Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng theo luật hiện hành của Việt Nam

ENGLISH: Corruption whistleblowers protection mechanism under current laws

Hướng đến minh bạch (HD)[1]

Đầu mối quốc gia của Tổ chức Quốc tế Minh bạch (Transparency International – TI) tại Việt Nam

Tố cáo là một quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp của Việt Nam và cũng đồng thời là một kênh quan trọng giúp các cơ quan chính phủ tiếp cập thông tin, phát hiện và xử lý những trường hợp vi phạm pháp luật. Việt Nam từ lâu đã thừa nhận quyền của người tố cáo nói chung và người tố cáo tham nhũng nói riêng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, nhiều điều luật mới chỉ là nguyên tắc, chưa cụ thể và còn phân tán trong các văn bản pháp luật khác nhau có hiệu lực pháp lý khác nhau.

Đây là lý do chủ yếu tại sao người tố cáo, trong nhiều trường hợp, vẫn cảm thấy e ngại, sợ hãi hay không chủ động hợp tác với các cơ quan nhà nước trong quá trình điều tra, xác thực và giải quyết việc tố cáo.

Theo Báo cáo số 180/BC-TH ngày 28/12/2015 của Cục chống tham nhũng thuộc Thanh tra Chính phủ, các cơ quan chức năng đã tiếp nhận 699 đề nghị bảo vệ người tố cáo, bao gồm 99 đề nghị bảo vệ người tố cáo tham nhũng, trong giai đoạn kể từ khi ban hành Luật Tố cáo vào năm 2011 và Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố cáo cho đến ngày 31/3/2015. Tuy nhiên, chỉ một phần ba số đề nghị đã được xử lý, trong đó chỉ có 21 trường hợp liên quan đến tham nhũng. Tương tự, khảo sát Đo lường Tham nhũng Toàn cầu (Global Corruption Barometer) năm 2013 về quan điểm và kinh nghiệm của người dân Việt Nam về tham nhũng chỉ ra rằng chỉ có khoảng 38% người tham gia sẵn sang tố cáo hành động tham nhũng. Về lý do tại sao công dân Việt Nam e ngại việc tố cáo tham nhũng, 51% người được khảo sát cho biết đó là bởi “điều đó sẽ chẳng tạo ra thay đổi gì” và 28% nói rằng họ “sợ hậu quả”. Theo một khảo sát tiến hành bởi cơ quan Thanh tra Nhà nước và Ngân hàng Thế giới [2], 62% người khảo sát cho biết họ do dự việc tố cáo tham nhũng vì sợ bị trả thù.

Phần lớn các trường hợp tố cáo trong thực tế và được báo chí phản ánh thể hiện rằng: người bị tố cáo là những người nắm giữ chức vụ và quyền lực, hoặc là những người có ảnh hưởng trong xã hội, trong khi người tố cáo thường ở vị trí không thuận lợi, do đó, họ thường sợ bị trả thù. Ông Lê Xuân Mậu, cựu cán bộ của Tổng Công ty Dâu tằm tơ – một công ty cổ phần [3], người đã tố cáo Tổng giám đốc vì những hành vi sai trái trong công ty, cho biết: “Tôi đã không được giao bất cứ công việc nào trong một thời gian sau khi tố cáo. Ngoài ra một số người khác còn chỉ trích tôi phá hoại sự đoàn kết nội bộ trong công ty”.
Người tố cáo thường cảm thấy đơn độc và lẻ loi trong cuộc chiến chống tham nhũng do thiếu cơ chế bảo vệ. Ông Lê Phước Cẩm người đã phơi bày vụ phá rừng ở Khe Diên (Quảng Nam) [4] tâm sự: “Tôi cảm thấy quá đơn độc. Tôi đã mang bằng chứng đến làng, làng hoàn toàn im lạng; đến Đảng bộ xã, họ cũng yên lặng. Tôi tố cáo đến chính quyền cấp huyện, họ làm rò rỉ thông tin. Thậm chí khi cuộc sống của cả gia đình tôi bị đe doạ trực tiếp, tôi không nhận được bất kỳ biện pháp bảo vệ trực tiếp nào từ chính quyền dù tôi đã rõ ràng yêu cầu bảo vệ…”

Theo Điều 33 về bảo vệ người tố cáo tham nhũng [5] của Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc (the United Nations Convention against Corruption – UNCAC) mà Việt Nam là một bên tham gia, để bảo vệ người tố cáo [6] thì việc cần thiết là nhận diện người tố cáo, những nguy hiểm mà người tố cáo đối mặt, bao gồm những đe doạ đến danh dự, nhân phẩm, kinh tế, sự nghiệp… của người tố cáo và nhân diện khả năng đền bù. Do đó, các biện pháp để ngăn chặn những đe doạ và hành xử bất công cần phải đa dạng và tương xứng với mức độ nguy hiểm. Một cơ chế bảo vệ người tố cáo hiệu quả nên được chỉ rõ trong các văn bản pháp luật và được thực hiện trong thực tế.

Cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng cũng nên được dựa trên bốn yếu tố cơ bản cấu thành cơ chế bảo vệ người tố cáo nói chung, bao gồm:

(i) nền tảng pháp lý để bảo vệ người tố cáo;

(ii) cơ quan bảo vệ người tố cáo;

(iii) các biện pháp và điều kiện để bảo vệ người tố cáo; và

(iv) hình phát dành cho kẻ vi phạm.

 

Nền tảng pháp lý để bảo vệ người tố cáo: thiếu cơ chế cụ thể để bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Nền tảng pháp lý là điều kiện tiên quyết để hình thành cơ chế bảo vệ người tố cáo và bảo đảm việc thực thi cơ chế này trong thực tiễn.

Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản và nghị quyết [7] khẳng định vai trò quan trọng của xã hội trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng; và đối với việc bảo vệ người tố cáo và phát hiện tham những và các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, đến nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam vẫn chưa ban hành văn bản và nghị quyết đặc biệt nào về cơ chế bảo vệ người tố cao tham nhũng và vi phạm pháp luật. Các quy định hướng dẫn việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng còn ít và rải rác trong các văn bản khác nhau.

Quyền tố cáo được thừa nhận là quyền cơ bản của công dân trong Hiếp pháp 2013: “Mọi người có quyền khiếu nại hay tố cáo hành động phi pháp của các cơ quan, tổ chức hay cá nhân đến các cơ quan, tổ chức, người có chức năng…”

Thiết lập các điều khoản của hiến pháp, nhiều luật đã được ban hành, ví dụ như Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo năm 2011; Luật chống tham nhũng 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012, Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 và các văn bản hướng dẫn. Mặc dù Luật Tố cáo dành hẳn một chương cho vấn đề bảo vệ người tố cáo [8], nhưng nó chỉ bao gồm các điều khoản chung nhất về người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan chức năng giải quyết tố cáo, thứ tự và quy trình giải quyết tố cáo, [9]… Các vấn đề cụ thể liên quan đến tố cáo và giải quyết tố cáo tham nhũng cần phải tuân thủ Luật Chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn liên quan [10].

Tuy nhiên, các điều khoản trong Luật Chống tham nhũng cũng khá chung chung: “Người đứng đầu các cơ quan chức năng và tổ chức khi tiếp nhập tố cáo về tham nhũng…phải ngay lập tức tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có những dấu hiệu đe doạ, trả thù, trả đũa đối với người tố cáo hoặc theo yêu cầu của người tố cáo…” [11]

Nghị định số 59/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/01/2013 chi tiết hoá và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chống tham nhũng cũng đưa ra những điều khoản chung chung về bảo vệ người tố cáo:

“Các cơ quan, tổ chức, người có chức năng có trách nhiệm tiến hành các biện pháp để bảo vệ người tố cáo. Việc bảo vệ người tố cáo phải được thực hiện theo luật về tố cáo.” [12]

Tóm lại, phát luật của Việt Nam đến nay chưa có các quy định cụ thể về bảo vệ người tố cáo.

Cơ quan bảo vệ người tố cáo: trùng lặp chức năng

Trách nhiệm bảo vệ người tố cáo được giao cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau và được quy định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau.

Theo Luật Tố cáo 2011 [13], Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo trong trường hợp người tố cáo yêu cầu bảo vệ tại nơi sinh sống của họ. Tuy nhiên, đối với người tố cáo yêu cầu bảo vệ mạng sống, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm và uy tín, Luật quy định sự phối hợp giữa công an và các cơ quan chức năng khác thay vì quy định cụ thể cơ quan nào chịu trách nhiệm chính cho việc bảo vệ.

Theo Nghị định số 76 [14], các cơ quan chịu trách nhiệm bảo vệ người tố cáo là:

(i) cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết tố cáo;
(ii) cơ quan công an tại nơi người tố cáo và người thân của họ sinh sống, làm việc hay học tập;
(iii) cơ quan công an tại nơi có tài sản của người tố cáo hoặc người thân của họ; và
(iv) các tổ chức công đoàn, các cơ quan quản lý lao động hay các cơ quan chức năng khác tại cấp địa phương. Nghị định 76 cũng quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan này và với các cơ quan, tổ chức có liên quan khác trong việc thi hành các biện pháp bảo vệ người tố cáo.

Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 không có bất kỳ quy định cụ thể nào về trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, Bộ luật quy định các cơ quan chức năng mà quyết định áp dụng các biện pháp đối với người được bảo vệ (bao gồm người tố giác tội phạm, nhân chứng, nạn nhân và những người khác có liên quan trong quá trình) [15] là các đơn vị điều tra thuộc lực lượng Công an Nhân dân và các cơ quan điều tra thuộc lực lượng Quân đội Nhân dân. Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án Nhân dân có thể yêu cầu đơn vị điều tra trực tiếp xử lý các trường hợp phạm tội áp dụng các biện pháp bảo vệ khi cần thiết.

Mặc dù Luật Chống tham nhũng là một văn bản pháp luật chuyên về tham nhũng, nhưng nó chỉ quy định chung trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo, bao gồm [16]:

* Các quy định đảm bảo thực thi quyền công dân về tố cáo tham nhũng: các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân giữ chức vụ và nắm quyền chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết nhanh chóng các báo cáo, tố cáo, và các thông tin khác về hành động tham nhũng; và chịu trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, thông báo và tố cáo hành vi tham nhũng;

* Liệt kê các hành động bị cấm, bao gồm đe doạ, trả thù và trả đũa người phát hiện, báo cáo và cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng;

* Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan và tổ chức khi tiếp nhận các tố cáo về hành vi tham nhũng. Theo đó, những người này phải xem xét và giải quyết tố cáo theo chức năng nhiệm vụ, giữ bí mật tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; hoặc đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo người tố cáo khi có sự đe doạ, trả thù, trả đũa rõ ràng đối với người tố cáo hoặc theo yêu cầu của người tố cáo.

Do đó, theo luật hiện hành, có quá nhiều cơ quan có chức năng bảo vệ người tố cáo trong khi quyền hạn của những cơ quan này bị hạn chế và trùng lặp, và chưa có cơ quan cụ thể nào chuyên trách việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng.

Các biện pháp và điều kiện bảo vệ người tố cáo: chưa cụ thể

Theo Luật Tố cáo 2011 [17], người được bảo vệ bao gồm người tố cáo và thân nhân của họ; việc bảo vệ người tố cáo có thể tiến hành ở mọi nơi mà người tố cáo có thể bị ảnh hưởng, bao gồm nơi ở, nơi làm việc, học tập, nơi có tài sản của người được bảo vệ hoặc các nơi khác do cơ quan chức năng quyết định.

Về các biện pháp bảo vệ người tố cáo, Luật Tố cáo và Nghị định 76 [18] quy định ba nhóm biện pháp bảo vệ chính, bao gồm:

(i) bảo vệ tính mật của thông tin về người tố cáo;
(ii) bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền cá nhân khác của người tố cáo và thân nhân;
(iii) bảo vệ vị trí công tác và công việc của người tố cáo và thân nhân.

Bảo vệ tính mật của thông tin về người tố cáo

Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có chức năng khi tiếp nhận và giải quyết tố cáo, khai thác và sử dụng thông tin và tài liệu do người tố cáo cung cấp phải giữ bí mật tên đầy đủ, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cao; và phải áp dụng các biện pháp cần thiết trong khả năng hoặc yêu cầu các cơ quan và tổ chức có thẩm quyền khác tiến hành các biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ người tố cáo. Ngoài ra, trong một số trường hợp, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo phải được lược bỏ khỏi đơn tố cáo; các tài liệu và bằng chứng có liên qua được lưu trữ và quản lý theo chế độ mật.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tố cáo được tiếp nhận và xử lý bởi nhiều cơ quan và đơn vị, hay người tố cáo gửi tố cáo đến nhiều cơ quan khác nhau, hoặc truyền thông đôi khi đưa các thông tin thiếu chính xác; do đó rất khó và phức tạp để kiểm chứng và đảm bảo tính bảo mật của thông tin.
Bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền cá nhân khác của người tố cáo và thân nhân của họ  

Khi có cơ sở cho người tố cáo và thân nhân của họ tin rằng tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các quyền cá nhân khác của họ bị đe doạ hay bị xâm phạm trong thực tế, người tố cáo có thể yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng các biện pháp bảo vệ tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm.

Sau đây là một số biện pháp bảo vệ:

* Thu xếp lực lượng, phương tiện và thiết bị để bảo vệ sự an toàn của người được bảo vệ ở những nơi cần thiết;
* Tạm thời di dời người được bảo vệ đến nơi an toàn;
* Yêu cầu người có hành vi xâm phạm tài sản của người được bảo vệ dừng hành vi xâm phạm;
* Yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt việc xâm phạm và công khai xin lỗi và sửa chữa;
* Yêu cầu các cơ quan, tổ chức và đơn vị có liên quan phục hồi danh dự và uy tín, nhân phẩm và các quyền cá nhân đã bị xâm phạm của người được bảo vệ;
* Đề nghị những người có thẩm quyền áp dụng các hình phạt hoặc xử lý hành chính.

Bảo vệ vị trí công tác và công việc của người tố cáo và thân nhân của họ 

Người tố cáo có vị trí công tác được bảo đảm không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào. Người có nhiệm vụ quản lý và sử dụng công chức, viên chức và cán bộ nhà nước bị cấm phân biệt đối xử trong tuyển dụng đối với người tố cáo, trả thù, trù dập, hăm doạ hay có thành kiến đối với người tố cáo.

Khi người tố cáo và thân nhân của họ có cơ sở tin rằng vị trí công tác và công việc của họ bị ảnh hưởng bởi việc tố cáo, người tố cáo có thể yêu cầu cơ quan nhà nước tiến hành những biện pháp bảo vệ cần thiết.

Đối với cán bộ, công chức, viên chức, các biện pháp bảo vệ bao gồm:

(i) chuyển người tố cáo đi cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị khác nếu người tố cáo đồng ý như vậy;

(ii) ban hành quyết định xử lý tuỳ theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý theo luật người có hành vi trả thù, trả đũa hoặc đe doạ đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.
Đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không phải là cán bộ nhà nước, có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ sau đây:

(i) yêu cầu người tuyển dụng lao động chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; phục hồi chức vụ, công việc, thu nhập và các quyền lợi công việc hợp pháp khác của người được bảo vệ; và

(ii) đề nghị người có thẩm quyền xử lý theo luật.

Ngoài các điều khoản trong Luật Tố cáo 2011 và Nghị định 76, Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 cũng nêu rõ các biện pháp bảo vệ người tố cáo [19]. Các biện pháp bảo vệ sẽ được áp dụng trong trường hợp tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành thủ tục pháp lý có cơ sở tin rằng tính mạng, sức khoẻ, tài sản và danh dự của người được bảo vệ bị xâm phạm hoặc bị đe dọa xâm phạm do họ cung cấp bằng chứng, tài liệu hay thông tin liên quan đến tội phạm. Tuy nhiên, quyền của người tố cáo vẫn còn hạn chế so với quyền của người tham gia vào các vụ kiện hình sự (nạn nhân, nguyên đơn, bị cáo, người có quyền và lợi ích liên quan), bao gồm quyền được mời đến và quyền thay đổi chuyên gia và quyền sử dụng phiên dịch, quyền đề nghị thay thế người tiến hành tố tụng pháp lý, quyền kháng cáo….

Như có thể thấy trong các điều khoản nêu trên, các biện pháp bảo vệ người tố cáo còn chung chung và chưa đầy đủ. Bản thân các thuật ngữ “cơ sở”, “nơi an toàn” và “nơi cần thiết” cũng chung chung và các cơ quan có thể tùy nghi áp dụng hoặc không đủ cơ sở để áp dụng các biện pháp bảo vệ. Trong khi đó, Luật chống tham nhũng và các văn bản hưởng dẫn không có quy định cụ thể về biện pháp bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Xử lý các cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm 

Hiến pháp 2014 [20] nêu rằng “Việc trả thù người khiếu nại hay tố cáo, hay lạm dụng quyền khiếu nại và tố cáo để vu khống hay buộc tội sai người khác bị nghiêm cấm.” Điều 14 Luật Tố cáo 2011 liệt kê 14 hành vi xâm phạm quyền của người tố cáo bị cấm [21], bao gồm “không thi hành hoặc không thi hành đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.” Trong khi đó, Luật chống tham nhũng chỉ nêu chung chung những hành vi bị cấm là “đe doạ, đối xử bất công, trả đũa người phát hiện, báo cáo, tố cáo hay cung cấp thông tin về tham nhũng.” [22]

Về cơ bản, các cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định pháp luật sẽ chịu các hình thức kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự, tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của vi phạm.

Hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, giảm lương, giáng chức, đuổi khỏi cơ quan và buộc phải từ chức [23];

Xử phạt hành chính: Đến nay, Việt Nam chưa có điều khoản cụ thể về xử phạt hành chính trong lĩnh vực khiếu nại tố cáo. Do đó, việc xử lý các vi phạm hành chính phải tuân theo các quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Theo đó, xử phạt hành chính được áp dụng đối với người vi phạm bao gồm cảnh cáo, phạt, tước quyền sử dụng bằng cấp hay chứng chỉ hành nghề trong một thời gian nhất định hoặc đình chỉ hoạt động trong một thời gian nhất định; tịch thu tang vật vi phạm hành chính hoặc phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính và đuổi việc [24];

Xử lý hình sự: Về các biện pháp bảo vệ hiệu quả cho người tố cáo, Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 đã điều chỉnh và bổ sung cả hai yếu tố tội phạm và hình phạt đối với tội xâm phạm quyền khiếu nại hoặc tố cáo (Điều 166).

Thêm vào đó, để bảo vệ người tố cáo ở nơi làm việc, Bộ luật hình sự cũng quy định chi tiết về tội sa thải trái phép người lao động hoặc cán bộ công chức nhà nước (Điều 162) bằng cách phân loại thành 3 mục sau: Mục 1 quy định các yếu tố phạm tội với các trường hợp chi tiết hình thành tội; Mục 2 quy định các trường hợp cấu thành trách nhiệm hình sự trong các trường hợp có tội; và Mục 3 quy định hình phạt bổ sung. Bộ luật Hình đã xoá bỏ hình thức cảnh cáo do thiếu tính hiệu lực và tăng mức phạt cho tội này lên đến 200 triệu đồng cho phù hợp với việc đấu tranh chống lại loại tội phạm này trong thực tế.
Luật Tố cáo 2011 liệt kê 14 hành vị bị cấm liên quan đến quyền của người tố cáo và quy định người vi phạm, tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm, sẽ bị kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc buộc tội hình sự.

Tuy nhiên, Điều 166 của Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 không truy tố tất cả các hành động liệt kê trong Luật Tố cáo, từ đó có thể dẫn đến việc bỏ sót tội. Do đó, để đảm bảo việc bảo vệ tốt hơn cho người tố cáo, sự khác biệt giữa Bộ luật hình sự và Luật Tốc cáo cần phải được xoá bỏ.

Đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Việc bảo vệ người tố cáo trong thực tế tại Việt Nam bộc lộ nhiều thiết sót do thiếu các quy định cụ thể về cơ quan cụ thể chịu trách nhiệm bảo vệ người tố cáo, thứ tự và quy trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết các yêu cầu bảo vệ của người tố cáo, các biện pháp bảo vệ và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo.

Để giảm thiểu các thiết sót nêu trên, các đề xuất sau đây nên được xem xét:

Thiết lập một đơn vị chuyên trách bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Hiện tại có quá nhiều cơ quan và tổ chức chịu trách nhiệm bảo vệ người tố cáo, bao gồm cả tố cáo tham nhũng. Để tố cáo trở thành một công cụ hiệu quả trong việc phát hiện tham nhũng và để khuyến khích mọi người tham gia chống tham nhũng, nên có một cơ quan chuyên trách bảo vệ người tố cáo tham nhũng với cơ cấu hợp lý. Pháp luật nên quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và điều kiện để đảm bảo hoạt động của cơ quan này. Trên cơ sở tình hình thực tế của Việt Nam, pháp luật nên giao trách nhiệm chính và chức năng chuyên trách và phối hợp cho công an.

Theo đó, nhiệm vụ bảo vệ tính mạng và sức khoẻ của người tố cáo nên được tiến hành bởi công an, trong khi đó, các cơ quan chức năng khác, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Công đoàn đồng hỗ trợ bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo.

Hoàn thiện quy trình xử lý yêu cầu bảo vệ người tố cáo và cụ thể hoá các biện pháp bảo vệ người tố cáo
Hiện nay có hai văn bản pháp luật điều chỉnh thứ tự và quy trình tiếp nhận, chấp nhận và xử lý yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo là Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 và Nghị định 76. Tuy nhiên, các quy định trong hai văn bản này không thống nhất với nhau và chưa nghiêm.

Nghị định 76 không nêu cụ thể cách thức gửi yêu cầu, giới hạn thời gian tiếp nhận và xử lý yêu cầu, hiệu lực của quyết định bảo vệ, tổ chức và cá nhận chịu trách nhiệm chính; ngoại trừ các điều khoản về bảo vệ vị trí công tác và công việc của người tố cáo và thân nhân của họ. Tương tự, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015 điều chỉnh đề xuất, yêu cầu, đơn xin áp dụng các biện pháp bảo vệ; tuy nhiên, bộ luật này không quy định cụ thể cách thức nộp đề xuất; trong trường hợp khẩn cấp, thông qua phương tiện liên lạc nào người được bảo vệ nên yêu cầu bảo vệ, cũng như giới hạn thời gian đối với việc tiếp nhận và xử lý yêu cầu không được quy định.

Do đó, cần thiết phải nghiên cứu và xây dựng quy trình và thứ tự tiếp nhận và xử lý yêu cầu bảo vệ của người tố cáo, và xác nhận và kiểm chứng yêu cầu. Thứ tự và quy trình này phải đơn giản và phù hợp với thực tế và khuyến khích người dân thực hiện quyền được bảo vệ của họ, tuỳ theo tính chất và nội dung của việc bảo vệ, và các bước giải quyết tố cáo của các cơ quan nhà nước.

Pháp luật chống tham nhũng cũng cần quy định cụ thể về việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng phù hợp với các điều khoản của Luật Tố cáo đối với các nhu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, vị trí công tác, nghề nghiệp và thu nhập của người tố cáo.
Củng cố tính trách nhiệm và đạo đức của cán bộ công chức

Trong việc bảo vệ người tố cáo, cán bộ và công chứng nhà nước đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt là trong quá trình xử lý thông tin từ người tố cáo.

Luật Chống tham nhũng quy định cụ thể về quy tắc xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu [25]. Quy tắc ứng xử dành cho cán bộ công chức làm việc tại các bộ máy chính quyền địa phương cũng được quy định cụ thể tại Quyết định số 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/2/2007 của Bộ Nội vụ. Tuy nhiên, Luật Tố cáo 2011 không có bất kỳ điều khoản nào về quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức khi tiếp nhận và giải quyết tố cáo cũng như yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo.

Trên thực tế, thông tin cá nhân của người tố cáo, trong nhiều trường hợp, bị tiết lộ trong quá trình giải quyết tố cáo bởi các cán bộ, công chức. Điều này làm ảnh hướng trực tiếp đến người tố cáo và ảnh hưởng đến lòng tin của người dân.
Do đó, mặc dù Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý về việc bảo vệ người tố cáo, việc củng cố đạo đức nghề nghiệp công là cần thiết. Để làm được điều này, luật về tố cáo nên quy định quy thể quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức; đồng thời, người đứng đầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chịu trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết tố chứ nên nâng cao trách nhiệm của cán bộ công chức trong đơn vị và tăng cường theo dõi, giám sát việc thực hành các tiêu chuẩn đạo đức của họ.-

[1] Hướng đến minh bạch, Đầu mối quốc gia của Tổ chức Quốc tế Minh bạch tại Việt Nam, Khảo sát Đo lường Tham nhũng Toàn cầu 2013 – Quan điểm và trải nghiệm của người dân Việt Nam.

[2] Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới, Tham nhũng từ quan điểm của người dân, doanh nghiệp, cán bộ và công chức nhà nước, 2014, trang 68

[3] Báo Điện tử hàng ngày Phát luật Thành phố Hồ Chí Minh,  Ho Chi Minh City Law electronic daily, “Muôn trùng khó cho người tố giác”, ngày 20/01/2010.

[4] Như trên.

[5] Ta Thu Thuy (Viện khoa học thanh tra chính phủ), Bảo vệ người tố cáo – Quy định của Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và một số thách thức đối với Việt Nam, 2013.

[6] UNCAC sử dụng thuật ngữ “Accuser” (“Người tố cáo”). “Accusation” (“Tố cáo”) là hành vi báo cáo đến chính phủ về những việc làm sai trái; “denunciation” (“tố cáo”) là một người thực hiện quyền báo cáo cá hành vi vi phạm pháp luật nói chung đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền – Ta Thu Thuy (Viện khoa học thanh tra chính phủ), Bảo vệ người tố cáo – Quy định của Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và một số thách thức đối với Việt Nam, 2013.

[7] Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 15/5/1996 của Bộ Chính trị hướng dẫn chống tham nhũng; và Nghị quyết số 482005/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020; Nghị quyết số 04/2006/NQ-TW của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, khoá 10, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong cuộc chiến chống tham nhũng và lãng phí; và Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12/5/2009 của Chính phủ, ban hành Chiến lược chống tham nhũng quốc gia hướng đến 2020.

[8] Chương 5 – Bảo vệ người tố cáo (7 điều, từ Điều 34 đến Điều 40), Luật Tố cáo 2011.

[9] Ta Thu Thuy (Viện khoa học thanh tra chính phủ), Bảo vệ người tố cáo – Quy định của Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và một số thách thức đối với Việt Nam, 2013.

[10] Phần 3 – Tố cáo và giải quyết tố cáo về tham nhũng, Chương III – Phát hiện tham nhũng, Luật Chống tham nhũng và Chương VI của Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Chống tham nhũng.

[11] Khoản 1 và 2, Điều 65 (Trách nhiệm tiếp nhận và xử lý tố cáo) của Luật chống tham nhũng được bổ sung, điều chỉnh năm 2012.

[12] Điều 58 Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chống tham nhũng.

[13] Điều 38 và 39 của Luật Tố cáo 2011.

[14] Chương III – Các biện pháp bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố cáo.

[15] Điều 485, Chương 34 – Bảo vệ người tố giác tội phạm, nhân chứng, nguyên đơn và những người khác tham gia kiện tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015.

[16] Điều 5, 10 và 65 của Luật chống tham nhũng sửa đổi năm 2012.

[17] Khoản 1, Điều 34 Luật Tố cáo 2011.

[18] Điều 36 đến Điều 39 Luật Tố cáo 2011; Chương 3 Nghị định 76/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2012 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố cáo.

[19] Điều 486, Chương 34 – Bảo vệ người tố giác tội phạm, nhân chứng, nguyên đơn và những người khác tham gia kiện tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi năm 2015.

[20] Khoản 3, Điều 30 Hiến pháp 2013.

[21] Điều 8 Luật Tố cáo 2011.

[22] Khoản 2 Điều 10 và Khoản 4 Điều 68 Luật chống tham những sửa đổi năm 2012.

[23] Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ về kỷ luật cán bộ công chức.

[24] Khoản 1 Điều 21 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

[25] Phần 3, Chương 2 – Phòng chống tham nhũng, Luật Chống tham nhũng sửa đổi năm 2012.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s