SÁNG TẠO TRONG DẠY VÀ HỌC (cho bậc đại học)

 

Chào các bạn,

Bài chia sẻ này là kết hợp những kinh nghiệm của mình và báo cáo trong một tập huấn mà mình có được tham dự về Innovation in Learning and Teaching – Sáng tạo trong dạy và học, một điểm mà giáo dục đại học Việt Nam còn phải nỗ lực cố gắng rất nhiều.

Mình tham dự của GS Richard Felder, North Carolina State University. Giáo sư có vài chục năm kinh nghiệm về sáng tạo trong phương pháp dạy học, đặc biệt là cho khối ngành công nghệ kỹ thuật. GS Richard Felder thường được các trường đại học công nghệ hàng đầu ở Châu Á mời đến giảng dạy về phương pháp giảng dạy trong giáo dục bậc đại học.

Sáng tạo trong dạy và học là những điều cực kỳ thiết yếu không chỉ cho các giáo viên mà cho tất cả các học sinh, sinh viên. Và một trong điểm sáng tạo đó là cần phải hiểu cách học và dạy của mình ra sao – teaching and learning style của mình ra sao để phát huy và cùng hỗ trợ nhau phát triển.

Các trường đại học lớn trên thế giới hiện nay có môn Truyền thông kỹ thuật – Technical communication dành cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối khoa học kỹ thuật để có thể biết cách giao tiếp truyền tải kiến thức tới người nghe. Việc này là để tránh khi mình đang thao thao bất tuyệt nói về một con khủng long còn khán giả hay học trò ngồi dưới hoặc là chẳng hiểu gì hoặc là nghĩ rằng mình đang nói về một con gà.

Ở Mỹ hay Châu Âu, trở thành giáo viên giỏi của năm hay của một nước – teacher of the year, không phải là do họ có đầy đủ công cụ và kỹ thuật – những công nghệ chỉ là cái hỗ trợ cho họ mà thôi, họ trở thành the best là nhờ sự đam mê, yêu nghề và sáng tạo.

532136_383778771676180_1694509282_n

Những lời giới thiệu dài dòng chỉ muốn nói là Bạn hoàn toàn có thể trở thành giáo viên giỏi nhất xã, nhất tỉnh, nhất Việt Nam và thực sự đó cũng là tầm cỡ thế giới rồi.

(Sinh viên giờ năng động, học cũng giỏi, chơi cũng giỏi, nhiều khi xét nét thầy cô quá trời! Các cô các cậu cũng nên học cách học hỏi cùng thầy và Tha thứ cho thầy chứ. Thầy cô cũng còn đang học để làm việc với các bạn, thầy cô có phải là người biết tuốt đâu. Thế nên các bạn cùng học với thầy cô cũng là giúp chính các bạn.)

Hồi trước, thầy cô nào trẻ mà không vững vàng, thân thiện là cũng bị tụi mình cũng bắt nạt. Thế nên các thầy cô trẻ, các bạn cũng phải tự tin, để mà thi đua với sinh viên.

Những chia sẻ này mình mong rằng giúp cho chúng ta có thêm những cái nhìn khác nhau, vì mỗi người có cách tiếp cận cách dạy cách học khác nhau. Và các bạn nên biết rằng những vấn đề về sáng tạo trong dạy và học này không khỉ là ở Việt Nam mà vẫn đang xảy ra mọi nơi trên thế giới, ở các trường đại học, những engineering schools “tàn bạo” nhất với sinh viên mà mình đang và đã từng học.

Mình muốn nói rằng mình vẫn đang là nghiên cứu sinh và mình chưa có kinh nghiệm đứng lớp giảng dạy. Mình đang đứng ở góc độ vừa làm trò và làm thầy. Vậy nên điều quan trọng là mình mong rằng các chia sẻ như thế giúp các bạn giảng viên, các sinh viên trẻ sẽ cùng tham gia thảo luận để biết là sinh viên và giảng viên gặp khó khăn ở đâu. Các anh chị có nhiều kinh nghiệm giảng dạy đứng lớp sẽ cùng góp ý thảo luận để chúng ta học hỏi ở nhau.

Đây chỉ là những tóm tắt cơ bản nhất, các bạn quan tâm sẽ có một kho tài liệu rất chi tiết hướng dẫn cụ thể về cách bố trí bài giảng, dạy trong lớp học trên website của GS Richard Felder để tham khảo Website Prof. Richard Felder

h1

Phần chia sẻ tiếp đây là nội dung buổi training của GS Felder, được chia thành 2 phần chính:

Phần I: Sáng tạo trong dạy và học – Innovation in Learning and teaching

  1. Vì sao phải sáng tạo trong dạy và học
  2. Chương trình và lớp học nên được cấu trúc và giảng dạy ra sao
  3. Ai là người có thể đứng lớp giảng dạy

Phần II: Phong cách dạy và học như thế nào – Learning and teaching style

  1. Sinh viên học như thế nào, giảng viên dạy thế nào, vấn đề nhức nhối nằm ở đâu?
  2. Làm thế nào để kéo sinh viên vào cuộc trong khi giảng dạy – avtive learning

——

Phần I: Sáng tạo trong dạy và học – Innovation in Learning and teaching

  1. Vì sao phải sáng tạo trong dạy và học

Mở đầu bài giảng G.S Felder xổ ra một tràng tiếng gì đó không ai hiểu (có lẽ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ pha lẫn vài tiếng vùng Trung Đông hoặc cũng có thể chẳng là cái thứ tiếng gì).

Vài phút ông dừng lại: “You got it? How do you feel?”

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, chẳng ai nói gì cả.

Ông nói là: “Tôi vừa mới chỉ nói chào mừng các bạn tới buổi học hôm nay và giới thiệu về bản thân thôi mà. Vậy mà không ai hiểu gì sao? Điều này giống như bạn đang đang giảng bài mà học trò ngồi dưới không hiểu gì ngồi nghệt mặt ra vậy”.

Trên website của Richard Felder có đoạn giới thiệu rằng giảng dạy ở bậc đại học có lẽ là một nghề kỹ năng duy nhất mà chẳng có yêu cầu và chuẩn bị hoặc đào tạo gì về chuyên môn sư phạm cho cái việc giảng dạy đó cả.

“Anh có cái bằng Tiến sĩ, tốt thôi! Nhân tiện kỳ tới anh dạy cho tôi môn này!”. “So you got a PhD. Good! By the way you are going to teach this course next semester!”.

Chưa kể đến việc là người thầy chẳng được học các kỹ năng môn học intangible (không thể sờ thấy được) khác liên quan đến tư duy tích cực, tâm lý học, nhân văn học… nên không biết cách tự vấn trăn trở ra sao để mà cải thiện thực trạng này.

Bạn có thấy bức tranh ở dưới này không? Nó nói vào thời tiền sử, lớp học ở trong hang đá và họ vẽ lên tường. Và hàng trăm nghìn năm sau chúng ta vẫn đang giảng dạy như người tiền sử là cắm cúi mặt vào bảng để viết và dạy.

h2

Thực sự là các kỹ sư và nhà công nghệ hiện nay được đào tạo không chỉ để ra ngồi máy lập trình được code, hay làm việc với máy móc, các con số đơn thuần. Để tồn tại trong thị trường lao động trong thời kỳ cạnh tranh khốc liệt hiện nay đòi hởi những kỹ năng tối cần thiết mà tâm lý học hiện đại của phương Tây gọi là right-brain skills, ví dụ như: ngôn ngữ, sáng tạo, quản lý, quan hệ con người, khả năng tự học. Các left-brain skills thiên về logic, tính toán…

Và chính các trường đại học cũng phải cạnh tranh sáng tạo trong giảng dạy và nghiên cứu để mà thu hút sinh viên giỏi, giảng viên giỏi để mà kiếm tiền. Điều này được nhấn mạnh và đề cập bởi hai tác giả rất nổi tiếng của Mỹ là Thomas Friedman – The world is flat và Daniel Pink – A whole new mind. Ở mức độ quốc gia và quốc tế thì đất nước nào mà không nỗ lực sáng tạo thì sẽ chết và cứ thụt lùi trong tối tăm.

Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây là các bạn không cần chú trọng để ý quá nhiều băn khoăn đến kỹ năng não trái, não phải – right brain, left brain làm gì. Tâm lý học phương Tây chia ra như vậy cho dễ nhận diện và quản lý (sẽ nói kỹ hơn ở phần sau). Còn tâm lý học Phật giáo của phương Đông thì không chia thành hai phần riêng biệt như vậy mà chứng minh và khẳng định là ai cũng có cả kỹ năng não trái và phải. Chỉ có điều chúng ta muốn phát triển nó tới đâu và ở môi trường nào.

HẬU QUẢ nhìn thấy ngay trước mắt của không có sáng tạo trong dạy và học và sự mất tương xứng giữa phong cách dạy và học (sẽ được đề cập sâu hơn ở phần II), phần này GS Felder nói ở cuối nhưng mình đưa lên đầu.

– Ở người học sinh viên

    Người học chẳng nắm được tí kiến thức nào ngoài mớ thông tin mòng mòng trong đầu.

Sinh viên chán học, mất chú ý, mất trật tự trong lớp, nói chuyện riêng, chơi game, ngủ trong lớp.

Kết quả thi tồi tệ, cho rằng mình kém cỏi.

Không có động lực motivation nào để học tiếp và theo đuổi môn học.

Mất kiên nhẫn và chuyển nhanh qua môn học khác.

Bỏ học, chuyển ngành…

– Giảng viên khi nhận thấy biểu hiện của những việc trên có thể là:

    Thất vọng, tức giận với sinh viên cho rằng sinh viên lười biếng vì mình mất bao nhiêu công sức dạy thế mà sinh viên chả tiếp thu được gì là sao?

Thất vọng về chính mình, nghi ngờ về khả năng của mình?

Tự vấn bản thân là không hiểu mình có hợp với cái nghề làm dâu trăm sinh viên này không, rồi dằn vặt vì có muốn đổi nghề thì đã quá muộn.

– Tổn thất cho xã hội: Rõ ràng không phải bàn nữa nếu mà chất lượng giáo dục như vậy.

  1. Chương trình và lớp học nên được cấu trúc và giảng dạy ra sao

Phần này mình không nói quá chi tiết vì một là mình chưa có kinh nghiệm, hai là các bạn có thể tự tham khảo tài liệu trên website của GS và rất nhiều nguồn khác tùy theo môn học ngành học. Một key point GS đề cập đó là:

Keep it balanced: Cân bằng giữa lý thuyết, thực hành, làm việc cá nhân hay làm việc nhóm… trong các môi trường văn hóa và hoàn cảnh khác nhau.

Để điều chỉnh và giữ cân bằng được ra sao thì bản thân mình nghĩ là trước hết phải hiểu được Learning and teaching style mà sẽ đề cập ở trong phần II. Tới nữa là cần phải có kinh nghiệm. GS Richard Felder trải qua 15 năm dạy học để nhận ra rằng “something is going wrong with my way of teaching and how student’s learning” do đó ông mới bắt đầu trăn trở tìm hiểu và tìm cách cải thiện vấn đề.

Nhìn lại bản thân mình, thực sự là mình được học đào tạo về đủ thứ khoa học kỹ thuật gần 6-7 năm nay rồi nhưng mình vẫn rất kém về các con số và tính toán liên quan đến máy móc kỹ thuật.

Mình học ở cả Á, Âu và Mỹ thì thấy là ở bậc đại học thì các technique có thể được áp dụng linh hoạt và gần như là như nhau mặc dù trong các môi trường văn hóa khác nhau, mà đặc biệt là giảng dạy về Engineering. Nên các bạn giảng viên trẻ hãy cùng với sinh viên linh động để cho lớp học của mình trở nên active và hiệu quả. Đừng lấy lý do văn hóa của ta thế nọ thế kia. Trừ khi là bạn phải dạy ở một số nước Trung Đông khi mà giáo viên chẳng nhìn thấy mặt sinh viên vì bị che mạng kín mịt thì mình phải có cách để thích ứng đặc biệt khác.

h3

  1. Ai là người có thể đứng lớp dạy học

Về nguyên tắc ở tất cả các trường đại học trên thế giới thì để dạy ở bậc đại học phải có bằng Tiến sĩ hay Thạc sĩ tùy từng ngành. Điểm này hợp lý nhưng cũng là một điều cản trở trong việc tiếp cận và sáng tạo trong giáo dục. Nhiều khi các thầy cô giảng dạy quên mất là mình có thể phối hợp mời các guest speakers là kỹ sư, là nông dân, thợ lành nghề, là chuyên gia có kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực đó đến giảng một vài buổi đến một phần trong chương trình học của mình để sinh viên tiếp cận với những cái kiến thức thực đang diễn ra.

Một ông Tiến sĩ dạy về thực hành trồng lúa trong phòng lab thì chưa chắc là tốt bằng một bác nông dân hướng dẫn sinh viên kỹ thuật trồng lúa ra sao và hơn nữa dạy ở ngoài đồng ruộng. Khi mình đi học ở Mỹ hay ở Châu Âu, một môn học có 2-3 người dạy là rất bình thường (tất nhiên là có một người đứng ra chịu trách nhiệm chính về nội dung và mời các guest speakers và đồng giảng cho môn học).

Có những buổi thực hành – field trip mà được các kỹ sư hay công nhân lành nghề, hay người làm vườn chuyên nghiệp giới thiệu về trồng cây, máy móc dây truyền cho 1 buổi ngộ ra bao nhiêu điều bằng cả kỳ thầy dạy trên lớp mà mình cứ ù ù tai chả hiểu gì cả.

Hay ví dụ là mình học về môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo không có nghĩa là mình không học gì từ than đá dầu mỏ và các nguồn năng lượng khác. Trong các bài giảng, các guest speakers đến từ các tập đoàn than đá, dầu mỏ đến giảng là chuyện rất bình thường.

Từ vài năm trước, mình đã nói chuyện với các anh chị giảng viên trẻ là nên mời các giảng viện thỉnh giảng – guest speakers, inviting lecture từ các ngành khác nhau, các chuyên gia kỹ sư từ các nhà máy đến lớp vì giảng viên trẻ lấy đâu ra kinh nghiệm thực tế. Khi mình tốt nghiệp đại học, thầy cô nói là ở lại trường. Mình nói là mình chưa muốn. Có thể sau này mình sẽ quay lại nhưng không phải bây giờ vì mình muốn được dạy theo cách mình muốn được học mà mình chưa được tiếp nhận.

Mình rất hiểu là hoàn cảnh thầy cô ở Việt Nam còn vất vả lắm, còn bị hạn chế lo đủ thứ mà không chuyên tâm giảng dạy được. Nhiều anh chị mình biết và nói chuyện tâm sự ban đầu cũng hào hứng áp dụng nhiều phương pháp mới nhưng rồi nhiều việc phải lo qua bẵng quên đi. Nếu mà cứ bẵng quên đi không sáng tạo đổi mới thì bản thân sẽ bị thụt lùi, sinh viên sẽ bị thụt lùi. Thầy mà dở thì làm hỏng không biết bao nhiêu thế hệ.

Phần II: Phong cách dạy và học như thế nào – Learning and teaching style

  1. Sinh viên học như thế nào, giảng viên dạy thế nào, vấn đề nhức nhối ở đâu ra?

Vậy thì chúng ta học với các phong cách như thế nào?

Trước hết là ở bất cứ môn học nào thì không cần phải tranh cãi chúng ta cũng thấy được là: Những điều thầy dạy một trăm, một triệu thì bao giờ học trò cũng nắm được một đôi phần có khi là không nắm được gì hoặc hiểu sai lệch.

Yếu tố quyết định phần dạy của thầy là: Đam mê, tâm huyết, khả năng, kiến thức chuyên môn, phương pháp phong cách dạy và truyền đạt. Ví dụ như là bao nhiêu năm kinh nghiệm, được ai đào tạo và đào tạo ở đâu, khả năng tự học đến đâu, khả năng sáng tạo đến đâu…

Yếu tố quyết định phần học của trò là: Động lực, phương pháp và phong cách học. Ví dụ học để đi thi, học để có kiến thức, học để xin việc kiếm tiền, học để yêu người.

h5

Mô hình về các phong cách học có thể chia thành các cặp nhóm chính như sau

  1. Sensing learner vs. Intuitive learner / Người học qua giác quan vs. Người học qua trực giác
  2. Visual learner vs. Verbal learner / Người học qua hình ảnh thị giác vs. Người học qua ngôn ngữ lời nói
  3. Active learner vs. Reflective learne/ Người học qua thực nghiệm hành động vs. Người học qua chiêm nghiệm
  4. Sequential learner vs. Global learner/ Người học qua sự kiện rời rạc vs. Người học qua bức tranh tổng thể

Một điểm lưu ý là trong mỗi chúng ta đều có một phần trong tất cả các learning style này, chỉ là mức độ mạnh yếu rõ rệt khác nhau. Có người thì cực kỳ rõ rệt, có người thì style nào cũng trung bình ở giữa. Và trong một lớp học hay một nhóm thì bao giờ cũng có đủ loại học sinh với các learning style này. Cho nên nhiệm vụ của thầy là cần keep balanced cho chương trình học để đáp ứng nhu cầu và tạo điều kiện cho tất cả các phong cách học của học trò là vậy.

Qua nghiên cứu thực nghiệm cho thấy một trong những cái mismatch – mất tương xứng –  lớn nhất xảy ra đó là phần lớn giảng viên đại học có learning style trái ngược với sinh viên. Chúng ta sẽ đi tiếp sâu vào hơn các loại learning style này và sự không tương thích này và cách khắc phục và cân bằng trong bài giảng mà GS đưa ra.

Với kinh nghiệm của mình thì do cái sự mismatch luôn luôn tồn tại này thì trước hết cần phải  Nói và viết giản dị.Truyền thông thật giản dị và giản dị

h6

1        Sensing learner vs. Intuitive learner / Người học qua giác quan vs. Người học qua trực giác

Sensing learner – Người học qua giác quan

Đúng như cái tên là Người học qua các giác quan, người học với style này thích và tiếp nhận qua các thứ bên ngoài có tác động đến giác quan (external input) như sờ mó, nếm ngửi.

Người học qua thực tế, quan sát, làm thí nghiệm.

Thích các facts, sự kiện, sự vật con số, tính toán. Để ý những chi tiết nhỏ.

Lúc nào cũng đòi hỏi có phương pháp cụ thể để giải toán hoặc phải có phương pháp vạch sẵn cho một vấn đề để giải quyết.

Thích làm việc với những chi tiết nhỏ tỉ mỉ, có tính lập lại, tính toán.

Thường phàn nàn là các môn học không có tính thực tiễn, kiến thức không áp dụng được với thực tế.

Vấn đề trong khi làm bài kiểm tra: thường bị thiếu thời gian vì để ý và tốn quá nhiều thời gian cho những chi tiết nhỏ.

Intuitive learner – Người học qua trực giác

Người có style này tiếp nhận thông tin và kiến thức qua trực giác (internal input) như là suy nghĩ, trí nhớ, hình ảnh.

Có khả năng tưởng tượng tốt và rất nhanh, định hướng tốt.

Luôn tìm kiếm ý nghĩa the meaning behind điều gì đó mà bỏ qua các chi tiết nhỏ lặt vặt.

Thích những thứ trìu tượng, lý thuyết, mô hình.

Thích học nhiều môn đa dạng, không thích những thứ lặp lại.

Thích làm việc với các concepts, ý tưởng.

Thường phàn nàn về những bài học có tính lặp lại nhàm chán.

Vấn đề trong khi làm bài kiểm tra: bị mất điểm do những lỗi nhỏ cực kỳ ngớ ngẩn

MISMATCH – mất tương xứng ở đâu?

Hầu hết các sinh viên ở bậc đại học là sensing learner – sensor, khoảng 70%.

Hầu hết các giảng viên là intuitive learner – intuititor.

Cách khắc phục

Quay lại nguyên tắc cân bằng khi đi làm dâu trăm sinh viên đó là kết hợp lý thuyết và thực hành. Đưa các bài giảng lý thuyết nhỏ trong phòng lab và các thì nghiệm nhỏ trong bài giảng, sử dụng hình ảnh, biểu đồ và phân tích ý nghĩa…

2        Visual learner vs. Verbal learner / Người học qua hình ảnh thị giác vs. Người học qua ngôn ngữ lời nói

Visual learner – Người học qua hình ảnh thị giác

Luôn đòi hòi chỉ cho tôi thấy: Hình ảnh, biểu đồ, hình vẽ, sơ đồ (a picture is worth a thousand words).

Verbal learner – Người học qua ngôn ngữ lời nói

Yêu cầu giải thích cho tôi: ý nghĩa bằng từ ngữ, diễn giải bằng lời nói, văn bản.

MISMATCH – mất tương xứng ở đâu?

95% chúng ta là visual learners trong khi đó hầu hết nội dung, textbook và sách biểu đạt bằng từ ngữ và không có nhiều hình ảnh (trừ text book của mấy ngành nghệ thuật, kiến trúc).

Cách khắc phục

Lấy ví dụ, hình ảnh, vật thể cụ thể. Cái này rất dễ search trên Google và Youtube. Google search by Images is an excellent sourceNgoài ra cho engineering có SMETE và MERLOT digital libraries mới đây có coursera.

Hồi mình học đại học, những lúc làm viết luận bao giờ mình cũng lấy rất nhiều hình ảnh minh họa cho bài luận. Và mình rất khó chịu khi thầy cô giảng không có hình ảnh minh họa.

h7

3        Active learner vs. Reflective learne/ Người học qua thực nghiệm hành động vs. Người học qua chiêm nghiệm

Active learner – Người học chủ động qua thực nghiệm hành động

Rất chủ động làm cái gì đó với các vật liệu công cụ thí nghiệm.

Muốn nhảy vào làm ngay lập tức để kiểm chứng “let’s try it out and see how it goes”.

Học thì thường đọc to, nói to, ầm ĩ.

Thích làm việc nhóm.

Reflective learne – Người học qua chiêm nghiệm

Thường là thích suy nghĩ, chiêm nghiệm.

Làm việc một mình, im lặng.

Trì hoãn sự bắt đầu “let’s think it through and then try it”.

Thích học một mình hoặc là chỉ học với một người khác chứ không phải một nhóm.

MISMATCH – mất tương xứng ở đâu?

Tất cả các lớp học thì đều có tất cả các thể loại người học qua thực nghiệm và chiêm nghiệm. Nhưng hầu hết các lớp học (trừ trong phòng lab) đều là BỊ ĐỘNG (passive) tức là: người học chủ động qua thực nghiệm thì không có thực hành và người học chiêm nghiệm thì không có khoảng thời gian chiêm nghiệm trong bài giảng ở trên lớp.

“the active learners don’t get to act on the material presented, the reflectice learners don’t do much reflecting during the lectures”.

Cách khắc phục

Để làm cho lớp học trở nên CHỦ ĐỘNG (active): đưa vào những khoảng ngắn dưới 3 phút có những hoạt động nhóm và các nhân để cung cấp những thực hành và phản hồi cho những concepts và phương pháp khó. Điều này tạo cơ hội cho cả hai nhóm actioners and reflectioner tiếp thu được.

Tham khảo thêm và download tại đây: Active learning: An Introduction

4        Sequential learner vs. Global learner/ Người học qua sự kiện rời rạc vs.Người học qua bức tranh tổng thể

Sequential learner – Người học qua sự kiện rời rạc

Cắt nghĩa qua những tư duy phân tích logic từ A suy ra B ra C.

Hoạt động tiếp nhận kiến thức thông tin dựa trên những thông tin rời rạc (function with partial understanding of information).

Có những bước tiến rất đều trong khóa học.

Dễ dàng giải thích các khái niệm concepts.

Tốt trong tư duy phân tích, nhìn rõ từng cây từng cá thế riêng lẻ.

 Global learner – Người học qua bức tranh tổng thể

Tiếp nhận thông tin rất ngẫu nhiên sau đó tổng hợp thành bức tranh lớn – synthesize the big picture through random information.

Hoạt động tiếp nhận kiến thức dựa trên những bức tranh lớn tổng thể để kết nối các sự kiện.

Không có những bước tiến đều đặn nhưng thường có những bước tiến vượt bậc.

Không dễ dàng giải thích ngay lập tức các khái niệm concepts.

Tốt về tư duy tổng hợp, nhìn thấy bức tranh lớn của cả một cánh rừng.

MISMATCH – mất tương xứng ở đâu?

Hầu hết sinh viên, người học, giảng viên, người soạn sách hay nói đúng hơn là tất cả chúng ta là những người tư duy rời rạc. Đây không hẳn là một điều mất tương xứng NHƯNG

Những người học global learners là thiểu số rất nhỏ và họ có vai trò cực kỳ quan trọng trong xã hội, ví dụ như Einstein là một trong số global learners. Nguy cơ của hệ thống giáo dục và trường học hiện nay đánh mất những con người này là không cung cấp và trang bị được cho những người học global learners những bức tranh tổng thể để liên kết sự việc.

Cách khắc phục

Điều này quay lại việc cân bằng trong bài giảng bởi vì trong khi thời gian thì có hạn không thể nào đưa đủ thứ thông tin vào bài giảng. Cho nên đòi hỏi người soạn bài giảng bài phải có bước tổng quan về chủ đề mà mình dạy để đưa ra những bức tranh lớn; cung cấp thêm những tài liệu tham khảo cho người học nếu họ có nhu cầu tìm hiểu thêm.

Ví dụ nếu mà giảng về môi trường, ô nhiễm thì từ những hành động nhỏ như tiết kiệm điện, tiết kiệm nước của cá nhân ảnh hưởng môi trường toàn cầu ra sao. Mình quan sát đây là một lỗi rất phổ biến ở các trường dạy về khoa học kỹ thuật. Ngay từ đầu vào sinh viên, học sinh không hiểu background của môn học, không hiểu liên quan thực tế như thế nào mà chỉ cắm cúi tính toán. (Bản thân mình xưa nay các môn tính toán lúc nào điểm cũng kém thậm tệ)

Đi sâu xa hơn về tâm lý học, triết học thì đòi hỏi người giảng dạy nắm rất chắc để áp dụng vào giảng dạy. Điều này áp dụng cho những môn intangible như là tư duy tích cực hay Thiền thì đi từ cái cụ thể tại sao kiểm soát cảm xúc hơi thở của mình lại liên quan đến giữ gìn hòa bình thế giới…

Nhắc lại một điểm lưu ý là trong mỗi chúng ta đều có một phần trong tất cả các learning style này, chỉ là mức độ mạnh yếu rõ rệt khác nhau. Các bạn có thể sẽ thấy hiện nay rất nhiều những test xuất hiện nhan nhản về personality về phong cách, tính cách để hướng nghiệp chọn nghề đủ kiểu. Nhưng thầy cô giáo và cha mẹ rất không nên dựa vào cái đó để hướng nghiệp sinh viên học sinh. Điều này GS Richard Felder cũng nhắc lại.

h8

CÂU HỎI: Trong buổi training có rất nhiều người, hay cũng có thể chính bạn đặt câu hỏi này: Vậy tại sao lại có sự mismatch, mất tương xứng giữa phong cách dạy và học này?

Trả lời: Rất đơn giản, do quá trình chọn lọc tự nhiên, self-seletion process cho bậc đại học mà thôi. Từ sinh viên đại học, đến master, rồi PhD, số lượng dần dần giảm. Và phong cách học từ khi còn nhỏ tới qua bậc đại học cũng thay đổi là chuyện rất bình thường do tâm lý, môi trường được giáo dục và tự giáo dục của bản thân.

Mình tự quan sát bản thân mình cũng thấy vậy. Ví dụ như còn bé, học theo đúng kiểu active, tức là thấy cái gì cũng muốn mở tháo tung nó ra xem bên trong ra sao, như là thấy cái đồng hồ dây cót nào cũng tháo tung tóe rồi không bao giờ lắp lại được; lớn lên thì thích ngồi yên đọc sách hơn. Ví dụ vậy…

  1. Làm thế nào để lôi kéo sinh viên vào cuộc trong khi giảng dạy – avtive learning and teaching

Đặt câu hỏi, thúc đẩy sinh viên đặt câu hỏi (tham khảo kỹ hơn tài liệu trên website của GS)

Rõ ràng là trong lớp có trao đổi, hỏi đáp thì đỡ boring và buồn ngủ hơn là thầy độc thoại một mình rồi. Áp dụng việc đặt câu hỏi cụ thể cho các bài giảng như thế nào thì bạn có thể tham khảo kỹ hơn tài liệu trên website của GS.

Một cách rất đơn giản GS đề cập và mình cũng thấy nó rất hiệu quả ở mọi lớp học đó là những câu hỏi lửng kích thích tư duy ví dụ: có một cái biểu đồ thì chưa đưa tất cả ra vội và chỉ đưa ra cái khung thôi, còn đồ thị lên xuống như thế nào thì hỏi sinh viên và khán giả đoán xem xu hướng lên xuống ra sao. Có thể sinh viên không cần trả lời nhưng cách đó cũng giúp sinh viên chủ động suy nghĩ ngay tại đó.

Mình có những ông thầy thích tranh luận và muốn sinh viên đặt câu hỏi đến mức mà ông giảng xong 1 đoạn, dừng lại rồi hỏi có câu hỏi gì không. Có khi sinh viên còn chưa kịp tiêu hóa để có câu hỏi thì ông nói: “if you do not have any question, then I have to ask you. So, ASK ME NOW!!! (very loud voice!)

May quá có người hỏi một câu. Ổng nói là: “I’m glad you asked otherwise it could be an awkward moment.” 😀

Mang trực quan thí nghiệm cho phép vào trong lớp học

Mình nhớ một lần xem video bài giảng môn Vậy lý ở đâu đó, ông giáo sư biến lớp học như một phòng thí nghiệm, bài học về con lắc ông giáo sư đã tự treo mình lủng lẳng làm con lắc để miêu tả cho học sinh.  Những hoạt động như vậy dễ tạo kích thích cho học sinh đặt câu hỏi.

Tất nhiên là trong điều kiện cho phép chứ nếu những thí nghiệm liên quan đến cháy nổ khói lửa tùm lum thì phải thực hiện ở phòng lab yêu cầu an toàn nghiêm chỉnh.

Làm phiếu đánh giá

Đừng ngại sinh viên, đồng nghiệp đánh giá mình. Không có người góp ý thì mình đâu khá lên được. Các trường ở các nước đều có phiếu đánh giá giảng viên hàng kỳ. Sinh viên bây giờ rất giỏi, có thể làm việc cùng giảng viên góp ý và giúp mình cải thiện.

(Thế nên các cô cậu sinh viên mà giỏi quá thì cũng đừng nên tự hào mà trách móc thầy cô, hãy cùng học và dạy lại thầy cô, bạn bè)

Mình làm nghiên cứu sinh mà đến giáo sư hướng dẫn của mình hiện giờ cũng vậy. Điều gì ông giúp được, ông nói sẽ giúp hoặc tìm người giúp. Có những thứ mình phải tự học và dạy lại ổng. Không ai có thể biết hết mọi thứ.

Ở Việt Nam, trường đại học chưa yêu cầu phiếu đánh giá thì giảng viên có có thể tự làm phiếu đánh giá cho lớp học của mình 2 lần cho 1 kỳ để điều chỉnh dần nội dung khi mà mới bắt đầu dạy. Phiếu đánh giá như thế nào thì tùy thuộc vào mục đích mình muốn truyền đạt cho học sinh. Nên tham khảo những mẫu phiếu đánh giá mà có thể thu được nhiều thông tin và phản hồi nhất từ học sinh vì tâm lý ai cũng lười làm phiếu đánh giá.

NGUY CƠ

Trong tài liệu của GS có đề cập đến nhiều giảng viên và giáo viên khi mới thực hiện và cố gắng thực hiện active learning class thì một số risk nguy cơ hay những trường hợp có thể dẫn đến mà người dạy cần kiểm soát trong lớp học khi mà:

Để phần câu hỏi tranh luận diễn ra quá dài cháy bài giảng: stay focus.

Nhóm hoàn thành rồi nhóm chưa.

Chẳng có phản hồi nào từ sinh viên cho câu hỏi đặt ra (cái này cần phải work out rất nhiều nữa cho kỹ năng đặt câu hỏi của học sinh, sinh viên Việt Nam).

Sinh viên chưa biết cách làm việc nhóm

Sinh viên chưa biết cách đặt câu hỏi

Lớp quá ồn

Sinh viên phàn nàn là thầy cứ dạy những cái gì ở đâu, chả có dẫn đến cái point nào: make sure students understand your points, let them know what you expect them to get from the lectures.

h9

Cuối cùng, Richard Felder qua 15 năm dạy học để nhận ra rằng “something is going wrong with my way of teaching and how student’s learning” do đó ông mới bắt đầu trăn trở tìm hiểu và tìm cách cải thiện bằng cách hiểu về learning and teaching style qua tìm hiểu tâm lý học, truyền thông…. Và lời khuyên cuối cùng kết thúc khóa học của ông là nếu bạn mới đi dạy, chưa biết làm gì thì find a star to follow! Sẽ luôn luôn có một star ở mọi trường đại học, ở mọi nơi để mà học đó chính là Tìm thầy giỏi mà học, đó chính là when the student is ready the teacher appears

Chúc các bạn sáng tạo vượt bậc trong dạy và học.

Thân mến,

Đào Thu Hằng

Advertisements

One thought on “SÁNG TẠO TRONG DẠY VÀ HỌC (cho bậc đại học)

  1. Sau 3 năm đọc lại bài này, mình thấy rằng không ai ra trường là biết dạy học cả, kể cả người học từ trường sư phạm ra. Chỉ khi thực hành dạy và kinh nghiệm từ năm nay qua năm khác sẽ đúc kết thành phương pháp và phong cách của riêng mình (với sự khiêm tốn và không ngừng học hỏi) . G.S Richard mất 15 năm dạy học mới bắt đầu tìm hiểu thêm vấn đề và phát triển phương pháp dạy học cho mình

    Giảng viên đại học hiện nay (không rõ ở VN ra sao) nhưng ở các nước phương Tây chịu nhiều áp lực về nghiên cứu, trong khi để chuẩn bị bài giảng cho một môn học mất rất nhiều công sức và thời gian.

    Đây là những gì mình thấy ở các đồng nghiệp là giảng viên trẻ Assistant Prof. hay Associate Prof., nói rằng: “trong phiếu đánh giá sinh viên nói rất tốt về tao, và rất thích tao nhưng tao vẫn cảm thấy không hài lòng về sinh viên và hơi thất vọng về bản thân mà chưa cải thiện được tốt hơn vì tao bận quá”

    Liên quan đến điểm này GS. Richard cũng nói các bạn giảng viên trẻ mới áp dụng các phương pháp mới thì cần kiên trì và từ từ. Khó có thể thực hiện ngay một lúc nhiều thứ quá trong một bài giảng hay một kỳ học. Và cũng khó có thể làm chiều lòng tất cả các sinh viên hay expect tất cả các sinh viên học tốt. Sinh viên nào thực sự hứng thú với môn học thì sẽ tự đầu tư nhiều thời gian hơn.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s