Lở làng – 4 kỳ

  • Lở làng: Câu chuyện của đất
  • Lở làng: Đơn xin ly dị… họ
  • Lở làng: Đột biến tan vỡ hôn nhân
  • Lở làng: Tạm ứng… làng văn hóa

***

Lở làng: Câu chuyện của đất

NN – 25/08/2014, 10:15 (GMT+7)

Chúng ta đang chứng kiến những vụ lở làng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Làng quê nhiều nơi bây giờ như một bầy ong vỡ tổ. Ở trong đó người ta nháo nhào kiếm ăn, nháo nhào sống, nháo nhào họp họ tách họ, nháo nhào yêu đương và… ly dị.

Lở làng: Câu chuyện của đất
Chuyện bên gốc đa làng

Từng đàn tàu sắt đen trũi như những con quái vật khổng lồ ngang nhiên cắm vòi xuống bờ bãi màu mỡ mà hút. Đám chuối xanh nõn, bụi tre xanh thẫm bật rễ, rơi xuống lòng sông kéo theo những tảng đất phù sa đỏ ối. Chứng kiến cảnh ấy, ông đau như chính da thịt mình bị tùng xẻo vậy.

“Xin hỏi chức trách các ông nghĩ gì?”

Cái xóm Mai Đồi (xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ) nhỏ bé của ông Lưu Đức Hồng hồi này đổi thay quá, cái tốt cái xấu đan cài. Nhiều thói xấu cũ tưởng đã chết lại được dịp đội mồ ma dậy tác quái, nhiều thói xấu mới tiêm nhiễm từ bên ngoài tràn vào như thác lũ. Đau đớn quá, ông mới rút gan ruột mình ra gửi gắm vào trong một tập thơ gọi là “Diễn ca sáng và tối” kể chuyện ở làng.

Riêng về chuyện lở làng, ông viết: “Soi Dầu ơi, Soi Dầu/ Có từ dựng nước chứ đâu bây giờ/ Là thần hộ vệ hai bờ/ Khống chế thủy quái vào mùa nước to… Bà Trưng thắng cướp giang sơn/ Mấy nghìn năm trước biết ơn nơi này/ Sáu vạn quân sĩ giấu đây/ Hừng hực khí thế diệt bầy Hán Tô…”.

Cái bãi từ thời thượng cổ gắn với di tích Bà Trưng đánh giặc nhưng nay không thoát khỏi số phận bị giặc hút cát tàn phá. Từng vần thơ cũng đau đớn khôn nguôi: “Tàu ngoạm đất ngày đêm ầm ì/ Hết đất hút cát tàu đi, tàu vào/ Sóng vỗ đập bờ ào ào/ Tránh sao bãi cạn không nhào xuống sông… Xin hỏi chức trách các ông nghĩ gì?”. Hỏi là hỏi như thế thôi chứ ông thừa biết nhà chức trách cứ túi càng nặng thì lại càng nhẹ thương dân.

15-22-48_dsc_7925Làng lở

Tôi đến nhà, người thân bảo ông đang ở viện. Đến bệnh viện thì thấy ông đang nằm bên mớ máy móc, cái dây rợ lòng thòng, cái nhấp nháy liên hồi những vạch, những thông số. Đã từ lâu ông bị chứng tắc mạch máu nuôi não nó hành hạ. Cứ nghĩ ngợi là đầu đau như búa bổ. Cứ nghĩ ngợi là có thể nguy hiểm đến cả tính mạng. Nhưng ông vẫn nói. Nói sang sảng nữa là đằng khác.

Người con gái liên tục nhắc khiến ông gắt: “Kệ bố, cứ để bố nói cho thỏa. Ở quê tôi nhà đã dột từ nóc dột xuống, bức xúc không chịu được. Nhiều người bảo tôi sắp kề miệng lỗ rồi nói ra không sợ chết người ta đào mồ, đào mả lên à? Tôi bảo: Kể cả họ ỉa cả lên mộ của mình mà nói ra được những ấm ức trong lòng cũng cam. Dù mình chỉ là hạt cát trong xã hội nhưng trước tiên phải làm tròn vai trò của hạt cát đã cậu ạ!”.

“Sống bằng cái gì đây”?

Giờ đây còn rất ít người thích chụp ảnh cùng với mấy cái huy hiệu như ông bởi họ ngại nhưng ông bảo kể cả còn một tí sức tàn cũng phải giữ lấy phẩm giá làm người thì tại sao lại ngại khi đeo huy hiệu?

Ông chép miệng than về trật tự xã hội giờ lỏng lẻo quá trong khi văn hóa truyền thống không có sự tập hợp đủ mạnh để cố kết làng. Nhiều lễ hội giờ chỉ còn cái vỏ vô hồn. Đến như đình làng vừa rồi được trùng tu nghe đâu mất tiền tỉ để giữ lấy nếp nhà mà vẫn không dấy lên được một cái gì cho ra trò.

Ông kể chuyện quê mình có mấy vị “quan làng” nghĩa là chức bé nhất trong xã hội nhưng vừa rồi cũng bị dân làng đem ra đàm tiếu tập thể bởi tham ô. Mà nào có nhiều nhặn gì đâu, chỉ mấy tấn xi măng thôi. Các vị này cũng đâu phải là nghèo? Toàn cán bộ về hưu, đảng viên, lương ngót chục triệu mỗi tháng mà vẫn không thể tránh được bệnh chung của cán bộ là tham, là có cơ hội vẫn “ăn” như thường. Bây giờ lộ ra không biết để đâu cho hết nhục.

Tôi ra bãi Soi Dầu, bãi Lâu Thượng chứng kiến những đoạn lở sâu hoắm. Đi trên bãi mà tóc gáy cứ dựng lên vì chỉ sợ đất dưới chân mình bất chợt bở ra. Đội trưởng đội 1, ông Trịnh Đăng Khoa bảo quê mình đất chật người đông, ruộng ít nên mỗi khẩu được phân thêm 72m2 đất bãi cải thiện cuộc sống. Giờ bãi lở hết sinh kế của người dân chẳng biết dựa vào đâu?

Đầu năm 2013 thấy cảnh từng đoàn xe kìn kìn chở đất cát trên bờ đê dân làng kéo ra nhau phản đối. Đêm đó, chẳng biết toán côn đồ ở đâu lén đến ném chai xăng, nã súng đì đoàng vào xóm. Làng được một phen nhốn nháo. Người người, nhà nhà dúm dó vì sợ. Anh Lương Thượng Hưng ở đội 3 kể chuyện mình thầu 2 mẫu đất bãi trồng chuối. Vừa rồi bãi lở, cả chuối lẫn lều trông coi đều làm mồi dưới sông cho hà bá.

15-22-48_dsc_7944Lầm lụi kiếm ăn

Bà Hà Thị Vịnh ở đội 11 thì kể gia đình có một sào đất bãi. Biết được nỗi lo của người dân về nạn sạt lở nên nhân việc có quy hoạch bến bốc xếp hàng hóa bà được người ta động viên nhận tiền đền bù cho nhanh chóng. Cộng tất tật tiền bồi thường đất, bồi thường hoa màu, hỗ trợ sinh nhai được 32,4 triệu đồng. Bà cứ thở vắn, than dài: “Mấy sào ruộng nhà tôi trước đó đã bị lấy làm đường với giá rẻ mạt giờ có sào bãi cũng mất nốt. Ăn hết tiền đền bù thì sống bằng cái gì đây?”.

Giỗ chồng ở… trụ ở ủy ban

Bụi tre làng bây giờ thành của hiếm, tìm đỏ mắt cũng không thấy đâu mà nếu có thấy thì nó cũng nhỏ bé, tội nghiệp, khuất lấp sau những ngôi nhà cao tầng đồ sộ…

Đất đai ở làng giờ thành vấn đề thời sự, không hiếm chuyện đau đớn. Ở Dữu Lâu, Việt Trì trong một dự án người ta lấy trên 2.000m2 đất thổ cư của bà Nguyễn Thị Quách. Bà Quách là vợ liệt sĩ. Khi đứa con còn đỏ hỏn thì chồng chẳng may chết trận, mẹ góa, con côi nương tựa nhau khôn lớn đến giờ. Mảnh đất trong diện giải tỏa nhà bà lại đứng tên của người khác. Khi di dời bà cứ nằng nặc xin một mảnh đất tái định cư cho mấy mẹ con nhưng không được.

Về lý thì Ban giải tỏa có thể không sai nhưng về tình thì quá cạn. Buổi cưỡng chế, người ta đến đem tài sản của mẹ con bà đi. Bát hương, ảnh thờ của chồng bà họ đem đến UBND phường còn bà thì được dời tạm xuống Trạm Y tế. Giỗ chạp chồng, mẹ con bà làm ngay ở UBND. Thớt băm côm cốp. Khói hương vàng mã bảng lảng.

Được hai năm như thế thấy cũng khá bất tiện, chính quyền bèn di dời bát hương, bàn thờ của chồng bà gửi vào chùa làng. Giờ đây đã mấy năm trôi qua mà sự giận dỗi của bà Quách vẫn chưa nguôi. Tôi hỏi bà chuyện có đón bàn thờ chồng cùng bát hương trên chùa về nhà không, bà chỉ lắc đầu, lặng thinh không nói.

Khu Hương Trầm ở phường Dữu Lâu có khoảng 120 hộ dân ảnh hưởng bởi chuyện giải tỏa mặt bằng. Người ta lấy bờ xôi ruộng mật để hình thành nên đường xá, nên những vi – la, biệt thự cao cấp. Nhiều nông dân thắc mắc với tôi về mức đền bù rất thấp. Đáng phải được nhân hệ số 1,2, đáng giá đền bù phải tính ở thời điểm có quyết định thu hồi đất, đáng phải có 10% đất dịch vụ nhưng đơn từ mãi mà vẫn không thấy động tĩnh gì.

15-22-48_dsc_7937Nụ cười làng

Khi công trường đựng dựng lên, cống rãnh bị vùi lấp gần hết nên ruộng đồng tránh sao cảnh khỏi ngập úng. Đồng Trằm Sơn, đồng Cây Trôi chìm dần, chìm dần khiến mấy năm nay nông dân không thể cày cấy. Có thiếu niên trong làng ra đồng chơi chẳng may sa xuống ruộng, mò cả buổi mới thấy xác. Nước ngập đến cổ người lớn bảo sao mà em chẳng chết tức tưởi?

Đất hai bên đường Hòa Phong kéo dài giờ thành vàng. Ven con đường được mệnh danh là đẹp nhất đất Tổ mọc lên những ngôi nhà của giới nhà giàu hay cán bộ to được thiết kế tân kỳ như những biệt phủ đêm đến sáng trưng, rộn rã cười vui. Bên này đường là phía làng tối om bèo tây lầm lụi.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

***

Lở làng: Đơn xin ly dị… họ

NN – 26/08/2014, 08:15 (GMT+7)

Làng nhiều nơi giờ chỉ còn cái vỏ xấu xí mà hồn cốt đã mất từ lâu. Giờ người làng cũng ích kỉ, kèn cựa nhau ghê gớm, không mấy ai còn giữ được tình cảm tối lửa tắt đèn. Làng cũng quán xá, tệ nạn, cũng lô đề, vỡ hụi li bì.

Xin ra khỏi họ 

Ông Chử Văn Xuân chìa cho tôi xem một lá đơn độc đáo nhất trần đời: lá đơn xin “ly dị”… họ.

Đơn viết: “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc… Tuyên bố độc lập tách riêng thành một nhánh họ Chử Văn Thạch Cáp. Tôi Chử Văn Xuân, sinh năm 1927 một thành viên cao tuổi dòng họ Chử Thạch Cáp tuyên bố tách riêng một nhánh họ Chử như sau: Năm 2001, dòng họ Chử chúng tôi lập gia phả của họ. Do bất đồng trong việc lập gia phả, lộn xộn, trái với kỷ cương lễ giáo, đạo lý, gây bè phái mất đoàn kết nội bộ, phản bội tổ tiên, chèn ép gia đình tôi.

Do đó gia đình tôi cự tuyệt không công nhận bản gia phả bất hợp lý này. Cùng lúc đó trưởng họ Chử Văn Hạnh tuyên bố gia đình tôi tạm dừng không sinh hoạt với dòng họ nữa. Từ đó đến nay, hàng năm đến ngày giỗ tổ và tảo mộ, gia đình tôi vẫn tiến hành tổ chức riêng biệt, độc lập thành một nhánh không quan hệ với dòng họ nữa.

Với lý do đó tôi đề nghị trưởng họ Chử Văn Hạnh cắt phần gia phả của gia đình tôi và trả lại nguyên bản không được tẩy xóa. Kể từ nay gia đình tôi tuyên bố độc lập, cắt đứt quan hệ, tách riêng thành một nhánh họ Chử Văn vĩnh viễn không quan hệ với dòng họ do Chử Văn Hạnh trưởng họ”.

11-00-11_dsc_7946Đơn xin ly dị họ của ông Xuân

Cuối đơn ông Xuân còn ghi rõ: “Đồng kính gửi UBND xã Tứ Xã để biết và báo cáo đảm bảo an ninh chính trị xã hội nếu có sự cố xảy ra bất thường. Bản tuyên bố này vĩnh viễn lưu truyền để lại cho các thế hệ mai sau của gia đình tôi. Tứ Xã ngày 21/3/2014. Chử Văn Xuân”.

Chuyện họ hàng ở Tứ Xã (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) cực kỳ phức tạp. Xã có đến trăm chi họ thì phân nửa trong số đó xảy ra lộn xộn, tranh nhau vai trên, vế dưới trong đó có họ kỷ lục với trên ba mươi chi, họ ít cũng dăm bảy chi.

Chi họ nào cũng rốt ráo vận động xây nhà thờ, đắp mả tổ. Thói đời, cái sau thường bao giờ cũng phải to hơn, cao hơn, hoành tráng hơn cái trước. Thỉnh thoảng làng xóm lại chứng kiến một vụ… li dị họ cười ra nước mắt.

Tỷ như Hội đồng gia tộc họ K vận động ông trưởng họ để lại một phần đất làm nhà thờ tổ. Lúc đầu trưởng họ đồng ý nhưng đám con cháu cứ bàn ra, tán vào về giá cả nên sau lại ngãng ra. Hội đồng gia tộc bèn mua một mảnh đất bên ngoài thì vị trưởng họ liền đổi ý. Nhưng tất cả đã quá muộn. Hội đồng vẫn kiên quyết bổ đầu đinh trong họ ra mà đóng góp xây nhà thờ.

Trưởng họ bị một phen bẽ mặt liền về vận động đám người thân của mình xây một nhà thờ họ riêng. Buổi họp bàn chưa xảy ra mà ông trưởng họ trên đường đi vận động đã bị cảm gục chết ngay ở cổng nhà người khác.

Kể từ đó một họ K chia tách thành hai, mâu thuẫn vẫn còn day dứt mãi. Gặp nhau chẳng thèm chào hỏi. Ngày giỗ tổ không buồn thắp hương chung. Chạp họ dọn mộ tiền nhân cũng thiếu cảnh cụng chén đụng bát cười nói.

Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn quê ở Tứ Xã. Ông kể gốc là họ Bùi nhưng đến đời mình ăn thừa tự bên ngoại tức họ của ông Tổng Cóc (người lấy bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương làm lẽ) nổi tiếng nên cải thành họ Nguyễn. Thế nên ở làng mới có chuyện con đẻ nhưng khác họ bố mình là vì thế.

Cái chức trưởng họ, phó họ giờ oai ghê gớm. “Mai anh bố trí đi đón bà nhé, ăn mặc lịch sự vào, đừng để họ nhà gái nó khinh cho!”. “Dạ, dạ, cháu nhớ rồi thưa ông”. Người cháu năm nay đã ngoại tám mươi, tóc phơ phơ bạc, tay chân run rẩy đứng nghe lời huấn thị của “ông trẻ” mới chỉ ngoài bốn mươi phân công chuyện đi rước dâu cho con trai.

Ông trẻ là trưởng họ nên oai lắm. Ngồi mâm trên nhiều người hãi chẳng dám vào cùng nên lắm lúc riêng ông một mâm, một cỗ.

Ba đời không hòa giải

Làng nhiều nơi giờ chỉ còn cái vỏ xấu xí mà hồn cốt đã mất từ lâu. Giờ người làng cũng ích kỉ, kèn cựa nhau ghê gớm, không mấy ai còn giữ được tình cảm tối lửa tắt đèn. Làng cũng quán xá, tệ nạn, cũng lô đề, vỡ hụi li bì.

Những ngôi làng cổ trên đất Tổ với văn hóa độc đáo như hát xoan Kim Đức, hát ghẹo Tam Cường, nói phét Văn Lang… không hiểu sao đều nghèo cả. Có lẽ vì nghèo mà họ thể hiện ước muốn cuộc sống tốt đẹp hơn qua lời ca, tiếng hát, qua chuyện kể hoặc vì họ thanh sạch, nề nếp quá mà nghèo chăng?

Tứ Xã điển hình cho những làng quê thời kinh tế thị trường, nơi văn hóa truyền thống thì phai nhạt mà văn hóa mới chưa kịp thấm sâu. Trong một ngõ nhỏ ở Tứ Xã người ta chỉ cho tôi hai ngôi nhà liền nhau của hai anh em ruột Bùi và Ngọt (đã đổi tên).

Ông Nguyễn Hữu Cửu (xã Tứ Xã) kể chuyện hài cốt nghiêng: Chủ tịch xã thay mả bố. Mở nắp quan tài ra thì hài cốt của cụ nằm nghiêng, mặt úp vào ván thành. Cho là có sự động địa linh thiêng gì, vàng mã hương nhang được đốt lên đùng đùng, mọi người có mặt sụp lạy, cúng bái lia lịa. Một ông chạy lại nhìn rồi bảo: “Không có sự gì đâu. Các ông bà có nhớ hôm mai táng cụ, xe tang của ta suýt bị đổ không? Góp bao nhiêu tiền họ làm gì không biết mà có con đường ra nghĩa địa cứ để ngập ghềnh, mấp mô mãi. Thế này sẽ có vụ đổ xe tang. Còn khối hài cốt bị nghiêng”.

Bố mẹ họ mất đi để lại cho hai mảnh đất. Đất người em ở đằng sau, đất người anh ở đằng trước, muốn ra ngõ người em phải đi qua đất nhà anh. Một buổi chẳng biết cơn cớ gì người anh cho gọi thợ xây bịt lối không cho em đi qua ngõ nữa.

Ngọt sang nói với Bùi phải trái mãi không xong tức mình kiện ra tòa. Tòa xử người anh phải đập bỏ bức tường bao chắn ngõ mở lối cho người em đi. Bức tường đập xuống, tình cảm anh em cũng bị đập bỏ theo.

Dân gian vẫn thường bảo: “Nhất thế tụng, bách thế thù” nghĩa là một đời kiện, trăm đời thù. Hai anh em nọ thề với nhau ba đời không thèm hòa giải. Lúc hấp hối vì bạo bệnh người em chẳng buồn sang nhìn mặt anh lần cuối.

Người anh thấy vậy dặn thân nhân cố tình để trống kèn ầm ĩ ba ngày ba đêm không cho nhà người em yên giấc. Người nhà em cũng chẳng phải loại vừa vun lá, chất rơm đốt một đống rấm to đùng. Khói bốc lên mù mịt không phải để xua muỗi, xua mòng mà xua bớt khách khứa đến dự đám ma của anh mình.

Đòn thù thâm độc giữa thủ túc với nhau ngay cả khi một người đã chết.

Làng lại có chuyện bà N.T.Thờ (đã đổi tên) dứt ruột sinh được mười hai người con nhưng số phận hẩm hiu chỉ dưỡng được có hai người, một trai và một gái. Chồng chẳng may mất sớm để mình bà Thờ cun cút nuôi con.

Lớn lên, con gái lấy chồng, yên bề gia thất ở xã khác còn bà ở với người con trai trên mảnh đất của tổ tiên. Vì một mâu thuẫn nào đó người con trai giận mẹ, dựng một ngôi nhà gần đó ở riêng. Tuy ở riêng nhưng anh này thù ghét mẹ đẻ mình đến mức toàn buộc trâu bò ngay cột nhà của bà để chúng ỉa đái, mùi xú uế xộc thẳng vào buồng cho bõ tức.

Ông chú ruột thấy cảnh chướng tai gai mắt ra khuyên: “Cháu à, làm con không được đối xử như thế! Mẹ có dở cũng là mẹ của mình…”.

Anh con trai không nói năng gì nhưng kể từ đó đâm ra thù lây cả ông chú. Anh ra chợ mua một con chó nhỏ về lấy ngay tên ông chú ruột mà đặt tên cho nó để ngày ngày mắng chửi cho bõ tức. Mắng chửi một cách công khai mà ông chú đắng họng không thể nói năng được gì.  

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

***

Lở làng: Đột biến tan vỡ hôn nhân

NN – 27/08/2014, 08:15 (GMT+7)

Gia đình trước khi là tế bào của xã hội phải là tế bào của làng xã. Giờ tế bào ấy đang có những biến dị bất thường thể hiện rõ nhất qua tỷ lệ ly hôn tăng đột biến.

Lở làng: Đột biến tan vỡ hôn nhânMột bữa cơm ở gia đình nông dân

Phái nữ ngày một chủ động

Kinh Môn là huyện “vùng sâu vùng xa” của Hải Dương nhưng cũng là huyện công nghiệp hóa mạnh nhất. Văn hóa, lối sống thành thị xâm thực vào như vũ bão.

Gắn bó hơn hai mươi năm với nghề, Chánh án TAND huyện Kinh Môn Nguyễn Thị Thụy kể rằng, cách đây mươi năm số vụ ly hôn của huyện chỉ khoảng 160-170 vụ/năm nhưng năm 2012 là 283 vụ, năm 2013 là 287 vụ, năm nay ước xấp xỉ 300 vụ.

Có những tháng đến trên 30 đôi lũ lượt kéo nhau đến đâm đơn. Tòa có 7 thẩm phán mà nhiều khi còn quá tải, phải trưng dụng cả phòng làm việc của thẩm phán để hòa giải ly hôn.

Giờ ở nông thôn tỷ lệ ly hôn mà người nữ chủ động chiếm khá nhiều, khoảng trên 40%. Điều đó chứng tỏ vấn đề gì? Chứng tỏ nữ quyền tăng cao, họ không còn cam chịu những ông chồng cờ bạc, rượu chè, bạo lực, gái trai nữa.

Nhưng trong nhiều trường hợp nó cũng chứng tỏ con người ngày nay ích kỷ, không còn nghĩ nhiều cho người khác, công dung, ngôn hạnh đã nhạt nhòa.

Thanh niên nông thôn ngày nay cũng lắm mối tình kiểu qua đường rồi cưới vội. Chỉ nội trong năm nay, TAND huyện Kinh Môn phải xử lý mươi vụ cưới nhau chỉ khoảng trên dưới một tuần là kéo nhau ra tòa.

Trong các vụ ấy, chị Thụy nhớ như in một trường hợp đặc biệt ở chỗ dù đăng ký kết hôn rồi mà chưa cưới, chưa động phòng đã ly hôn. Đối tượng chủ động là một cô giáo.

Thấy Đào (đã đổi tên) đến, chị Thụy thương lắm bởi dù chưa cưới nhưng đăng ký rồi ly hôn là đã mang tiếng một đời chồng. Chị hỏi: Thế em có thời gian tìm hiểu không? Cô gái bảo: Chúng em quen qua bạn bè giới thiệu gần một năm mới quyết định cưới.

Chị hỏi tiếp: Tại sao em quyết định cưới anh ấy? Cô gái bảo: Anh ấy to cao khỏe mạnh, làm công nhân ổn định, còn em sức khỏe hạn chế nên mong một chỗ dựa. Chị tiếp: Thế tại sao lại bỏ? Cô gái bảo: Lúc yêu nhau, thấy anh ấy đi hơi cà nhắc cứ tưởng là có tí tật mà thôi, đến khi ăn hỏi, người nhà em phát hiện ra anh ấy có một cái chân giả, cụt tới đùi do tai nạn lao động nên mới phản đối.

Nghe đến đây, chị Thụy càng ngạc nhiên: Quen nhau một năm mà em không phát hiện ra anh ấy chân giả? Cô gái bảo: Em cũng khá lớn tuổi rồi, nghề nghiệp lại là giáo viên nên muốn dành tất cả sự trong trắng cho đêm tân hôn chị ạ!

Cùng cảnh phụ nữ cả, chị Thụy khuyên cô: Hãy suy nghĩ lại, các em đã ăn ở với nhau đâu mà nảy sinh mâu thuẫn đến mức phải ly hôn? Nếu chỉ do gia đình phản đối mà bỏ thì không nên. Xây một cái nhà mới khó chứ phá dễ lắm!

Nhưng dù chị nói kiểu gì, dù anh chồng hết lòng thương yêu, cô giáo nọ vẫn cương quyết ly dị. Tình người bây giờ không khác gì nước nhanh đến nhanh đi là thế!

82 tuổi vẫn ly dị

Một vụ ly dị cũng độc đáo không kém là cụ ông N.V. Nam (đã đổi tên) 82 tuổi lôi cụ bà 80 tuổi ra tòa. Cả hai là nông dân đặc, con, cháu đề huề cả rồi nên bỗng thành sự lạ.

Lạ hơn nữa trong lúc nhận hồ sơ, ngày nào ông lão hom hem cũng đạp xe từ nhà mình ra tòa, rỉ tai vào cậu thẩm phán trẻ mà rằng: “Cháu cứ giải quyết nhanh cho ông đi, ông sẽ chỉ chỗ cho cháu đi chơi chỉ mất có 50.000 đông thôi”.

Một thẩm phán nữ được cử để tiếp xúc riêng với cụ bà. Sau nhiều gặng hỏi thì bà nức nở rằng: “Khổ lắm cháu ơi! Tối nào ông ấy cũng thuê băng “con heo” về mở, gọi dậy cùng xem rồi bắt tôi làm như con heo. Không đúng ý là ông ấy đánh…”.

Rốt cuộc ông lão ở vào cái tuổi gần đất xa trời cũng thỏa được ước mong bỏ vợ.

Rượu và Chí Phèo

Nếu Kinh Môn giữ kỷ lục về ly hôn so với các huyện khác trong tỉnh thì An Phụ là một xã đóng góp nhiều nhất nhì, mỗi năm trên dưới hai mươi vụ.

Lý do ly hôn muôn hình vạn trạng. Có thể do làm ăn tất bật người phụ nữ không thể chu toàn việc nhà, có thể do chuyện gái trai ngoài luồng nhưng chiếm tỉ lệ khá lớn là do rượu chè, bạo lực.

Chị N. T. Hồng (đã đổi họ tên) ở xóm 9 thôn Huề Trì đã bước vào tuổi 50 rồi mà vẫn viết đơn ra tòa. Chị Nguyễn Thị Lan, cán bộ tư pháp xã, chỉ hỏi vài ba câu mà nước mắt chị đã lăn dài trên gò má.

Chị bảo: Khổ lắm! Bao năm rồi chồng cứ rượu vào là đánh, đánh bằng gậy, đánh bằng tay, có lần còn lột truồng cô đuổi ra khỏi cổng. Những lúc ấy cô không có ý kiến gì vì sợ chuyện ly dị sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của con cái khiến chúng mất đi chỗ dựa. Nay con cái đã có vợ có chồng, có chỗ dựa riêng nên cô cũng muốn giải phóng cho mình.

Giờ thỉnh thoảng nghe đài lại có một thông báo anh A, chị B đã đi khỏi nơi cư trú từ bốn năm nay chồng, vợ ở nhà báo về giải quyết ly hôn. Sau thông báo này 4 tháng, nếu anh, chị không về tòa sẽ giải quyết theo pháp luật. Thống kê cho thấy rất ít tin nhắn tìm người thân lúc họ mới ra đi mà chỉ có tin nhắn đòi về ký đơn ly dị.

Một buổi chiều mưa sụt sùi. Những hạt mưa giăng trắng khắp triền đồi, triền bãi An Phụ, tôi đến nhà chị Hồng. Cửa đóng im ỉm, gọi mãi người hàng xóm mới ló đầu ra bảo: “Cô ấy bỏ đi phu hồ đã lâu còn chú ấy đang ở nhà con rể”.

Chẳng biết làm gì, tôi lặng ngắm cái ngõ hoang vắng. Cái ngõ là nơi mỗi trận đòn chị đều chạy ra đấy, nơi có lần trong đêm bị chồng lột truồng chị đứng run rẩy trong bóng tối. Cái ngõ dài và sâu hun hút như một tiền định.

Cùng cảnh ngộ như thế ở xóm 2 trong thôn có bà T.T. Thơm (đã đổi tên). Bà là một nông dân trồng hành rất có nghề nhưng chẳng may vớ phải anh chồng hay rượu. Cứ rượu vào là ông thượng cẳng tay, hạ cẳng chân.

Có lần vừa kéo được xe bò hành về, mồ hôi còn ướt đầm lưng áo, ra bể rửa mặt quay vào đã thấy ông chồng cầm dao băm xe hành. Bà khóc, ôm lấy chân chồng can nhưng ông thủng thẳng: “Ô hay! Tao chặt hành chứ có chặt mày đâu mà khóc?”.

Ông không chặt tôi nhưng ông chặt hành thì lấy tiền đâu mà uống rượu? Bà van nài tiếp. “Tao cứ chặt, cứ đi uống rượu đấy, làm gì được nào?”.

Không chỉ đánh, có lần ông còn lột truồng bà mà bêu, hàng xóm thương tình phải lén lấy quần áo cho mặc. Nhiều bận ông đập nát cả đồ đạc, băm nhừ quần áo khiến bà sợ hãi lẩn trốn về nhà người thân. Tỉnh rượu ông lại đi dỗ, bà lại con cón về.

Cán bộ tư pháp xã thấy cám cảnh quá mới khuyên bà rằng: “Ở khổ thế sao cô không ly dị đi?”. Bà hồn nhiên: “Sao phải ly dị hả cháu? Ông ấy chỉ đánh đập cô lúc uống rượu thôi chứ tỉnh táo lại tử tế mà”.

13-58-57_dsc_7988Chị Trang (trái) ly dị đã trên mười năm, một mình nuôi con

Tôi đến thăm nhà chị Nguyễn Thị Trang ở trong thôn. Chị ly dị hơn mười năm nay, một mình nuôi ba con nhỏ. Rất cởi mở và không cần giấu giếm, chị bảo rằng: “Tôi chẳng may lấy phải người chồng không ra gì, đi gây gổ đánh nhau bên ngoài còn việc nhà toàn đùn cho vợ. Thế rồi chồng tôi bỏ đi biệt xứ, lúc ly dị đài báo tin cũng chẳng thấy về, bao năm rồi tôi nuôi con cũng chẳng thèm nhòm ngó. Mất hai ba năm đầu tôi suy nghĩ kinh lắm nhưng cũng dần nguôi ngoai để nuôi dạy con cái. Kiếp này mình làm tốt, gieo nhân lành để kiếp sau gặt quả lành phải không chú?”.

Ôi! Những phụ nữ nông thôn. Ngay cả trong hoàn cảnh bi đát nhất họ vẫn không ngừng nuôi hi vọng.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

***

Lở làng: Tạm ứng… làng văn hóa

NN – 28/08/2014, 08:15 (GMT+7)

Người người văn hóa. Nhà nhà văn hóa. Làng làng văn hóa. Để đạt được danh hiệu làng văn hóa cần có các tiêu chí nhưng nhiều nơi biết là thiếu hẵng cứ xin… tạm ứng, cứ được làng văn hóa đã rồi trả nợ sau.

Lở làng: Tạm ứng... làng văn hóa Cổng làng không còn bình yên

Chó thật, chó giả đều mất

Thống kê cho thấy toàn tỉnh Hưng Yên hiện có trên 70% số làng, khu phố đạt danh hiệu văn hóa trong đó có những làng được công nhận cách đây cả chục năm rồi mà vẫn chưa trả hết các món nợ tiêu chí về văn hóa.

Một số làng tiếng là đạt được danh hiệu rồi nhưng tệ nạn, nghiện hút, ô nhiễm môi trường, sinh con thứ ba, bệnh hình thức trong hiếu hỉ phát triển như nấm mọc sau mưa mà chẳng thấy ai thu lại danh hiệu.

Một số làng trước khi được cấp bằng còn có nhiều nét đẹp truyền thống nay nét cũ phai nhạt dần, nét mới chưa ăn sâu, lai căng kệnh cỡm. Lũy tre làng, cánh cổng làng giờ không còn đủ sức ngăn cản thói xấu của xã hội.

Xã Lương Tài (Văn Lâm, Hưng Yên) có 14 làng thì có tới 9 làng đạt văn hóa. Ở quê giờ ô nhiễm ngày một nặng nề. Rác rải đường làng. Rác góc chợ. Rác đan xen trong các khu dân cư. Rác chất như núi ở chỗ tập trung. Làng trở thành một bãi rác khổng lồ.

Cũng được quy hoạch mỗi làng một điểm chôn lấp rác cả đấy nhưng đều đầy ứ hết thành ra phải đốt. Vài lít xăng là cháy đùng đùng. Khói ngùn ngụt lên như đốt đồng. Khói cay xè mắt mũi. Khói bóp thắt từng cuống họng, buồng phổi.

Ao làng giờ hầu như chẳng cái nào còn tắm được, một số thậm chí bẩn không khác gì nước bể phốt. Đen lờ lờ, sanh sánh dính, nồng nặc mùi khiến ai đi qua cũng phải bịt mũi.

Phục Lễ tên cổ là làng Lựa. Từ thời quận công Trịnh Quý Công, ông tổ họ Trịnh, trồng gốc tre đầu tiên lập nên bốn giáp của làng tính đến nay đã trên 400 năm. Thầy địa lý phán thế của làng là một con rồng tiền tam giang, hậu ngũ nhạc tức trước mặt có ba nguồn nước, sau lưng dựa vào năm quả núi.

15-29-11_dsc_7972Giếng mắt rồng ở làng Phục Lễ

Đến cả con đường chạy qua làng ngày nay vẫn mang tên là đường Rồng. Đông làng và tây làng có hai cái giếng gọi là mắt rồng, nước trong leo lẻo cung cấp nước cả trăm hộ ăn không bao giờ cạn.

Thời dựng làng, cụ quận còn cho đặt hai con chó đá ở đầu thôn để trấn yểm ma tà, quỷ quái, trộm cắp vào làng quấy nhiễu. Năm 1945 cả xứ Bắc, xứ Đông bị dịch tả hoành hành, xác chết đầy đường, đầy chợ mà làng vẫn bình yên vô sự. Người ta bảo đó là do công của đôi chó đá linh thiêng.

Năm 1969, người ta quật lăng cụ quận công ở đầu làng lên vì tưởng có của quý. Sau bao lớp quách bằng bỏng và bằng mật mía được bóc ra, vàng bạc châu báu chẳng thấy đâu mà chỉ thấy xác ướp của cụ bà với mái tóc dài đang nằm như ngủ giữa đủ loại dược liệu tỏa hương thơm ngát. Người làng đưa thi thể bà về nghĩa trang nhân dân để lấy đất khai hoang, làm nhà.

Cách đây mấy năm, một sáng thức dậy người dân Phục Lễ như không tin vào mắt mình nữa khi đôi chó đá cổ trấn ngự ở cổng làng đã bị bứng đi tự lúc nào. Đôi chó đá nặng đến hai ba tạ bị bọn trộm cẩu lên xe ô tô bán mất tăm, mất tích.

Ông Trịnh Văn Chu, một bô lão của làng, bảo tôi rằng đôi chó đá nặng thế, linh thiêng thế còn mất nữa là huống hồ chó thật. Giờ trộm cắp nó chẳng chừa nhà ai. Hễ sểnh ra cái là y như rằng không cánh mà bay, dễ nhất chính là chó.

Dông dài chuyện xóm thôn, cụ Chu buồn cho ao làng chỗ rồng vờn thủy giờ đang ô nhiễm nặng, là chỗ để toàn dân xả rác. Cụ Chu buồn vì làng mình phá băng không còn một nếp nhà cổ để cho các kiến trúc đông tây kim cổ giăng mắc khoe toàn bê tông với cốt thép.

Tủ sách của làng giờ không mấy ai thèm đến đọc, bưu điện văn hóa xã lại càng không mấy ai ra.

Xưa phường chèo Xuân Đào nổi tiếng hát đình, hát hội cũng dần mất dấu. Giờ người làng chỉ thích hát karaoke với nhạc xập xình. Xưa trên con đường lát gạch nghiêng cheo lệ làng đám trẻ bày trò chơi khăng, chơi ô ăn quan, đánh đáo, đá cầu…vui đáo để. Giờ đường bê tông hết, nóng hầm hập, trẻ con chỉ cắm đầu trong các quán điện tử ngoài xã, ngoài thị trấn.

Nỗi sợ ở làng

Chuyện vắt sang một ngôi làng cổ khác có tên gọi là Sơn Dương (Lâm Thao, Phú Thọ). Ông Nguyễn Đình Xán, giáo viên về hưu kể làng mình bao quanh bởi Phùng Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun – toàn những di tích cổ tuổi đời hàng ngàn, hàng vạn năm.

Từ thời Hùng Vương làng đã có rồi đến thế kỷ thứ ba thì chữ Hán phát triển rực rỡ ở đây. Dân trong làng hồi đó góp ruộng cấp cho nhà có thầy đồ để nuôi thầy gọi là học điền. Sơn Dương nhiều thầy đồ và rất giỏi nên mới có câu: “Lý làng Hồ, đồ Sơn Dương”.

15-29-11_dscn9687Một góc của làng

Năm 1955, cũng chính ở làng có ông Nguyễn Xuân Nghinh đứng ra lập trường học tư thục sớm thứ hai của tỉnh, thu hút học sinh của cả sáu huyện phía nam về học.

Năm 1964, giữa cảnh bao cấp đói khổ, bom đạn ngút trời làng có cặp vợ chồng bố bắt lươn, mẹ làm ruộng mà nuôi cả bốn đứa con cùng vào đại học. Tin đó không chỉ chấn động Việt Nam mà lan cả ra thế giới bởi các nhà báo, nhà đài về kìn kìn.

Nhiều làng quê bây giờ nghiện hút nổi lên như rươi. Trộm cắp hoành hành đến mức nồi cám lợn đang rừng rực trên bếp còn bị đổ đi, bê mất, con chó xích trong nhà cũng bị điệu đi, đôi dép rách dựng ngoài hiên cũng bị xách mất.

Kinh tế thị trường, nghiệp giáo dục của Sơn Dương lại càng phát triển mạnh. Làng Mương, tên cổ của Sơn Dương, gồm bốn làng nhỏ như một nắm xôi với trên 5.000 nhân khẩu, đi một tí đã hết nhưng có vài trăm giáo viên dạy học khắp miền Bắc, riêng nhóm giáo viên về hưu có 72 người. Làng có hai ông trung tướng và một lãnh đạo cấp cao của Trung ương.

Nề nếp là thế, truyền thống là thế tưởng như làng có một bức giáp sắt che chắn nhưng vẫn không thể thoát được những tác động xấu từ bên ngoài vào. Thói côn đồ bắt đầu tiêm nhiễm trong một số trai làng.

Trọng án đầu tiên xảy ra ở làng là vụ con cô giáo Nguyễn Thị Tú bị giết thảm. Cô Tú sống đơn thân có nhận nuôi một đứa trẻ mong nương tựa tuổi xế chiều. Hai mẹ con sớm chiều quấn quýt nhau! Một ngày người ta phát hiện một xác người trôi từ cống ủy ban ra. Người thanh niên đó chính là con cô Tú. Nó bị hãm hại, giết hại dã man rồi nhét vào cống hòng phi tang.

Vụ trọng án đó còn chưa lắng hết dư âm thì một trọng án khác lại xảy ra mà mức độ còn tăng gấp bội. Vì một mâu thuẫn cỏn con, đám trai làng hẹn với đám trai làng khác ở cánh đồng với côn, gậy, dao lăm lăm trong tay.

Tiếng hò hét man rợ. Cả một vạt ruộng bị quần nát để lại trên đó hai cái xác bất động và hai thân thể đang quằn quại trong vũng máu. Giờ kẻ gây tội đã bóc lịch trong tù còn người chết đã vùi sâu dưới ba tấc đất mà nỗi đau vẫn âm ỉ, rỉ máu làng trên xóm dưới.

Tôi cùng ông Xán đến thăm nhà cô giáo Tú. Nhà không người. Người đàn bà vào những năm tháng cuối đời này vẫn không nguôi ngoai cơn đau lá xanh rụng trước lá vàng, đầu xanh đi trước đầu bạc.

Ông Xán lắc đầu bảo tôi rằng giáo dục một con người cần ba yếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội. Thiếu một trong ba thứ đó tệ nạn nảy sinh là điều hiển nhiên.

DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG

Advertisements

One thought on “Lở làng – 4 kỳ

  1. Hi cả nhà,

    Chuỗi bài Lở làng này là những ví dụ cụ thể về những thay đổi trong giá trị văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

    Tại sao lại có những thay đổi này? Em nghĩ cả nhà có thể tham khảo câu trả lời ở đây ạ – Đối thoại về tương lai văn hóa Việt Nam (https://cvdvn.net/2016/02/27/doi-thoai-ve-tuong-lai-van-hoa-viet-nam/)

    Em trích vài lời của GS Phạm Đức Dương (trong bài Đối thoại…):

    “Việt Nam đang trước những thử thách rất lớn. Tình hình nguy hiểm vô cùng về văn hóa. Nhưng tôi tin trong mọi tình huống người Việt Nam đều vượt qua và luôn là chính họ. Lớp trẻ Việt Nam đang bị choáng ngợp bởi sự thay đổi hệ thống giá trị. Nhưng một khi bình tĩnh lại, họ sẽ biết cách tiếp nhận và phát triển các giá trị văn hóa dân tộc. Đó là sức sống của nền văn hóa Việt Nam.”

    “…tôi tin, Việt Nam vẫn có những tri thức với lòng yêu nước, sự dũng cảm và trí tuệ sẽ gìn giữ được những tinh hoa của văn hóa dân tộc.”

    Like

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s