Truyện “Thầy Lazaro Phiền” – Dấu mốc khởi đầu của văn xuôi tự sự hư cấu tiếng Việt thời hiện đại

Download để đọc “Thầy Lazaro Phiền” >>

Nhân 130 Năm Ngày Xuất bản Truyện “Thầy Lazaro Phiền”

Lại Nguyên Ân

IMG_6936

Cách nay tròn 130 năm, vào năm 1887, một cuốn truyện viết bằng văn xuôi tiếng Việt nhan đề “Thầy Lazaro Phiền” của tác giả Nguyễn Trọng Quản, do nhà J. Linage, đường Catina, Sài Gòn, xuất bản, ra mắt công chúng.

Cuốn sách này, thay vì nổi tiếng từ đầu, đã suýt bị quên lãng. Suốt trong hàng chục năm từ sau khi nó ra đời, không thấy báo chí đương thời nhắc gì đến cuốn truyện này.

Hồi năm 1934, nhà in Nguyễn Văn Của ở Sài Gòn in thành sách một bản dịch nhan đề “L’ Histoire de Lazaro Phiền”, do con trai tác giả là Nguyễn Trọng Đắc dịch từ nguyên bản truyện tiếng Việt sang tiếng Pháp, có lời giới thiệu của P. de Midan, (1) cũng hầu như không gây tiếng vang gì.

Học giả được coi như người làm tổng kết chừng nửa thế kỷ phát triển văn học quốc ngữ là Vũ Ngọc Phan, trong bộ sách đồ sộ “Nhà văn hiện đại” (1940 – 42) tuy có biết đến Trương Vĩnh Ký, nhà văn và học giả cùng thời Nguyễn Trọng Quản, tuy có viết về Hồ Biểu Chánh, người cầm bút khá muộn sau Nguyễn Trọng Quản, thế nhưng quyển “Thầy Lazaro Phiền” và Nguyễn Trọng Quản thì Vũ Ngọc Phan không biết tới!

Mãi đến giữa những năm 1970s, nhà nghiên cứu-nhà giáo Nguyễn Văn Trung, trong quá trình tìm tòi và hệ thống hóa tài liệu cho một “Hồ sơ về Lục châu học”, tức là hồ sơ tư liệu về văn hóa vùng đất Nam Kỳ, đã nhận ra tính chất mới mẻ “đi trước thời đại” của tác giả Nguyễn Trọng Quản, với thiên truyện “Thầy Lazaro Phiền”. Nguyễn Văn Trung khám phá ra sự kiện tầm cỡ này tại miền Nam có lẽ chỉ trước ngày 30/4/1975 không lâu; và cũng vì sự việc nảy sinh quá gần thời điểm biến động ấy, cộng thêm nhiều lý do khác nữa, phát hiện học thuật không ít hệ trọng này đã khá chậm, khá mất thời gian để thuyết phục các giới nghiên cứu văn học, giới sáng tác và phê bình văn học trong cả nước. Tuy vậy, đến những năm 1990s, ý nghĩa dấu mốc văn học sử thật sự của sự xuất hiện truyện “Thầy Lazaro Phiền” năm 1887 hầu như đã thuyết phục được số đông giới học giả và nhà văn Việt Nam.

Thật ra, nếu tìm trong kho sách thư viện Khoa học xã hội tại 26 Lý Thường Kiệt Hà Nội thì vẫn thấy có cuốn “Thầy Lazaro Phiền” nằm sẵn đó từ xưa, có lẽ từ thời EFEO (trường Viễn đông bác cổ Pháp) để lại (2); nhưng vấn đề là chưa ai nhìn ra sự kiện. Mà về vấn đề nhận định (nhận định sự kiện văn học sử) thì trong giới nghiên cứu và giới nhà văn, kế thừa những phán đoán của người đi trước, người ta vẫn xem sự xuất hiện tiểu thuyết “Tố Tâm” (1925) như dấu mốc khởi đầu của văn xuôi tự sự hư cấu tiếng Việt thời hiện đại. Sự thiếu thốn về tài liệu tác phẩm cộng với định hướng quá tập trung vào văn chương phía bắc, khiến giác quan văn học sử của giới chuyên gia chúng ta tiềm tàng một sự khinh thị hoặc ngầm ẩn hoặc hiển nhiên đối với thành quả phát triển văn chương phương nam; đây là cả một nếp nghĩ cần chỉnh sửa.

.IMG_6937

Trở lại cuốn truyện “Thầy Lazaro Phiền” xuất bản năm 1887 của Nguyễn Trọng Quản; căn cứ vào đâu để xem nó như dấu mốc báo hiệu sự phát triển của văn xuôi tự sự tiếng Việt hiện đại? Có thể căn cứ vào những nội dung “định hướng” của chính tác giả ở lời tựa đề ngày 1.XII.1886, cũng chính là sự khái quát điều mà ông đã thực hiện trong tác phẩm: “Tôi một có ý dụng lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm ra một truyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay”… “tôi [….] dám bày đặt một truyện đời này là sự thường có trước mắt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người lấy làm vui mà đọc, kẻ thì cho quen mặt chữ, người thì cho đặng giải phiền một giây”.

Ở truyện “Thầy Lazaro Phiền” thể hiện hai dấu hiệu căn cốt của văn xuôi tự sự hư cấu hiện đại: 1/ Dữ liệu (cái được miêu tả, thực tại, hiện thực, chất liệu đời sống) là sự sống thường ngày, người và việc thường ngày, cái thực tại kinh nghiệm chung của người sáng tác và công chúng; 2/ Ngôn ngữ (cái dùng để miêu tả, chất liệu diễn ngôn) là tiếng nói hàng ngày, sống động, là vốn ngôn ngữ chung của người sáng tác và công chúng.

Vào lúc Nguyễn Trọng Quản viết truyện “Thầy Lazaro Phiền”, nền văn chương người Việt, xét ở hai phương diện trên mà ông đề cập, đều chưa cập nhật yêu cầu mà ông đề ra. Cuộc sống được miêu tả trong các tác phẩm vẫn tuân theo cung cách “phi thời gian” hoặc “phi thời gian hóa” như văn xuôi tự sự thời trung đại. Các truyện nôm, nhất là truyện thơ, đều kể những chuyện của người xưa hoặc như thể của ngày xưa, xa cách (xa cách tuyệt đối) cả người kể chuyện lẫn người nghe chuyện. Một vài tác phẩm văn xuôi chữ Hán được viết hầu như cùng thời với “Thầy Lazaro Phiền” như “Hát đông thư dị” (1886) của Nguyễn Thượng Hiền, “Vân nang tiểu sử” (1886) của Phạm Đình Dục, đều là ghi chép chuyện đã có từ xưa, đều là chuyện quá khứ.

Viết cái hàng ngày, vào thời ấy, chưa đi vào tâm thế người viết truyện.

Điều này càng được củng cố bởi thứ ngôn ngữ dùng để viết.

Nếu viết truyện bằng chữ Hán (như trường hợp “Hát đông thư dị” hay “Vân nang tiểu sử”) tất phải dùng văn ngôn, thứ ngôn ngữ cách điệu đã hình thành từ xa xưa, tuy các giới học giả và tác gia Trung Hoa lúc này vẫn dùng, nhưng họ biết là nó đã rất cách biệt “bạch thoại” là thứ ngôn ngữ mà người Trung Hoa đương thời đang nói; tình trạng này, sang đến thập niên đầu tiên của thế kỷ XX, các học giả tác gia Trung Hoa như Hồ Thích, Trần Độc Tú, v.v. sẽ phát động cuộc cải cách, sẽ vận động lấy bạch thoại thay vì văn ngôn làm ngôn ngữ viết.

Nếu viết truyện bằng văn xuôi tiếng Việt, đến lúc ấy có hai phương án. Ứng với lối viết bằng chữ Nôm, tác phẩm sẽ đi gần với hướng của văn xuôi chữ Hán kể trên (Nhưng hầu như có quá ít tác phẩm theo phương án này!). Ứng với lối viết bằng chữ Quốc ngữ (đã và đang được sử dụng ngày một nhiều hơn, nhất là ở Nam Kỳ), tác phẩm thường phải vận hành bằng lối văn biền ngẫu vốn hình thành từ xưa và lúc này vẫn thịnh hành, nhất là trong tâm lý tiếp nhận người đọc vẫn quen với nó nhiều hơn.

Văn xuôi biền ngẫu tiếng Việt là một dạng diễn ngôn in dấu ảnh hưởng cả văn biền ngẫu Nôm, cả văn ngôn chữ Hán; khi chuyển dạng văn tự từ chữ vuông (ghi bằng chữ Nôm) sang chữ cái La tinh (ghi bằng phiên âm a,b,c…), chính câu văn biền ngẫu trở thành dấu nối gắn kết mặt bằng ngôn ngữ thực tại với tập quán đọc nghe đã từng có lâu đời. Có lẽ vì vậy mà câu văn biền ngẫu đã tồn tại khá lâu trong văn xuôi chữ Quốc ngữ thời đầu, kể từ các bài thông tin báo chí đến các bài đàm luận nhàn tản.

Trong văn tự sự, được diễn tả bằng câu biền ngẫu, các sự việc và con người hầu như đều ít nhiều bị trừu hóa, bị đẩy xa khỏi cái hiện thực hàng ngày, đều ít nhiều bị nhuộm vẻ xa xưa, đều bị “quá khứ hóa”; câu văn biền ngẫu, do vậy, cũng ngăn trở việc thâm nhập và truyền đạt cái hàng ngày.

***

Lược truyện THẦY LAZARO PHIỀN: Phiền là con nhà đạo gốc (đạo Thiên Chúa) ở Quảng Bình vào sinh sống ở Đất Đỏ, Bà Rịa đã lâu năm. Ba tuổi mồ côi mẹ, sống với cha; đến năm 1862 Phiền bị giam trong nhà giam các giáo dân, sau có một quan ba Pháp đem về Gia Định cho một linh mục nuôi, cho học chữ Pháp và chữ La tinh. Lúc đi học ở trường D’Adran, Phiền kết bạn với Vero Liễu, con ông trùm họ đạo ở Cầu Kho, thường được cha mẹ Liễu đến thăm cùng với người em gái bạn dì của Liễu. Phiền và cô gái yêu nhau rồi cha Liễu gả đứa cháu gái này cho Phiền. Họ sống hạnh phúc với nhau tại nhà của Vero Liễu, nhưng sáu tháng sau Phiền phải đi làm thông ngôn tại Bà Rịa. Tại đây một bà người Việt là vợ quan ba Tây đem lòng say mê Phiền, nhưng bị Phiền cự tuyệt. Bà này bèn bày đặt thư nặc danh vu cho Vero Liễu tư tình với vợ Phiền khi Liễu ghé qua nhà Phiền trong một chuyến buôn. Phiền tin là thật, bèn sắp đặt một vụ bắn lầm để hạ sát Liễu. Xong, Phiền về nhà, dùng cỏ độc bỏ vào siêu thuốc cho vợ uống. Hơn mười tháng sau vợ Phiền chết, trước lúc tắt thở còn bình tĩnh bảo chồng: “Tôi biết làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng xin Chúa tha thứ cho thầy!”. Sau đó, chán thói đời đen bạc xấu xa, Phiền thôi việc nhà nước xin vào tu tại nhà thờ dòng họ Tân Định. Mười một năm sau kể từ lúc vợ chết, thầy Phiền về Bà Rịa thăm lại những kỷ niệm cũ, tình cờ nhận được thư của người vợ quan ba Tây khi xưa, trong đó nói rõ sự thực là vì yêu Phiền nên đã bày trò thư từ giả mạo vu cáo vợ thầy. Đọc xong bức thư thú tội ấy, thầy Phiền đã chết trong nỗi ân hận vì tội ác của mình.

Câu chuyện trong Thầy Lazaro Phiền là do tác giả tự “bày đặt ra” (lời tựa) tức là sản phẩm hư cấu nghệ thuật của cá nhân tác giả, dựa trên kinh nghiệm sống trực tiếp, dựa vào cái hàng ngày (“một chuyện đời này, là cái hằng có trước mắt ta luôn” − lời tựa). Tác phẩm có cốt truyện như một truyện đời tư, một chủ đề sám hối đạo đức mang màu sắc Thiên Chúa giáo nhưng được khai thác ở khía cạnh ít nhiều gần gũi với đạo lý truyền thống của người Việt. Nghệ thuật mô tả tâm lý còn ở mức sơ sài. Nhưng cách mô tả ở đây đã mang màu sắc lịch sử cụ thể rõ rệt; chất liệu cho trần thuật ở đây là cái hàng ngày của đời sống. Cách kể chuyện (do nhân vật người kể chuyện đảm nhiệm và được thực hiện theo nguyên tắc chỉ thuật lại những gì tận mắt trông thấy, tận tai nghe thấy) đã tỏ ra chịu ảnh hưởng đáng kể của tư duy thực chứng phương Tây. Lời kể ở đây là một dạng thức văn xuôi mới mà quy tắc nghệ thuật của nó là sự tương ứng cao với lời nói hàng ngày; đồng thời trong cách cấu tạo câu không ít chỗ lại gần gũi với văn phạm các tiếng Âu Tây; rất ít dấu vết của câu văn biền ngẫu.

Với tác phẩm này, ở văn học người Việt đã xuất hiện những yếu tố hoàn toàn mới, mang tính dự báo cho một nền văn xuôi tiếng Việt kiểu mới, sẽ hình thành ở thế kỷ XX.

Theo một số nhà nghiên cứu thì chính Hồ Biểu Chánh cho rằng tác phẩm này cùng với Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Chánh Chiếu và Phan Yên ngoại sử (1910) của Trương Duy Toản là ba tác phẩm thể truyện văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ xuất hiện sớm nhất ở Nam Kỳ, cũng tức là sớm nhất trong văn học quốc ngữ Việt Nam.

Chú thích:

(1) Thư viện Quốc gia Việt Nam, 31 Tràng Thi, Hà Nội: sách ký hiệu M.8330: L’Histoire de Lazarô Phiền: Ed. de l’Asie nouvelle / Nguyễn Trọng Quản ; Avant propos de P. Midan ; Trad. de français de Nguyễn Trọng Đắc. – Saigon : Impr. de l’Uinion Nguyen Van Cua, 1934. – 31p.; 23cm.

(2) Hồi những năm 1990s tôi tìm thấy tên sách “Thầy Lazaro Phiền” bản in 1887 tại Thư viện Khoa học xã hội, 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Hiện nay thư viện này đã chuyển về số 1 Liễu Giai, Q. Ba Đình, Hà Nội. Hy vọng cuốn sách trên vẫn còn trong kho của cơ quan này.

Lại Nguyên Ân

Truyện thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản – Những đóng góp vào kỹ thuật văn hư cấu (fiction) trong văn học Việt Nam (*)

Hoàng Dũng

Một tác phẩm không thành công vẫn có thể có đóng góp to lớn cho văn học, xét về phương diện kỹ thuật. Chỉ cần nhắc lại trường hợp bài “Tình già” của Phan Khôi là đủ: đây không phải là bài thơ hay, ngay cả với quan điểm thẩm mỹ thời đó, nhưng toàn bộ phong trào Thơ Mới phải mang ơn “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” này. Ngày nay, đọc Truyện thầy Lazarô Phiền (1887) [1] của hơn 100 năm trước, người ta khó có một xúc cảm thẩm mỹ gì đặc biệt [2] ; song nếu đặt tác phẩm này trong tiến trình văn học Việt Nam, nghĩa là trong sự đối sánh với những tác phẩm trước và sau nó, nhà nghiên cứu không thể không ghi nhận sự đổi mới kỹ thuật của Truyện thầy Lazarô Phiền. Sự đổi mới ấy mạnh mẽ đến nỗi những người sau không phải đều có thể tiếp thu được tất cả. Bài này thử phác qua những đóng góp của tác phẩm trên về kỹ thuật viết văn hư cấu.

1.
Chỉ cần đọc vài dòng đầu là có thể thấy ngay: Nguyễn Trọng Quản hoàn toàn thoát ly văn biền ngẫu của văn học cổ điển. Ðiều đó xuất phát từ chủ trương của tác giả, được tuyên bố một cách hiển ngôn trong lời “Tựa”:“Tôi có dụng ý lấy tiếng thường mọi người hằng nói mà làm ra một chuyện hầu cho kẻ sau coi mà bày đặt cùng in ra ít nhiều truyện hay”. Như thế, có thể nói Nguyễn Trọng Quản còn có cái hùng tâm xây dựng một nền văn chương lấy cái “tiếng thường mọi người hằng nói” làm ngôn ngữ, mà Truyện thầy Lazarô Phiền chỉ là một sự mở đầu hay thể nghiệm.

(Nói cho công bằng, người khởi xướng việc viết văn như lời nói thường không phải là Nguyễn Trọng Quản, mà là thầy của ông: Trương Vĩnh Ký. Tuy nhiên, là một học giả, họ Trương chỉ thực hiện chủ trương này trong văn khảo cứu hay khi ghi chép chuyện đời xưa. Chính Nguyễn Trọng Quản, với Truyện thầy Lazarô Phiền, mới là người đầu tiên đưa lời nói thường vào sáng tác văn chương.)

Về mặt này, Truyện thầy Lazarô Phiền có một tinh thần tiên phong rất đáng ngạc nhiên so với thời đại ông. Hai mươi sáu năm sau, Hồ Biểu Chánh viết cuốn đầu tay U tình lục (1913) còn bằng văn vần. Ngay cả khi đã viết theo kỹ thuật Tây phương rồi, đôi chỗ ông vẫn cho thấy còn quyến luyến câu văn biền ngẫu: “Mấy đám mạ gió thổi dợn sóng vàng vàng; trong hào ấu, trái già cuốn đỏ đỏ.” (“Cha con nghĩa nặng”, Phụ nữ tân văn số 32, 1929). Ở Tố Tâm(1925), cái bệnh biền ngẫu có vẻ nặng hơn: “Nghe những câu “cánh hồng bay bổng”, “tin nhạn vắng tanh” của em viết như tiếng quyên kêu, tiếng dế gọi, mà xui ai tới bãi sa trường. Ôi! Biết làm gì, quen làm gì, dan díu làm gì cho tấm lòng thêm khắc khoải.”. Nho Phong của Nhất Linh xuất bản một năm sau Tố Tâm, cũng với giọng văn như vậy: “Lúc đi là hàn nho, lúc về biết đâu không ông cống ông nghè chi đài các.”.

Thế mà Truyện thầy Lazarô Phiền, cuốn truyện hiện đại đầu tiên, lại không có lấy một câu văn biền ngẫu [3].

2.
Văn chương tự sự truyền thống có một đặc trưng nổi bật: đấy là câu chuyện diễn ra theo một trật tự đã thành quy tắc: Hội ngộ – Lưu lạc – Ðoàn viên. Truyện Kiều, Nhị Ðộ Mai, Tây Sương, Sơ kính tân trang, Phan Trần, Ngọc Kiều Lê, Lục Vân Tiên … đều như vậy. Dĩ nhiên, kiểu bố cục này có căn nguyên sâu xa trong triết lý vũ trụ tuần hoàn, trong lối sống của xã hội nông nghiệp xưa. Trong bối cảnh văn học như thế, Truyện thầy Lazarô Phiền là một hiện tượng độc sáng: từ bỏ cái bố cục Hội ngộ – Lưu lạc – Ðoàn viên, nếu không nói đã hoàn toàn làm trái lại. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh mối quan hệ giữa ba người: Thầy Lazarô Phiền, vợ của thầy và người bạn chí cốt, Vêrô Liễu. Kết thúc truyện là cái chết của cả ba nhân vật, người này nối tiếp người kia.

Ở tiểu thuyết chương hồi truyền thống, mỗi phần thường mở đầu và kết thúc bằng những câu có tính hồi chỉ (anaphoric) hay khứ chỉ (cataphoric) (chẳng hạn Hoàng Lê nhất thống chí mở đầu và kết thúc hồi thứ 14 như sau: “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị sau khi đem quân ra cửa ải, xuyên rừng vượt núi, như giẫm đất bằng […]”, “Chưa biết việc ấy ra sao. Hãy chờ hồi sau phân giải.”). Truyện thầy Lazarô Phiền không như thế: vào truyện một cách trực tiếp và kết thúc cũng thường gói gọn trong phần đó, chứ không có lời rào đón về câu chuyện sắp kể ở phần tiếp theo. Chẳng hạn, hai câu mở đầu và kết thúc phần III: “Cách một hồi thầy ấy mở mắt ra và nói rằng: “Xin thầy ghé tai lại mà nghe.”, và “Tôi thấy thầy ấy gác tay trên trán cùng nhắm mắt lại dường như muốn đọc trong một cuốn sách đang khi ấy rồi sẽ thuật truyện lại, cho nên tôi làm thinh.”. Lối viết đó cộng với cách đánh số La Mã (từ I đến X) cho mỗi phần, càng làm tăng ấn tượng về tính chất hiện đại của kỹ thuật Truyện thầy Lazarô Phiền.

3.
Một đặc điểm nổi bật khác của văn chương tự sự truyền thống, là kể chuyện theo thời gian một chiều. Ðây là quy tắc thép, không có lấy một lệ ngoại, trong văn chương dân gian và cả trong văn chương bác học. Bề ngoài đoạn Kim Trọng trở lại vườn Thúy nửa năm sau khi Kim chia tay Kiều dường như không tuân thủ quy tắc trên: trước đó Nguyễn Du đã dành bao nhiêu bút mực để tả mười mấy năm lưu lạc của Kiều. Tuy nhiên, xét kỹ, ta thấy không thể cho đó là thủ pháp đảo ngược thời gian, mà chỉ là chuyện không còn cách lựa chọn nào khác khi tác giả muốn chuyển mạch từ tuyến nhân vật Kiều sang tuyến nhân vật Kim. Cuốn truyện đầu tiên không chấp nhận lối tự sự theo dòng thời gian một chiều truyền thốngTruyện thầy Lazarô Phiền. Mở đầu truyện là hình ảnh ngôi mộ Lazarô Phiền và kết thúc cũng là hình ảnh ngôi mộ Lazarô Phiền, một kiểu kết cấu mãi đến “Chí Phèo” (1941) của Nam Cao mới thấp thoáng gặp lại qua hình ảnh chiếc lò gạch cũ ở phần đầu và cuối truyện.

Việc tác giả ngay từ đầu truyện đã cho biết nhân vật chính sẽ chết, cũng đủ cho thấy trọng tâm của truyện không phải là tình tiết éo le, ly kỳ, mà là cái thế giới nội tâm của nhân vật. Quả vậy, gần như toàn bộ câu chuyện chỉ là hồi ức của Lazarô Phiền, chứ không phải xảy ra một cách trực tiếp. Nói cách khác, tác giả không kể lại một câu chuyện, mà chính xác hơn, muốn miêu tả những đau đớn, giằng xé, ân hận của một người vì ghen tuông, đã trót phạm một tội ác không thể cứu chuộc. Một số đoạn trong Truyện Kiều cũng miêu tả tâm lý, chứ không phải kể lại sự kiện. Nhưng đây là cuốn truyện đầu tiên trong văn học Việt Nam mà toàn bộ câu chuyện lấy trạng thái tâm lý làm đối tượng miêu tả. Ðây cũng là cuốn truyện đầu tiên lấy sự ân hận làm chủ đề.

4.
Truyện thầy Lazarô Phiềncuốn truyện đầu tiên viết theo góc nhìn của ngôi thứ nhất. Trong văn học truyền thống, câu chuyện được kể lại theo kiểu gián cách, khách quan, bị đẩy ra xa thành ngôi thứ ba; người trần thuật là một kẻ vô hình, không tham gia gì vào câu chuyện, nhưng biết hết mọi sự và kể lại cho độc giả hay. Ðấy là người trần thuật – thượng đế. Ở Truyện thầy Lazarô Phiền, người trần thuật là một nhân vật xưng tôi. Tuy nhiên, tôi đây chỉ tham gia một phần vào câu chuyện mà thôi: tôi không phải là nhân vật chính, cũng không phải là người chứng kiến câu chuyện xảy ra, mà chỉ là người được nhân vật chính kể lại cho nghe. Như thế, Truyện thầy Lazarô Phiền được viết theo hai tầng trần thuật, với nhân vật tôi chỉ đóng vai người dẫn truyện. Tôinhư thế cũng không biết gì hơn độc giả; người trần thuật không còn toàn năng nữa – tôi thực chất cũng chỉ là một độc giả. Cách viết này rõ ràng là hiện đại, đi liền với sự thay đổi tư tưởng thẩm mỹ: đối tượng thẩm mỹ không còn là cái khách quan như truyền thống, mà là cái chủ quan với thế giới nội tâm riêng biệt.

5.
Văn chương truyền thống thường không chú ý lắm đến những chi tiết xác thực về thời điểm và nếu có nhắc đến thì cũng chỉ nói chuyện xảy ra đã xa xưa vào một thời điểm có biên độ rất rộng. Truyện Song tinh hoàn toàn không đề cập gì đến thời điểm câu chuyện. Truyện Kiều đóng khung câu chuyện vào “năm Gia Tĩnh triều Minh”, nhưng Gia Tĩnh là niên hiệu tương ứng với cả một thời gian dằng dặc 44 năm (1522 – 1566). Nhị độ mai kể chuyện dời Ðường Thái Tông, một khoảng thời gian còn dài hơn nữa: 50 năm (599 – 649). Ở Lục Vân Tiên không thể cho là dài hơn hay ngắn hơn, bởi vì quá mơ hồ: tác giả nói Vân Tiên sống vào thời Sở vương, nhưng không nói rõ Sở vương nào, mà nước Sở thì tồn tại từ đời Ðông Chu cho đến đời Tần! Ấy là chưa kể một nhân vật ông Quán nhắc đến chuyện Gia Cát thời Tam Quốc, chuyện Hàn Dũ đời Ðường, thậm chí cả chuyện Trần Ðoàn thời Tống, tức là những thời sau nước Sở rất lâu [4] .

Tình hình hoàn toàn khác ở Truyện thầy Lazarô Phiền. Thầy Phiền sinh năm 1847. Mẹ thầy chết năm 1850, lúc thầy mới ba tuổi và bố thầy hơn 46 tuổi. Năm 1860, thầy nghe Tây đánh chiếm thành Gia Ðịnh. Năm 1862, bố thầy mất khi Tây lấy Bà Rịa. Năm 1864, sau một năm rưỡi học chữ quốc ngữ, thầy vào học trường La Tinh. Năm 1866, thầy học trường d’Adran. Năm 1870, thầy đi thi tại Sài Gòn, mấy tháng sau được cử làm thông ngôn và lấy vợ. Thầy nhận được bức thư đề ngày 14 tháng 8 năm Tân Mùi, tố cáo vợ thầy ngoại tình với bạn là Vêrô Liễu. Hơn một tuần lễ sau, thầy sát hại người thầy cho là tình địch. 15 ngày sau đó, thầy đầu độc vợ. Giữa năm 1873, vợ thầy chết, thầy đi tu. Năm 1882, thầy được phong chức. Ngày 7 tháng 1 năm 1884, thầy mất. Năm sau, 1885, tôi, người trần thuật, viếng mộ Lazarô Phiền. Thật như một bản khai sơ yếu lý lịch.

Việc kê khai ngày tháng quá đầy đủ, chi tiết, nhất là thời điểm câu chuyện kết thúc quá gần thời điểm viết và xuất bản (viết năm 1886, xuất bản năm 1887), làm cho người đọc dễ quên đây là chuyện hư cấu, trái lại có cái ảo giác một câu chuyện có thật, nóng hổi nữa. Cái ảo giác này càng tăng khi tác giả hai lần sử dụng chú thích, một là những chi tiết cụ thể về ngôi nhà thờ nơi chôn Lazarô Phiền, và một là của chính nhân vật tôi, nêu lời của mẹ mình về vụ giam cầm giáo dân tại ngục Bà Rịa, để chứng tỏ điều Lazarô Phiền kể là đúng sự thực. Như thế, không thể xem chú thích ở đây là một cái gì bên ngoài truyện, ngược lại phải thấy đó là một cách làm có dụng ý nghệ thuật. Việc sử dụng chú thích trong truyện hư cấu như thế là thủ pháp mãi đến năm 1925 mới gặp trong “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu” của Nguyễn Ái Quốc [5] .

Có thể nói Truyện thầy Lazarô Phiềncuốn truyện đầu tiên sử dụng kỹ thuật đan cài những chi tiết có vẻ phi hư cấu vào chuyện hư cấu.

*

Ðánh giá Truyện thầy Lazarô Phiền, có người cho là “kỹ thuật thô sơ non kém” (Bùi Ðức Tịnh 1998:7). Những gì phân tích trên đây tưởng đủ để chứng tỏ rằng lời chê đó thiếu hẳn một cái nhìn lịch sử.

Truyện thầy Lazarô Phiền là một sự đột phá về kỹ thuật. Tiếc thay, sự đột phá đó nói chung không được những tác giả đi sau kế thừa. Ðiều ấy có nhiều lý do, trong đó hẳn có áp lực của người đọc. Trong văn chương truyền thống, tác động của người đọc đối với người viết còn tương đối nhẹ nhàng: văn chương là chuyện tinh thần thuần túy, để mình, hay rộng hơn chút nữa là bạn bè, ngâm ngợi khi chén rượu khi cuộc cờ. Việc tiếp xúc với phương Tây đã cho phép du nhập một khí cụ mới: máy in. Chính cái thứ không văn chương lắm này làm cho văn chương phải thay đổi. Người viết in tác phẩm của mình để bán kiếm lời. Và một khi văn chương đi vào thị trường, thì người đọc có cái sức mạnh của người tiêu thụ hàng hóa: nó buộc người viết phải sản xuất cái mà người đọc thích. Truyện thầy Lazarô Phiền là sáng tác đầu tiên theo kiểu phương Tây, mà lại quá mới. Công chúng xưa nay chìm trong bể văn chương truyền thống, chưa hề được chuẩn bị, được làm quen, trách sao được có thái độ thiếu nồng nhiệt. Nhìn theo chiều hướng này, việc các tác giả sau, kể cả những người tự nhận có chịu ảnh hưởng của Truyện thầy Lazarô Phiền, như Hồ Biểu Chánh chẳng hạn [6] , chọn một giải pháp trung dung hơn, có yếu tố mới mẻ của châu Âu, mà cũng có yếu tố đã quen thuộc với khẩu vị của độc giả, cũng là điều dễ hiểu.

Tài liệu trích dẫn

  • Bùi Ðức Tịnh, 1998. Lời giới thiệu. Trong Cao Xuân Mỹ, 1998, tr. 7-8.
  • Cao Xuân Mỹ (biên soạn) 1998. Truyện dài đầu tiên và tuyển tập các truyện ngắn Nam Bộ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nguyễn Hiến Lê, 1968. Văn học Trung Quốc hiện đại (1898 – 1960), q. thượng. Nguyễn Hiến Lê: Sài Gòn.
  • Nguyễn Văn Trung, 1987. Những áng văn chương Quốc ngữ đầu tiên – Thầy Phiền, truyện của Nguyễn Trọng Quản, Tài liệu tham khảo sau đại học và năm cuối bậc đại học (ronéo). Ðại học Sư phạm tp. Hồ Chí Minh.
  • Trần Nghĩa, 1973. “Thử bàn về nguồn gốc truyện Lục Vân Tiên”. Trong Nguyễn Ðình Chiểu, tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Viện Văn học và Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr. 485-497.
  • Vũ Ngọc Phan 1960 [1942]. Nhà văn hiện đại, q. 2. Thăng Long: Sài Gòn.

[*] Đăng lần đầu trên Tạp chí Văn học số 10. 2000.

[1]Truyện thầy Lazarô Phiền thuộc thể loại nào? Nguyễn Văn Trung (1987) và Bùi Ðức Tịnh (1998) gọi đó là tiểu thuyết, Cao Xuân Mỹ (1998) cho đó là truyện dài. Những ý kiến ấy liệu thỏa đáng chăng khi cuốn này chỉ hơn 25 trang, theo bản in lại trong Cao Xuân Mỹ (1998), đành rằng gọi là tiểu thuyết hay truyện dài không chỉ căn cứ vào độ dày của tác phẩm?

[2]Chỉ hai mươi năm sau khi Tố Tâm xuất bản, mà đã không thể chê câu văn của cuốn tiểu thuyết này rồi, vì “hai mươi năm giá ở vào một nước đã tới một trình độ tiến hóa đầy đủ thì chỉ là một thời gian không đáng kể, nhưng ở vào nước Việt Nam ta sự tiến hóa đang rất mau, rất bồng bột từ khi tiếp xúc văn minh Tây phương, hai mươi năm có thể coi là một thế hệ” (Vũ Ngọc Phan 1960:350). Truyện thầy Lazarô Phiền cách Tố Tâm đến gần 40 năm, thì càng phải như vậy.

[3]Ở Trung Quốc cuối năm 1916 mới bắt đầu dấy lên phong trào bỏ văn biền ngẫu, sử dụng bạch thoại (bị chê là “ngôn ngữ của bọn phu xe, bọn bán tương”) như là một phương cách để hiện đại hóa văn học (xem Nguyễn Hiến Lê 1968:106ss).

[4]Xem thêm Trần Nghĩa 1973: 488s.

[5]Nguyễn Ái Quốc chú thích dưới dạng tái bút ở cuối truyện.

[6]Trong hồi ký Ðời của tôi, Hồ Biểu Chánh cho biết sau khi được đọc Truyệnthầy Lazarô Phiền cùng hai cuốn khác, Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Chánh Chiếu (1910) và Phan Yên ngoại sưû của Trương Duy Toản (1910), là ba cuốn truyện bằng văn xuôi đầu tiên ở Nam Kỳ kể chuyện trong nước, ông chuyển hướng sáng tác, tiếp thu kỹ thuật phương Tây (dẫn theo Nguyễn Văn Trung 1987:27).

 

CON ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI CỦA HAI NHÀ VĂN TIÊN PHONG NAM BỘ

VÕ VĂN NHƠN(*)

Hồ Biểu Chánh, nhà văn có thể xem nhà là Balzac của Nam Bộ, trong hồi kí Đời của tôi về văn nghệ đã cho rằng có ba tác phẩm ảnh hưởng nhiều đến việc chuyển hướng sáng tác của ông. Đó là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Thiên Trung (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu) và Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản(1).

Với các tư liệu đã được công bố, Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản được viết năm 1887 có thể được xem là tác phẩm đầu tiên của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Sinh năm 1865, là học trò và cũng là con rể của Trương Vĩnh Ký, từng đi du học ở Algérie năm 1880 và đã hấp thụ văn hóa phương Tây một cách sâu sắc, Nguyễn Trọng Quản khi viết Truyện thầy Lazarô Phiền đã có ý thức về một lối viết mới: “Xưa dân ta chẳng thiếu chi thơ, văn, phú, truyện nói về những đấng anh hùng hào kiệt, những tay tài cao trí cả rồi đó; mà những đấng ấy thuộc về đời xưa chớ đời nay chẳng còn nữa. Bởi đó tôi mới dám bày đặt một truyện đời nay là sự thường có trước mặt ta luôn, như vậy thì sẽ có nhiều người sẽ lấy lòng vui ra mà đọc”(2).

Truyện thầy Lazarô Phiền chỉ vỏn vẹn có 32 trang in, nhưng mang trong lòng nhiều yếu tố rất hiện đại. Trước hết, đó là một câu chuyện trong một câu chuyện. Thầy Lazarô Phiền đã thú nhận tội lỗi của mình cho một người bạn đồng hành của mình và tới phiên người đó lại trở thành người tường thuật. Tâm lí của nhân vật chính là đối tượng được miêu tả chớ không phải là sự kiện, hành động. Nhân vật người kể chuyện ở đây được thể hiện ở ngôi thứ nhất. Câu chuyện không được kể theo dòng thời gian một chiều truyền thống. Kết thúc rất bi thảm của câu chuyện cũng rất khác với bố cục hội ngộ – lưu lạc – đoàn viên của văn học truyền thống.

Đặc biệt là rất trung thành với quan niệm “lấy tiếng nói thường mọi người hằng nói ra” nên Thầy Lazarô Phiền không hề có một câu văn biền ngẫu. Đây là một quan niệm ông đã tiếp thu từ Trương Vĩnh Ký, người thầy của mình với quan niệm “chọn cách nói tiếng An – nam ròng”(3). Điều này rất có ý nghĩa trong thời điểm đó khi mà chúng ta biết rằng trong Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách viết sau đó 38 năm, trong Nho Phong của Nguyễn Tường Tam sau đó gần 40 năm, vẫn còn đầy rẫy các câu văn biền ngẫu. Lại càng có ý nghĩa hơn khi ta biết rằng ở Trung Quốc mãi đến cuối năm 1916 mới bắt đầu có phong trào bỏ văn biền ngẫu, sử dụng bạch thoại như là một phương cách để hiện đại hóa văn học(4).

Nhưng tác phẩm mới mẻ này đã không được quần chúng đón nhận. Nguyễn Văn Trung cho rằng chỉ cái nhan đề của truyện không thôi cũng đủ làm cho độc giả tưởng rằng đây là một truyện đạo và không thèm đếm xỉa đến. Đó là một lí do, cái chính là tác phẩm đã không đáp ứng được thị hiếu của độc giả lúc bấy giờ vốn chưa được chuẩn bị để tiếp nhận một tác phẩm mới lạ đối với họ đến như thế. Độc giả của Nam Bộ, vốn là những người bình dân, xưa nay chỉ quen thưởng thức truyện hoặc bằng thơ lục bát, hoặc bằng văn có đối có vần lúc đó khó có có thể chấp nhận “cái tiếng nói thường” ấy của Nguyễn Trọng Quản, nhất là đôi khi nó còn mang dáng dấp của những câu văn dịch từ Pháp ngữ. Tâm lí của nhân vật cũng không phù hợp với công chúng bình dân Nam Bộ, chủ đề “phạm tội và sám hối” của Kitô giáo lại càng xa lạ đối với họ. Rồi cái kết thúc của câu chuyện, người Nam Bộ lâu nay quen với quan niệm “ở hiền gặp lành”, quen với kết thúc có hậu của truyện thơ truyền thống, nên khó có thể chấp nhận cái chết của người vợ hiền lành, chung thủy của thầy Phiền, trong khi đó kẻ gây tội ác là tên quan ba lại không bị trừng phạt gì cả.

Sự thất bại của Nguyễn Trọng Quản vì đi trước thời đại làm ta nhớ đến trường hợp cách tân thơ không thành công của Nguyễn Đình Thi trong kháng chiến chống Pháp.

Sau Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản, bức tranh của tiểu thuyết Nam Bộ cho tới những năm 30 do đó vẫn là một cảnh tượng ngổn ngang của thời kì quá độ. Nhiều tác giả đã cố gắng học hỏi thi pháp của tiểu thuyết phương Tây nhưng trong tác phẩm của họ vẫn còn mang nhiều dấu vết của thi pháp tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Hoàng Tố Anh hàm oan của Trần Chánh Chiếu là một ví dụ, vẫn được theo kết cấu chương hồi, kết thúc có hậu. Tác phẩm gây xôn xao dư luận Hà Hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu và các tiểu thuyết của Phạm Minh Kiên vẫn được viết bằng một lối văn xuôi có đối có vần.

Không được công chúng đón nhận, nhưng sau này Truyện thầy Lazarô Phiền đã có ảnh hưởng không nhỏ đến giới sáng tác. Trường hợp Hồ Biểu Chánh như đã nói ở trên là một minh chứng. Có người còn cho cốt truyện của Truyện thầy Lazarô Phiền cũng đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết Oan kia theo mãi tức Ba mươi hai đêm Hồ Cảnh Tiên tự thuật của Lê Hoằng Mưu, một nhà văn “khét tiếng” thời đó(5). Đi xa hơn, Nguyễn Văn Trung còn ngờ rằng Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản có thể đã gợi hứng cho nhà văn Áo Stefan Sweig khi sáng tác tác phẩm Amok hay người điên Mã Lai(6).

So với Nguyễn Trọng Quản, con đường của Hồ Biểu Chánh đến với tiểu thuyết hiện đại có chậm chạp nhưng phù hợp và chắc chắn hơn. Là một trí thức tân học, nhưng vì “nhận thấy muốn viết Việt văn thì cần phải biết chữ Hán, bởi lẽ biết chữ Hán mới có đủ chữ mà dùng và dùng cho khỏi sai nghĩa. Vì thế, ông đã dành gần ba năm để học các sách Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử(7). Chính cái vốn Hán học đã giúp ông sau này tham gia vào phong trào dịch tiểu thuyết Trung Hoa và làm quen với nghệ thuật tiểu thuyết.

Qua thực tiễn sáng tác của mình, Hồ Biểu Chánh thực sự đã trả lời được câu hỏi viết cho ai. Biết rõ thị hiếu của người đọc Nam Bộ lúc đó vẫn còn ưa chuộng truyện thơ viết bằng thể lục bát, vẫn còn thích đọc những gì gần gũi với mình nên ông đã bắt đầu sự nghiệp văn học của mình bằng truyện thơ U tình lục, một quyển tiểu thuyết viết bằng văn vần chịu nhiều ảnh hưởng của Truyện Kiều và cũng rất gần với Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu trong mọi phương diện như đề tài, ngôn ngữ nghệ thuật, bố cục, khuynh hướng tư tưởng…

Tuy vậy U tình lục cũng đã có những điểm mới so với truyện thơ cổ điển. Trước hết là nó đã được viết bằng chữ quốc ngữ. Nhân vật của truyện cũng là nhân vật Việt Nam, của Gia Định chứ không phải là vay mượn từ tích truyện của Trung Quốc. Ông miêu tả sự bóc lột tàn ác của bọn chủ người Hoa lai Ấn và lòng tham lam, sự thối nát của bọn địa chủ, của các công chức địa phương. Tình yêu của hai nhân vật chính rất mới mẻ và có những hành động táo bạo vượt ra ngoài lễ giáo phong kiến. Tác phẩm này đánh dấu giai đoạn quá tuyệt của truyện Nôm cổ điển sang tiểu thuyết hiện đại.

Nhưng rồi tiểu thuyết Pháp và các tác phẩm văn xuôi quốc ngữ đầu tiên đã có sự cuốn hút với ông, đặc biệt là “Hoàng Tố Anh hàm oan”, “một tiểu thuyết phong tục với cốt truyện li kì và lời văn bình dị, tác giả theo thuyết nhân quả mà cho người phải chung cuộc được hiển vinh, kẻ quấy cuối cùng chịu quả báo, khiến Hồ Biểu Chánh quyết định viết tiểu thuyết theo đường lối ấy để cảm hóa quần chúng mà đưa họ trở lại con đường nghĩa nhân chính trực”.

Thử nghiệm đầu tiên theo hướng này của Hồ Biểu Chánh là tác phẩm Ai làm được viết năm 1912. Cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tay này của Hồ Biểu Chánh vẫn mang dáng dấp của một truyện tài tử giai nhân truyền thống với một kết thúc có hậu khi hai nhân vật chính Chí Đại và Bạch Tuyết, sau khi vượt bao gian truân, cuối cùng đã đoàn tụ và sắc cầm hòa hiệp.

Nhưng so với truyện thơ truyền thống, Ai làm được cũng đã có khá nhiều điều mới mẻ. Ngay nhan đề, dưới hình thức một câu hỏi đã là một điểm mới. Ngôn ngữ của Ai làm được thật sự của người Nam Bộ, cụ thể là người Cà Mau. Ngôn ngữ của các nhân vật là ngôn ngữ của cuộc đời thường, không điển tích văn hoa, không chen văn vần vào. Mối tình của hai nhân vật chính cũng rất đời chứ không quá ràng buộc vào lễ giáo phong kiến. Là một truyện nửa ái tình, nửa phiêu lưu mạo hiểm, Ai làm được còn là một bức tranh hiện thực về cuộc sống của người dân Nam Bộ vào đầu thế kỉ.

Cùng với U tình lục, Ai làm được đã dọn đường cho độc giả Nam Bộ đón nhận một thể văn học mới, đó là tiểu thuyết hiện đại. Đây có lẽ là một tác phẩm có ý nghĩa đối với đời viết văn của Hồ Biểu Chánh nên 10 năm sau, mặc dù đã có khá nhiều tiểu thuyết khác ra mắt bạn đọc, nhưng ông vẫn sửa chữa, nhuận sắc lại tác phẩm này để làm cho nó gần hơn với tiểu thuyết hiện đại. Từ một cuốn truyện với 27 hồi, ông đã rút lại thành sáu chương. Thay vào những câu tóm tắt chuyện ở đầu chương là một con số giản dị. Ông cũng từ bỏ lối kể chuyện một cách hiện đại hơn và thêm nhiều đoạn tả cảnh và nhiều đối thoại để làm cho câu chuyện thêm sinh động.

Sau Ai làm được là thời kì mô phỏng các tiểu thuyết của Pháp để sáng tác của Hồ Biểu Chánh. Trong hồi kí Đời của tôi về văn nghệ, Hồ Biểu Chánh có liệt kê 12 tác phẩm được “viết ra bởi cảm tác phẩm nào của Pháp”, như Chúa Tàu Kim Quy là bởi cảm Le Comte de Monte Cristo của A.Dumas, Cay đắng mùi đời là từ Sans Famille của Hector Malot,…

Nhưng nếu xem xét kĩ các tác phẩm này, ta thấy Hồ Biểu Chánh không chỉ mô phỏng. Cay đắng mùi đời theo theo sát từng nhân vật, từng tình tiết truyện Sans Famille của Hector Malot. Song đến Ngọn cỏ gió đùa, ta chỉ còn thấy phảng phất bóng dáng truyện Les Misérables của Victor Hugo mà thôi. Và ngay cả trong Cay đắng mùi đời, ta vẫn chỉ cảm thấy một không khí Nam Bộ, những tính cách rất Nam Bộ của các nhân vật.

Nhưng Hồ Biểu Chánh không chỉ có các tác phẩm được viết ra do mô phỏng các tác phẩm của Pháp. Ngoài 12 cuốn được nói trên, Hồ Biểu Chánh còn viết trên 50 quyển tiểu thuyết khác, một số lượng tác phẩm đồ sộ so với cuộc đời sáng tác của một nhà văn. Các tiểu thuyết cuả ông thật sự như một bộ tự điển bách khoa về đời sống xã hội của Nam Bộ trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến.

Khác với Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh là một nhà văn hiện đại nhưng lại không xa lạ với văn học truyền thống. Tiểu thuyết của ông cơ bản là dựa vào kĩ thuật của tiểu thuyết Phương Tây, nhưng vẫn còn mang ít nhiều tính chất cổ điển và vẫn tiếp nối truyền thống chuyên chở đạo lí, quảng bá đạo đức của văn chương truyền thống. Và điều quan trọng là nó gần gũi với truyền thống, tâm lí của nhân dân Nam Bộ nên đã nhanh chóng đi vào và sống lâu dài trong lòng người đọc Nam Bộ.

Nguyễn Trọng Quản và Hồ Biểu Chánh, hai nhà văn tiêu biểu cho hai con đường đến với tiểu thuyết hiện đại. Một người đã bước quá sớm ra con đường hiện đại rộng lớn nên tất yếu phải cô độc; một người dựa vào truyền thống để từng bước đến với hiện đại nên đã được đồng cảm, chia sẻ. Nhưng đóng góp của hai ông cho sự phát triển của văn học Việt Nam, dù từ con đường nào, cũng rất đáng cho chúng ta trân trọng.

——————————

(*) Giảng viên – Khoa Ngữ văn và Báo chí, Trường Đại học KHXH & NV, thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM

Ghi chú:

(1) (7) (8) (9) Nguyễn Khuê: Chân dung Hồ Biểu Chánh. NXB TP.Hồ Chí Minh, 1998 tr.23, 25-26, 143.

(2) (6) Nguyễn Văn Trung: Những áng văn chương quốc ngữ đầu tiên. Tài liệu tham khảo sau đại học và năm cuối bậc đại học. Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh Tr. 22-23, 38.

(3) Bằng Giang: Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930. NXB trẻ TP.Hồ Chí Minh 1992 tr.334

(4) Nguyễn Hiến Lê: Văn học Trung Quốc hiện đại. NXB Văn học, Hà Nội 1993, tr.95.

(5) Bùi Đức Tịnh: Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới. NXB TP.Hồ Chí Minh; tr.207

——————————

Nguồn: Tạp chí „Văn Học“ số 3, trang 39, 2000.

Advertisements

One thought on “Truyện “Thầy Lazaro Phiền” – Dấu mốc khởi đầu của văn xuôi tự sự hư cấu tiếng Việt thời hiện đại

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s