bữa tiệc khoản đãi nhau là hết.

Thực tế, như trong cuốn Chiến tranh châu Á trong tiềm thức của chúng ta, Giáo sư Yoshizawa Minami đã viết: “Khoản tiền bồi thường mà Chính phủ Nhật Bản đã đi đến thỏa thuận cuối cùng với chính quyền Ngô Đình Diệm là 39 triệu đô la (14 tỉ 40 triệu yên).

Nhưng vấn đề cốt lõi mà giới sử học hai nước Việt-Nhật quan tâm hơn cả không phải là vấn đề bồi thường, mà là chân lý lịch sử, tức là sự thật về nạn đói.Trong đó giả sử có khoảng một nửa (20 triệu đô la) là khoản bồi thường những thiệt hại về người chết đói theo tính toán của chính quyền Ngô Đình Diệm, mỗi người là 1.000 đô la thì Chính phủ Nhật Bản chỉ bồi thường cho 2 vạn người mà thôi”.

Người đàn bà không có quần áo mặc đang mò ốc 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Còn theo GS Furuta Motoo phân tích: “Những con số đạt được trong suốt cuộc điều tra ở xã Tây Lương và thôn Lương Phú đã chỉ ra rằng tổng số người chết là 280.000 trên toàn tỉnh Thái Bình (hay 25% dân số) và 30.000 chết ở huyện Tiền Hải (30% dân số, được coi là huyện chịu nhiều thiệt hại nhất trong tỉnh Thái Bình) là thực sự có thể.

Tuy nhiên, vì cuộc điều tra không kiểm tra được mức độ điển hình của Lương Phúc đối với toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng nên rất tự nhiên là nó không thể có được những kết quả đáng thuyết phục về con số 2.000.000 người là nạn nhân của nạn đói năm 1945 ở Việt Nam”. Trích trang 225, Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam-Những chứng tích lịch sử.

Ngày 07/5/2012, ông đã có buổi thuyết trình về đề tài nạn đói năm 1945 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Ông bảo, nhiều người Việt Nam biết đến sự kiện này và mức độ thảm họa của nó nhưng ở Nhật, trước khi cuốn sách “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử” được công bố rất ít người biết hoặc có biết cũng không nghĩ đến nó tàn khốc như thế, chết nhiều đến như thế.

Bằng phương pháp nghiên cứu thực chứng và tư liệu điều tra trên quy mô nhiều làng từ Quảng Trị trở ra Bắc so với dân số vào thời điểm năm 1945, đoàn đã đi đến kết luận nạn đói này tương đương với nạn đói cuối thế kỉ 18 tại Nhật.

Hiện nay ở Nhật dù vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về số lượng nạn nhân bị chết đói năm 1945 ở Việt Nam nhưng đại đa số các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này đều nhất trí rằng đó là một thảm họa, một số sách giáo khoa mới xuất bản cũng đã đề cập đến.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

II. Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Lời xin lỗi còn nợ

Tác giả của hai bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng “Bão táp triều Trần” và “Tám triều vua Lý” đã trao đổi với PV về những ngày tháng bi thảm nhất trong lịch sử:  “…Việt Nam là một nước nông nghiệp, năm 1945 và trước đó lúa gạo xuất khẩu hàng triệu tấn/năm, có năm tới 3 triệu tấn.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

Từ 1941 đến 1945 phát xít Nhật chiếm đóng nước ta nhưng vẫn thao túng cho chính quyền thực dân Pháp cai trị, dân ta một cổ hai tròng, vừa nộp thuế cho Pháp vừa nộp thóc cho Nhật…không có cách gì để chống lại nên chết đói. Điều nhục nhã cho lương tâm con người là bọn thống trị Pháp không hề có một hành động nào để cứu trợ xã hội.

Một đất nước nông nghiệp trù phú như vậy mà 2,5 triệu người chết vì đói. Nên nhớ năm 1945 cả nước ta chỉ có 22 triệu dân, vậy là hơn 1/10 dân số chết đói. Lịch sử khoảng 500 năm trở lại đây chưa bao giờ xảy ra một cái hoạ mang tính diệt chủng đến như thế. Vậy mà cho tới nay, Pháp không xin lỗi, Nhật không xin lỗi đó là điều sỉ nhục đối với các nước văn minh.

Theo tôi thứ nhất lúc này nên có một đài tưởng niệm và nên có một chương trình bố cáo rộng rãi cho toàn dân được biết. Chúng ta phải cường thịnh, tự cường lên, không cho kẻ nào có thể xâm chiếm và đặt nền thống trị nước ta. Thứ hai là tuyệt đối không để xảy ra nạn đói như thế nữa. Muốn như thế phải bảo vệ đất đai chứ không thể sử dụng một cách lãng phí.

Hiện nay, có những ngôi chùa chiếm đến vài chục ha, vài nghìn ha, thậm chí tới 5.500 ha, đó là một điều không thể chấp nhận được. Ấy là chưa nói đến các hiểm họa tâm linh mù quáng do sinh hoạt tâm linh sai lệch đem lại cho xã hội. Nước ta hiện giờ bình quân ruộng đất chưa được 300 mét vuông/người, đất rất hẹp vậy mà sử dụng như thế thì nguy cơ không bảo đảm lương thực được”.

HOÀNG QUỐC TUẤN

III. Một tượng đài là trách nhiệm với quá khứ lẫn tương lai

GS sử học Văn Tạo sinh thời đã có đề xuất dựng tượng đài tưởng nhớ đồng bào chết đói năm Ất Dậu.

Trông người lại ngẫm đến ta

Ông viết: Tôi có dịp đi dự một hội nghị khoa học ở Linz (Áo). Tại thành phố này tôi đã cùng nhiều du khách trầm lặng đứng trước Đài tưởng niệm những nạn nhân đã chết do bệnh dịch hạch gây ra từ thời trung thế kỷ. Đứng trước tượng đài ở xứ người này, tôi không khỏi chạnh lòng nghĩ tới một đại họa mà dân tộc Việt Nam đã từng chịu đựng cách nay đã hơn nửa thế kỷ: Nạn đói năm Ất Dậu.

GS sử học Văn Tạo

GS Văn Tạo cũng nhắc đến nước Nhật có Khu tưởng niệm hòa bình Hirosima còn Việt Nam chưa có nơi nào tưởng niệm ngoài nghĩa trang Hợp Thiện nhỏ bé. Nguyện vọng của Viện trưởng Viện Sử học là xây đài tưởng niệm để nhìn lại cuộc sống đủ đầy hôm nay, việc làm đó cũng là cách ứng xử nhân văn, tử tế của người sống với đồng bào đã chết đói.

“Tôi nghĩ rằng nếu có một tượng đài về sự kiện này thì không chỉ làm trọn cái nghĩa với đồng bào của mình là nạn nhân của chủ nghĩa phát xít mà cũng là cách bày tỏ ý chí của dân tộc ta cùng nhân loại quyết ngăn không để chủ nghĩa phát xít ngóc đầu dậy…Không biết bao nhiêu những bằng chứng mà đến nay nhắc lại có khi thế hệ trẻ không hiểu nổi và không tin (đói đến mức phải ăn xác súc vật chết, mót từng hạt ngô sót trong phân ngựa của lính Nhật)… Xin cứ so sánh, nạn đói diễn ra “cao trào” trong 6 tháng, cướp đi 2 triệu sinh mạng, gấp nhiều lần những nạn nhân của 2 quả bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hisrosima và Nagazaki của Nhật”.

Ai sẽ trao truyền ký ức cho đời sau?

Trong chương trình trung học phổ thông, duy nhất bài số 16, sách giáo khoa lớp 12 có 2 dòng đề cập nạn đói năm 1945: “Chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp – Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực. Hậu quả là cuối năm 1944 – đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói”.“Chẳng bao lâu nữa, nhất là khi cuộc sống chúng ta no đủ hơn, sung túc hơn, ai là người sẽ trao truyền lại những ký ức ấy cho muôn đời sau?”.

Ông Dương Trung Quốc-Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đặt câu hỏi. “Tôi muốn nhắc với các nhà lãnh đạo Hà Nội rằng, chính tại khu vực Quỳnh Lôi (khuôn viên nghĩa trang cũ của Hội Hợp Thiện cũ), nhân dân Hà Nội đã từng bảo nhau quy tập xương cốt của những người chết đói và chết vì chiến tranh xây dựng ngôi mộ lớn, đắp nổi dòng chữ lớn: “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói năm 1944-1945”. Vậy mà cơn sốt đất đai và “công cuộc đô thị hóa” của Thủ đô chúng ta đã gần như hủy hoại hết rồi. Do vậy, một tượng đài ghi nhận sự kiện này phải được coi là một trách nhiệm không phải chỉ đối với quá khứ mà cả với tương lai”.

Nhà sử học Dương Trung Quốc

KHẢI MÔNG

 

Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp tay cho nạn đói 1945Báo Tin Mới, ngày 12/6/1945, đăng ngay trang nhất cho biết chính sách của Chính phủ Trần Trọng Kim đối với nạn đói năm Ất Dậu 1945 như sau: “Theo chế độ mới về thóc gạo: Các tư gia chỉ được trữ một số gạo đủ dùng trong 2 tháng…Nay đến lượt các điền chủ phải hưởng ứng tiếng gọi của nhà cầm quyền, để tỏ ra rằng ai nấy đều hiểu bổn phận. Không lúc nào bằng lúc này, tư lợi và lòng ích kỷ phải dẹp lại, để lợi chung của quốc dân được đặt lên trên.

Ít nhất, chẳng lẽ chúng ta lại không hợp tác được với các nhà đương chức Nhật như các người Pháp ngày trước hay sao? Vậy thời cái bổn phận nhà nông của ta là phải tỏ ra rằng mình biết trọng kỷ luật và mình có một tinh thần ái quốc sáng suốt, để cho các nhà chức trách của ta làm việc được dễ dàng.

Vả lại ta nên nhớ rằng số thóc gạo mà nhà cầm quyền sẽ mua, không những sẽ đem dùng vào việc tiếp tế cho quân đội, mà còn để phân phát, được chừng nào hay chừng ấy, cho các đoàn thể và các sở, như là các nhà thương, hoặc các đề lao, và nhất là để có thể trữ sẵn một số cho dân ăn vào kỳ giáp hạt…

Tự nay giở đi, ngoài Nhà nước ra không ai có quyền đong nhiều thóc của các nhà sản xuất. Vả lại, có ích gì mà đong nhiều? Chỉ có nhà nông mới có quyền tích trữ; còn các nhà buôn bán, các tư gia chỉ được giữ trong nhà một số gạo đủ ăn trong 2 tháng là cùng”.

KHẢI MÔNG

GS.TS Phạm Hồng Tung (ảnh) – Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển – ĐHQGHN: Nạn đói 1945 luôn nhắc nhở chúng ta về an ninh lương thựcNạn đói năm 1945 nhắc chúng ta luôn luôn phải suy nghĩ đến an toàn lương thực tối thiểu cho đất nước. Vùng châu thổ sông Hồng từ lâu đã trở thành nơi “đất chật, người đông”, hệ số an toàn lương thực rất thấp, việc xảy ra nạn đói khá thường xuyên.

“Tháng Tám đói qua, tháng ba đói chết” là ký ức được lưu truyền qua nhiều thế hệ người dân ở đây về những ngày tháng giáp hạt. Vì vậy, trước đây các làng xã đã xây dựng kho thóc dự trữ, gọi là “Nghĩa sương” hay “Nghĩa thương” để cứu đói.

Còn bây giờ ở các tỉnh “vựa lúa” người ta đang chuyển đổi bờ xôi ruộng mật sang thành các khu chế xuất thì nguy cơ an ninh lương thực bị đe dọa bởi nạn đói là hoàn toàn có thể xảy ra.

Cần nhớ rằng qũy đất nông nghiệp là một nguồn tài nguyên đặc biệt, một khi đã chuyển đổi thành khu công nghiệp, khu chế xuất, tức là đã mất đi vĩnh viễn, không bao giờ tái sinh được nữa. Cho nên phải có tượng đài kỷ niệm nạn đói Ất Dậu 1945 để nhắc nhớ các nhà hoạch định chính sách và toàn dân về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực.

Thứ hai nữa là kỷ niệm nạn đói năm Ất Dậu người ta đã làm từ trước rồi. Bây giờ chúng ta làm không có gì mới cả mà chỉ là tiếp nối một việc đã có từ trước.

Việc kỷ niệm nạn đói này với một biểu tượng cụ thể là nhắc đến một sự kiện lịch sử rất ý nghĩa trong thời điểm năm 1945. Bởi vì thông qua nạn đói này, với tất cả quy mô và mức độ thảm khốc của nó, với hiệu ứng vô cùng mạnh mẽ của nó, nó đã phơi bày bản chất và tội ác của chế độ quân chủ phong kiến, chế độ thực dân và ách chiếm đóng của quân đội Nhật. Do đó mà toàn dân Việt Nam từ Bắc tới Nam đã nhất tề đoàn kết cả quyết vùng lên: đấu tranh giải phóng cũng là cuộc chiến sinh tồn.

Chính trong bối cảnh đó, khẩu hiệu “phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói” đã thành mệnh lệnh khởi nghĩa. Đó là con đường đi tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

KHẢI MÔNG (GHI)

 

***

75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói: Vì sao Thái Bình hồi ấy từ chối dựng tượng đài?

17/04/2019, 08:38 (GMT+7)Trò chuyện với Báo Nông nghiệp Việt Nam, ông Bùi Sỹ Tiếu – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương giải thích vì sao tỉnh này lại chưa dựng tượng đài tưởng niệm người chết đói 1944 – 1945 dù có một số đề nghị.

I. Ông Bùi Sỹ Tiếu – nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình: Cả lý do chủ quan lẫn khách quanTôi còi cọc bởi sinh sau năm đói

Tôi sinh năm 1946. Mẹ hay nói là đẻ tôi sau năm lụt tức năm 1945 vì năm đó đê vỡ ở nhiều nơi. Thêm vào đó, Nhật lại bắt phá lúa trồng đay nên đã thành một trận đói rất lớn. Mẹ tôi đậu thai tôi năm 1945, bởi đói nên sinh tôi ra cũng còi cọc chứ không như những người khác trong nhà, lớn lên chỉ cao có 1m60 còn 5 anh em cao tới 1m7.

Theo thống kê cả nước mất 2 triệu dân thì riêng Thái Bình đã mất cỡ 280.000 người, chết nhiều nhất. Trong hoàn cảnh thiếu ăn như thế, dân Thái Bình phải tha phương cầu thực nên người đói chết ở làng, người đi xin ăn chết trên đường. Chính bởi năm 1945 mà có câu: “Thái Bình là đất ăn chơi. Tay bị, tay gậy khắp nơi tung hoành”. Hồi ấy, thường bố mẹ dẫn con cái đi khất thực, tìm đến các vùng trung du, miền núi vì có sắn nhưng dọc đường thiếu ăn quá mà phải cho con để chúng khỏi chết đói.

Ông Bùi Sỹ Tiếu

Tôi có ông chú dẫn con đi, qua Hà Nội, không còn gì để ăn nên cho con ở huyện Đông Anh (ngoại thành Hà Nội) rồi tiếp tục lên Việt Bắc, mất ở đâu giờ cũng không tìm thấy. Người con của chú, tức cô em tôi, Bùi Thị Phấn được cho ở Đông Anh thì tình cờ gần 20 năm trước làng tôi có người đi công tác bên huyện này, được kể lại rằng: “Tôi được cho đi năm 1945, lúc ấy còn rất bé chẳng nhớ quê quán ở đâu mà chỉ biết cùng bố qua một con sông rất to (nơi là phà Tân Đệ), ở quê tôi có cái chợ Quán”.

Người nhà tôi từ làng Tu Trình, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy nghe thấy thế mới đi tìm, đúng là con chú Huấn thật. Bà dì của cô Phấn cùng các con đi xem mặt thấy giống hệt nhau nên nhận nhau từ bấy đến giờ. Cô em họ tôi giờ đã ngoài 80 tuổi, hàng năm tôi và con cháu vẫn sang thăm”.

Các anh chị ấy bảo dựng tượng đài đói nó u ám

Tôi làm Bí thư Thái Bình giai đoạn 1999 – 2005, rất muốn tìm những vấn đề lịch sử hay di tích lịch sử của tỉnh nhà để phục hồi và tôn vinh. Thứ nhất là tôn tạo di tích quê hương nhà Trần ở huyện Hưng Hà, thứ hai là làm nhà thờ danh nhân Lê Quý Đôn, thứ nữa là vì tỉnh có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, đầu tiên đạt 5 tấn/ha nên cũng muốn dựng một tượng đài 5 tấn. Ý muốn thì nhiều nhưng lực bất tòng tâm nên chỉ thực hiện tôn tạo được di tích nhà Trần ở huyện Hưng Hà hết 23,5 tỉ còn những thứ sau đành phải tạm gác.

Vận chuyển hài cốt về mộ tập thể (Ảnh tư liệu)

Anh Trần Chính – nguyên lãnh đạo cấp Vụ ở Bộ Giáo dục và Đào tạo – một người con của Thái Bình có trăn trở bảo với tôi rằng: “Tỉnh mình năm xưa chết đói nhiều, các anh nên xem xét dựng một tấm bia hoặc tượng đài để kỷ niệm. Tôi có xin được một ít tài trợ đây”. Lúc đó tôi đã đi khỏi Thái Bình về làm Phó trưởng ban thường trực Ban Khoa giáo Trung ương (sau này là Ban tuyên giáo Trung ương). Thế nên tôi mới bảo: “Ý này được đấy nhưng mình đi rồi thì phải đặt vấn đề với các anh lãnh đạo tỉnh bây giờ”.

Anh Bùi Tiến Dũng đang làm Bí thư, Nguyễn Hạnh Phúc đang làm Phó Bí thư, Nguyễn Duy Việt đang làm Chủ tịch, chị Cao Thị Hải đang làm Phó Chủ tịch phụ trách văn xã. Nhưng các anh chị ấy nói, bây giờ tượng đài 5 tấn ngời ngời, anh hùng như thế còn chưa làm được mà dựng tượng đài chết đói thì u ám quá nên không tán thành. Và một vấn đề nữa là kinh phí. Để làm một tượng đài hồi ấy phải mất cỡ vài chục tỉ tương đương với cả trăm tỉ bây giờ. Mà lúc đó, thu ngân sách trên địa bàn toàn tỉnh còn đang phấn đấu mốc 500 tỉ.

Thất bại trong việc thuyết phục lãnh đạo tỉnh, anh Trần Chính quay về huyện Hưng Hà định dựng tấm bia hay tượng đài ở xã anh ấy nhưng không biết có làm được không tôi cũng chẳng rõ nữa vì sau này anh em nghỉ hưu cũng ít khi gặp nhau.

Đừng sợ tham ô, tham nhũng mà không làm

Không có đền Hùng thì không mấy ai biết đến ngày giỗ tổ. Theo tôi, lúc chưa có điều kiện về kinh tế, chưa thể đánh dấu những mốc lịch sử oanh liệt cũng như u tối bằng các công trình thì lúc có điều kiện cũng nên làm, nhất là sự kiện chấn động 2 triệu người chết đói. Thái Bình chết đói nhiều nhất thì nên có một tượng đài ở tỉnh này, hợp lý nhất là ở Km số 3 nơi Võ An Ninh chụp bức ảnh đói nổi tiếng.

Trên đường phố Phủ Lý, Hà Nam hai người con xin được tí cháo về đổ cho bố thì cháo chảy ngược vì hàm ông đã cứng lại (Ảnh: Võ An Ninh)

Tầm quốc gia thì nên làm một cái tượng đài ở Hà Nội để khắc ghi vào lịch sử có một thời kỳ Việt Nam bị hai tầng áp bức Pháp, Nhật cộng với thiên tai, dịch bệnh hợp thành một nạn đói khủng khiếp. Tượng đài nên tạc bằng đá vừa đảm bảo tính bền vững lại vừa đỡ lo ngại về chất lượng như tượng đài Điện Biên Phủ cũng như tham ô, tham nhũng. Nhưng đừng sợ tham ô, tham nhũng mà không dám dựng tượng đài. Cái chính là ta phải có cơ chế giám sát tốt. Kinh nghiệm của Thái Bình trước đây khi làm điện, đường, trường trạm, nơi nào giao cho Hội cựu chiến binh giám sát đều có chất lượng tốt. Nếu dựng tượng đài nên có đại diện của người dân tham gia vào.

Còn về kinh phí theo tôi nên huy động bằng cách xã hội hóa. Ở tỉnh Thái Bình hồi tôi làm Bí thư chưa có những doanh nghiệp lớn nhưng bây giờ có khá nhiều mà tiêu biểu nhất là Đại Việt của ông Trần Văn Sen, Geleximco của anh Vũ Văn Tiền, Bitexco của anh Vũ Quang Hội…Có thể vận động họ đóng góp vào việc xây dựng tượng đài đói. Đó là tầm tỉnh còn tầm quốc gia thì cũng nên vận động những doanh nghiệp khác nữa.

Về nạn đói, theo tôi Pháp, Nhật phải xin lỗi vì Pháp hồi đó thì bóc lột tàn tệ còn Nhật hồi đó thì ép trưng thu lương thực và bắt dân ta nhổ lúa trồng đay. Đành rằng chính phủ Pháp, Nhật bây giờ khác với chính phủ Pháp, Nhật ngày xưa nhưng con cháu mà thấy cha ông phạm lỗi thì cũng phải xin lỗi chứ?

II. Ông Trần Mạnh Báo – Tổng Giám đốc Cty CP TCty Giống cây trồng Thái Bình: Mỗi khi cầm bát cơm đầy lại nhớ về thời đói kém!

Khi tôi còn nhỏ, thấy giỗ ông ngoại, bà ngoại chỉ trong vòng có 1 tuần thì tò mò hỏi: “Tại sao ông bà lại mất trong 1 tuần hả mẹ?”. Mẹ trả lời rằng: “Năm 1945, ông ngoại con bị chết đói, bà ngoại đưa ông ra ngoài đồng, chôn ở nghĩa trang sát ruộng khoai lang của nhà. Lúc đó, khoai mới trồng chỉ có rễ chứ chưa ra củ nhưng nhiều người đói vẫn tìm đến, bới rễ lên nhai sống rồi chết gục ở ruộng. Bà ngoại nhìn thấy thế về sinh ốm, phần vì đói, phần vì sợ rồi cũng chết sau đó chỉ mấy ngày… Đói đến mức người ta có thể ăn bất cứ cây cỏ gì, trừ mỗi thịt người để mong sống.Tôi vẫn thường trào nước mắt khi nghĩ về sự đói ăn của thủa ấy.

Ông Trần Mạnh Báo

Nạn đói ở miền Bắc không chỉ đến năm 1945 mà còn kéo dài rất lâu về sau, tất nhiên là không đến nỗi đói chết như trước nữa nhưng vẫn đói lay đói lắt. Sau năm 1954 tôi nhớ vẫn còn rất đói. Nhà có 10 anh em, tôi là con cả nên đảm nhiệm việc nấu cám cho lợn. Một nồi cám rất to nhưng cũng chỉ có 1 bơ cám cỡ 4 – 5 lạng còn lại toàn là bèo, rễ khoai lang to bằng cỡ ngón tay. Đói quá nên nồi cám vừa chín tới tôi lén ăn vụng hết cả rễ khoai.

Ngày ấy, tôi cũng phải nấu cơm. Buổi tối của cả nhà thường xuyên là dong giềng luộc trừ bữa còn bữa trưa thì phải nấu dong riềng độn cơm, gạo ít, dong nhiều. Dong riềng vốn nhiều nhựa, khi nấu chảy ra bọc lấy hạt gạo nên cơm thường nửa sống nửa chín. Nấu được một nồi cơm độn dong mà chín được là cả một vấn đề rất khó.

Năm 1960 nhà tôi có bao nhiêu cày cuốc, dụng cụ sản xuất đều đem nhập vào HTX vì cả miền Bắc tiến hành cuộc vận động hợp tác hóa. Thế mà vẫn đói. Đói đến mức bố tôi suốt ngày phải dầm mình trong nước biển để bắt con gion, con dắt, con tôm, con cá nuôi đàn con 10 người lúc nào bụng cũng rỗng không. Tháng 3 năm 1964 em trai tôi vì ăn khoai sống mà bị tiêu chảy, chết khi mới 8 tuổi.

Cảnh lầm than của năm đói (Ảnh: Võ An Ninh)

Lúc ấy chưa có chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc, một cậu bé 13 tuổi là tôi chỉ có một tâm nguyện nếu còn sống được thì về sau phải làm một cái gì đó để mà giúp cho người nông dân có thêm hạt gạo, có thêm miếng ăn cho đỡ đói. Đến nửa đầu những năm 1990 thì người dân quê tôi mới hết đói nhờ khoán 10. Mỗi khi cầm bát cơm đầy trên tay, tôi thấy hạnh phúc nhưng không bao giờ quên những ngày tháng đói khát, phải xếp hàng mua gạo và sợ nhất là mất sổ gạo…

Cũng là một sự tình cờ. Cột mốc km 3 ở Thái Bình nơi cụ Võ An Ninh chụp bức ảnh nổi tiếng về nạn đói lại cách cổng công ty của tôi chỉ 1.000m. Năm 2004 công ty tiến hành cổ phần hóa xong có người hỏi ông trả cổ tức cho các cổ đông bao nhiêu, tôi trả lời 20%/năm. Ông đó bảo, sao bèo bọt thế? Tôi trả lời, ngân hàng tối đa trả lãi 10%/năm còn tôi trả 20% đã là cao rồi.

Tôi không nghĩ đến lợi nhuận là cao nhất mà nghĩ đến lợi ích của người nông dân là cao nhất. Tôi chỉ mong mỏi mỗi sào ruộng nhờ giống của mình mà người đói có thêm mỗi bữa một bát cơm cho no còn người no có thêm được 100.000đ mỗi vụ để trả tiền học phí nuôi các con thoát khỏi cảnh khổ sở như tôi thủa trước. Ông ấy cười: “Làm kinh doanh mà không nghĩ lợi nhuận là cao nhất thì họa chỉ có là thằng điên”.

Giờ có nhiều ý kiến về an ninh lương thực nhưng theo Tổ chức Nông lương Thế giới FAO vẫn phải lo đến chuyện đó bởi hiện tại trái đất đang có cỡ 8 tỉ dân nhưng về sau thành 11, 12 tỉ thì lấy gì để ăn? Tôi đi hội thảo ở Nhật Bản họ khuyên rằng Việt Nam đừng làm hai việc sai lầm là đừng để mất đất trồng cây lương thực và đừng để mất rừng, hủy hoại môi sinh.

Người đàn bà không có quần áo mặc đang mò ốc 1945 (Ảnh: Võ An Ninh)

Ngay cả ở ta hiện nay cũng có nhiều ý kiến cho rằng đất nông nghiệp thì muốn trồng cây gì thì trồng, muốn chuyển đổi ra sao thì chuyển nhưng theo tôi, giờ ta có cỡ 94 triệu dân, đến năm 2030 sẽ có 120 triệu dân vẫn phải tính đến bài toán lương thực. Lương thực không chỉ nuôi người mà còn để nuôi vật. Không có lương thực thì lấy đâu ra thịt, ra cá, ra tôm? Ta đang xuất khẩu khẩu 6-7 triệu tấn gạo một năm nhưng lại nhập cỡ đó, thậm chí còn nhiều hơn các loại lương thực khác như ngô, như đậu… Cây lúa theo ý tôi vẫn là cây trồng thuận lợi nhất của Việt Nam nên phải giữ lấy đất lúa về lâu về dài…

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG (GHI)

 

Advertisements

3 thoughts on “75 năm cần một tượng đài cho triệu người chết đói – 6 bài

  1. Ba mẹ em người Thái Bình. Dù sinh sau 1945, cái đói vẫn là điều số một trong đầu ba mẹ. Đến tận bây giờ, mỗi bữa cơm vẫn là một lần nhắc lại cái đói, mỗi lần gặp mặt gia đình, dù chỉ một vài người, là một lần nhắc lại cái đói.

    Liked by 2 people

    1. Cảm ơn em đồng cảm. Người nhà quê (của) chúng ta thật tội nghiệp.

      Sau khi đọc bài này, chị nghĩ về những lãnh đạo miền Bắc và chính sách của họ với đồng bằng sông Cửu Long – chính sách biến nơi đây thành bát cơm (nghĩa là tập trung trồng lúa, trồng lúa và trồng lúa). (Đọc Sửa chữa sai lầm 20 năm ở ĐBSCL)

      Chị nghĩ chị có thể hiểu một phần nào đó lý do vì sao các vị lại làm vậy. Thế nên, chị hy vọng mình có thể làm gì đó để có những chính sách tốt hơn, tốt cho cả miền Nam, miền Bắc và cho cả đất nước.

      C Hương

      Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s