Gùi phúc âm lên đồi bác ái

NĐT – 14/11/2016 – 22:17 PM

Nơi đây giờ cách thị trấn huyện lỵ Di Linh chừng ba cây số theo đường chim bay, xưa kia xung quanh là rừng nguyên sinh và cả thung lũng rộng lớn này là vùng đầm lầy hoang. Hôm nay quay về làng bác ái siêu hạng này là để tìm sự an lành quảng đại ở đây, sau những lang bạt trần tục ngoài kia.

Soeur Mậu vỗ về một nữ bệnh nhân. Ảnh Phạm Bình

 

Hai tấm lòng vàng trên ngọn đồi xanh

Cao nguyên Di Linh giờ bạt ngàn cà phê, nhưng nên nhớ xưa giữa hoang sơ đó vẫn cứ là vùng đất dung nạp sớm nhất nước những con người mắc bệnh cùi – nay gọi là phong. Qua nhiều thành phố, về nhìn lại làng cùi, càng nhận ra sự thú vị bất ngờ là ngay từ ban đầu và trong khó khăn nó vẫn cứ nề nếp hơn bất cứ con phố chốn thị thành nào được thiết kế và quản trị tử tế nhất.

Thì đây này, nhà cửa, cây cối rất thanh bình, đầy hoa; sự tinh tế và sạch sẽ uốn lượn quanh những con đường, lối đi. Dân làng có đủ mọi lứa tuổi, nhiều gia đình có lẽ đã trải qua đến ba bốn thế hệ chung sống tại đây. Người đi lại thong dong, an nhiên, cầm rau, cầm gạo, vác cuốc, gùi. Trên những khoảng sân có những ông lão, bà cụ đang ngồi, và đây đó dăm ba người phụ nữ đang cho lũ trẻ ăn cạnh cầu thang dưới những mái nhà nhỏ nhắn được xây cất mang phong cách kiến trúc pha trộn giữa biệt thự kiểu Pháp với nhà sàn Tây nguyên. Thật khó hình dung cái buổi ban đầu khi tất cả là rừng, nó vẫn là “chỏm” phố giữa rừng.

Một góc không gian trại phong Di Linh. Ảnh Nguyễn Thành Trung

Kìa nữa, trong những căn nhà trên đỉnh đồi, người bệnh vẫn đang được chẩn trị. Lại có một khu khác cho người đã giảm bệnh tịnh dưỡng. Còn ven các sườn đồi, quanh các mái nhà là những mảnh vườn cà phê nho nhỏ đang vào mùa trái già, với khá nhiều dân của làng đang canh tác, để kiếm sống và rèn dưỡng sức khỏe. Cũng không khó nhận ra khu khám chữa bệnh, khu phục hồi thể hình cho bệnh nhân, rồi trường mẫu giáo, nhà ăn.

Dĩ nhiên có một giáo đường nhỏ cho cư dân của làng sinh hoạt tâm linh. Và, cả một nghĩa trang riêng của làng. Nghĩa rằng, đây là một không gian sống và chết tách biệt, lẻ loi với cộng đồng chung. Không cùi, hay cùi, thì cũng từng trải qua một cuộc làm người, nên nấm mộ nào cũng như nhau. Nên dân chúng bên ngoài xưa nay khi nhắc đến nó vẫn cứ gọi là “Trại cùi”, dù nay cơ quan hữu trách đã đặt lại tên và treo bảng là “Trung tâm Điều trị phong Di Linh” nơi chân đồi.

Tôi tranh thủ gặp cả những người khỏe mạnh, đã hết bệnh vẫn chung sống với người đang bệnh. Lại có những người không hề mắc bệnh vẫn lập gia đình với người từng bị bệnh, và con cái họ sinh ra hoàn toàn khỏe mạnh. Người làng cũng giới thiệu cho tôi những mối tình đi đến hôn nhân nghiêm túc giữa những cô gái Kinh với các chàng trai người thiểu số ngay tại đồi cùi này. Và những chàng trai K’ho sống bên ngoài làng phong yêu, cưới các cô gái K’ho trong làng cùi.

***

Vị thừa sai Gioan Cassaigne, người Pháp, là người khai phá cánh đồng truyền giáo xứ Nam Tây Nguyên, trải dài từ Cầu Đất, qua Bắc Hội, Finom, đến Di Linh, Kala, Bảo Lộc, Madaguoi, Định Quán. Và trên hành trình kia ở xứ mọi – ngày xưa người ta gọi thế – khi nhìn thấy các sắc dân thiểu số mông muội đối mặt với bệnh cùi tràn lan, ông đã lập ra trại cùi này, từ năm 1927, để cứu người. Từ chỗ mỗi mình ông, phải nhiều chục năm sau mới có thêm người chịu bám trụ lại chốn rừng thiêng nước lạ để dâng hiến cho người cùi. Và chính soeur Mậu, đến từ Sài Gòn, đủ nội lực yêu thương như người đàn ông phương xa kia.

Bóng mát ma soeur

Ấy rồi năm 1973, linh mục Gioan Cassnaigne mất, vì bệnh cùi lây từ người cùi ở làng này. Soeur trẻ Mai Thị Mậu phải đứng ra gánh toàn bộ Trại cùi, dù mới sau năm năm cô đến với làng, và đang tuổi ba mươi hai. Thiết kế cuộc sống cho một làng người bình thường đã khó, đây lại là làng người bệnh, mà bệnh cùi, thứ bệnh nhơ nhấy hủy hoại từ cơ thể đến tinh thần. Lúc này đất nước lại đang chiến tranh.

Soeur Mậu vỗ về một nữ bệnh nhân. Ảnh Phạm Bình

Soeur Mậu bơ vơ giữa thiên nhiên hoang dại, và giữa thế giới người cùi. Không bỏ họ, cô cố chữa trị, coi sóc và kiến thiết cuộc sống cho người cùi. Cái nghèo và sự lạc hậu dễ sinh ra bệnh cùi, và lây lan. Sứ mệnh buộc soeur Mậu tiếp tục hành trình dở dang của đức cha Cassaigne. Ngay từ năm 1968, vừa ra trường Y, đặt chân lên đây, khi chứng kiến sự lở loét rên siết của vài người bị hủi đầu tiên, cô đã trỗi dậy tình thương và cài đặt vào lòng mình: “Nếu không được cứu kịp thời, chắc chắn những con người bất hạnh này sẽ chết trong quằn quại đớn đau oan uổng giữa rừng”. Thì đây là lúc người nữ tu trẻ phải đi khắp nơi, buôn xa buôn gần. Kể cả các buôn ở trên cao nguyên Lang Bian cách Di Linh tám chục cây số. Mậu kiếm cho mình một chiếc gùi như bao phụ nữ bản địa sơn nguyên khác. Cứ vậy, trên vai cô Mậu là những chiếc gùi đựng gạo muối, rau xanh, thuốc men… Ai mắc bệnh nhẹ cô chữa trị ngay tại buôn làng.

Nhiều buôn làng khi ấy vẫn còn sống trong tình trạng bộ tộc, hoặc bán khai, người dân lại sợ người lạ. Nặng nề hơn, hễ ai mắc bệnh cùi là bị đuổi khỏi làng, vì lũ làng cho rằng đã có liên lụy với con ma, đã thành ma rồi. Mọi thứ bệnh đều đổ cho ma, gọi đích tên là “Ó ma lai”, huống chi thứ bệnh tàn phá cơ thể quái khiếp này. Nên nhiều người bệnh thấy Mậu là bỏ chạy. Tuy nhiên, gặp ai hủi làm cho tàn tạ, cô đều đưa về ngôi làng cô lẻ trên ngọn đồi ở Di Linh này, bất kể Phật tử hay Kitô hữu, người lương hay lục lâm thảo khấu, nhân phạm.

Có lúc cô đi một mình, có lúc đi cùng những người phiên dịch tiếng K’ho. Rồi thì Mậu cũng thành người K’ho, Mạ, Chu ru, và nói thuần thạo các thứ tiếng ấy. Muốn cứu người cùi sắp chết, cô tìm vào những khu rừng sâu thẳm hơn. Lúc đi bộ, lúc đi xe đạp, rồi một ngày kiếm được chiếc Honda, việc đi tìm người cùi đỡ vất vả hơn. Nhưng xuyên qua các huyện xa, đã có đường giao thông, thì cô chọn cách nhảy xe đò. Người làng cùi kể, có lần trên đường đi Sài Gòn, xe nghỉ ăn trưa ở Định Quán, bất chợt cô nhận ra dấu hiệu bệnh phong trên thân thể nhóm người lam lũ ở quanh đó. Thế là ngay sau khi trở lại Di Linh, cô dành hẳn một chuyến tìm về vùng Định Quán, khảo sát tình trạng bệnh phong, ai bị cộng đồng hất hủi thì đưa lên Di Linh chữa trị.

***

Thời gian làm cô gái, người nữ tu ấy thành bà. Bà Mậu chỉ biết tập trung cho người cùi, không nói về mình, và nhất là không để ý đến truyền thông. Cứ thế cho đến nhiều năm sau, khi không còn đủ sức để băng rừng, thêm công việc cần phải giải quyết hằng ngày tại làng phong quá nhiều bà mới thôi đi; tập trung điều hành mọi hoạt động chữa trị bệnh, tổ chức cuộc sống cho dân làng. Trong số những con bệnh, có người khi lành đã xin ở lại luôn nơi đây, bởi với họ bây giờ ngọn đồi cô quạnh này thật ấm áp ân tình, mà trước hết nó tỏa ra nơi bà.

Soeur Mậu (đội nón lá) chăm lo bữa ăn cho những người bệnh yêu thương của bà. Ảnh Phạm Bình

Người nữ tu Mậu không hề ngại va chạm những lở loét trên cơ thể người cùi. Tôi hay nhìn bà ngồi vui chơi trên giường của họ, ăn uống chung với họ, như lúc dao, kéo, băng, thuốc trên tay bà chữa trị họ. Tất cả là một gia đình. Bà chăm lo bữa ăn cho họ hàng ngày. Trái gió trở trời, đau nhức cơ thể họ cũng gọi bà. Con cái người cùi đi học thì mọi thứ giấy tờ, thủ tục cần cho chúng đều từ tay bà. Yêu đương trục trặc cũng gọi bà. Cô nào trở dạ sinh con cũng gọi bà đỡ đẻ. Bà không nhà, không gia đình riêng, nhưng ngay từ thập niên bảy mươi của thế kỷ trước, bà đã nghĩ đến quỹ đất cho dân cùi khi hết bệnh có chỗ ra riêng với vợ, chồng, con mình.

Đó là khu đất rộng 53 hécta ở xã Gia Hiệp, cách ngọn đồi này mười chín cây số. Bà đã mua rẻ được nó khi chữa lành bệnh cho một điền chủ người Đức quốc tịch Pháp. Khi ông ta muốn trả ơn thì bà chỉ yêu cầu, cho mua rẻ lại ít đất để lo cho tương lai bệnh nhân phong. Hiện bà đã chia hết đất kia cho những người lành bệnh cùng con cháu họ. Hằng ngày khi ngang đường 20 ở vị trí trên, người ta dễ thấy một ngôi làng mới hình thành với những căn nhà nho nhỏ sơn màu tím đỏ ẩn trong màu xanh của vườn cà phê. Một làng cùi mới hình thành, hay đúng hơn là “Làng ký ức cùi”.

Ở đó, nhà nào cũng có nhiều mẫu cà phê và cuộc sống thong thả, tiện nghi, người trẻ được học hành, có cơ hội tiến thân. Nhưng trọng trách thường nhật của bà vẫn là ở cái làng có đến một 150 nhân khẩu, với 57 gia đình, cùng trên 150 bệnh nhân trẻ già khác chưa thể ra riêng, đang “thường trú” tại ngọn đồi gần hồ Kala này. Dù làng cùi nay đã thuộc sự quản lý của Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội Lâm Đồng – thuộc Sở Y tế tỉnh Lâm Đồng, nhưng thật ra mọi công việc ở đây chủ yếu vẫn do các soeur lo toan dưới sự điều hành của soeur Mậu. Bà vẫn là “kiến trúc sư trưởng” của thế giới người cùi, dù dưới hình thức “hợp đồng lao động”, ở tuổi ngoài bảy mươi. Bà nói, những thân phận đáng thương ở đây không cho phép bà nghỉ hưu. Chừng nào họ cần đến bà, chừng ấy bà phải ở bên họ.

Đi như lúc đến

Có lần tôi hỏi soeur Mậu, suốt đời gắn bó với thế giới quá đặc biệt này, khi nào lòng bà an yên nhất? Bà rằng, đó là khi ông Võ Văn Kiệt làm thủ tướng, ông yêu cầu các cơ sở y tế phải tiếp nhận bệnh nhân phong, và đặc biệt là các trường học phải tiếp nhận học sinh có tiền sử bệnh phong. Vì xưa kia bà từng chứng kiến những cái chết oan uổng của người bệnh phong lúc họ mắc thêm những thứ bệnh khác như ruột thừa, tim mạch, dạ dày, gan tụy… nhưng không được nhập bệnh viện chung của cộng đồng bên ngoài để chữa trị. Bà nhẩn nha, “họ cũng là con người !”.

Trên thế gian, nhiều người lo cho mỗi mình mình còn không nổi. Con người nhỏ bé với tấm thân gầy gò của cô Mậu xưa, bà Mậu nay, cho tôi biết sức mạnh siêu phàm của con người. Mà hơn thế, là năng lượng tình thương không giới hạn, sắc tộc, màu da, giống nòi, ngôn ngữ, tôn giáo.

Một góc không gian khác của Trại. Ảnh Nguyễn Thành Trung

***

Lần này thì những người cùi thân quen bảo tôi seour Mậu đã “đi” rồi. Bà đã đến và đi đúng như thế. Chỉ có tinh thần bà hóa rêu đây đó. Nghe nói bà đi vào đâu đó tận vùng Dam Rông, một huyện nghèo khó sâu xa hơn mới thành lập của tỉnh Lâm Đồng, tiếp tục công việc thương yêu tha nhân với cộng đồng bé mọn sơn cước M’Nông, Cill, và các sắc dân tha hương Mông, Tày, Thái, Nùng mới từ Tây Bắc vào. Bà đã không về an dưỡng tuổi già ở khu an dưỡng nơi ngoại ô Lộc Thanh ở Bảo Lộc như những linh mục, nữ tu trong giáo phận. Đúng như lúc xuân thì Mậu đến cao nguyên Di Linh trong lời tâm nguyện “đến thế nào thì ra đi như thế!”.

Nước Chúa không biết có thật không, nhưng seour Mậu thì có thật.

Nguyễn Hàng Tình

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s