Loạt bài về biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt của Việt Nam

05:13 |04/09/2020 nangluongvn

Đề xuất phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt của Việt Nam [Kỳ 1]

05:13 |04/09/2020

 –  Giá bán lẻ điện ở nước ta là vấn đề nổi cộm từ nhiều năm nay, đặc biệt nó lại rộ lên khi chuẩn bị ban hành biểu giá bán lẻ điện mới. Nguyên nhân chính là do đến nay chưa có một phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện nói chung và giá bán lẻ điện sinh hoạt nói riêng, trong đó làm rõ một cách căn cơ và giải đáp một cách thỏa mãn các nguyên tắc, căn cứ, phương pháp xác định biểu giá bán lẻ điện và việc áp dụng các nguyên tắc, căn cứ đó vào việc xác định giá bán lẻ điện trong từng thời kỳ. Trong chuyên đề này, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam đề xuất phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt của Việt Nam với mục đích góp phần giải quyết một trong những vấn đề nổi cộm của ngành điện nước ta từ nhiều năm nay. 


Luận bàn về giá bán lẻ điện [Kỳ 1]: Nguyên tắc, căn cứ xác định giá

Luận bàn về giá bán lẻ điện [Kỳ cuối]: Phản biện về các phương án

KỲ 1: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CƠ SỞ, NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT ĐỐI VỚI XÁC ĐỊNH GIÁ BÁN LẺ ĐIỆN Ở VIỆT NAM


PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM [*]


I. Vấn đề đặt ra đối với xác định giá bán lẻ điện

Bao gồm các vấn đề sau:

1/ Tại sao phải xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt điện bậc thang?

2/ Tại sao có giá khung giờ cao điểm, khung giờ bình thường và khung giờ thấp điểm?

3/ Số lượng bậc thang, mức giá và cơ số điện của từng bậc thang trong biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang được xác định dựa vào những căn cứ nào và như thế nào?

4/ Mức giá khung giờ cao điểm, khung giờ bình thường và khung giờ thấp điểm được xác định dựa vào căn cứ nào và như thế nào?

5/ Tại sao càng mua nhiều điện thì giá càng cao?

6/ Tại sao xây dựng biểu giá điện 1 giá và liệu chỉ có 1 biểu giá điện 1 giá duy nhất hay không?

7/ Tại sao phải phân biệt giá bán lẻ điện theo từng loại khách hàng sử dụng điện?

8/ Tại sao có giá điện 2 thành phần: Phần giá công suất (cố định) và phần giá điện năng (biến đổi theo sản lượng điện sử dụng)?

II. Cơ sở, nguyên tắc giải quyết các vấn đề của việc xác định giá bán lẻ điện

1/ Đối với vấn đề ở câu hỏi 1 và 5: Tại sao phải xây dựng biểu giá điện bậc thang? và Tại sao càng mua nhiều điện thì giá càng cao? Vì rằng:

a/ Sản phẩn điện đồng nhất và không thể lưu kho, quá trình sản xuất điện và tiêu thụ điện diễn ra đồng thời theo nguyên tắc nhu cầu đến đâu thì sản xuất đến đó.

b/ Nội dung chi phí trong giá thành điện gồm 2 phần: Phần chi phí biến đổi và phần chi phí cố định. Chi phí biến đổi là chi phí phụ thuộc vào sản lượng, chỉ phát sinh khi quá trình sản xuất điện hoạt động, như chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương công nhân vận hành và các chi phí khác gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất của nhà máy điện. Chi phí cố định là chi phí không phụ thuộc vào sản lượng, phát sinh cả khi quá trình sản xuất điện ngừng hoạt động, như chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa, chi phí trực để chờ vận hành, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo vệ, chiếu sáng, tiền thuê hoặc thuế đất, v.v…

c/ Có nhiều nguồn điện khác nhau có giá thành cao thấp khác nhau. Xu thế chung là các nguồn điện xây dựng mới thường có giá thành sản xuất cao hơn các nguồn điện cũ do tác động của quy luật khan hiếm các nguồn tài nguyên năng lượng.

d/ Ngành điện phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu điện tối đa của khách hàng, theo đó phải xây dựng công suất nguồn điện đủ đảm bảo cung cấp sản lượng điện ở mức cao nhất theo nhu cầu. Tuy nhiên, không phải toàn bộ công suất nguồn điện được huy động như nhau về mặt thời gian mà có phần hoạt động thời gian dài, có phần hoạt động thời gian vừa và có phần hoạt động thời gian ngắn tùy theo quy mô nhu cầu điện biến động tăng giảm theo từng khoảng thời gian trong ngày và từng ngày trong tuần, trong tháng, trong năm.

e/ Nguyên tắc chung huy động các nguồn điện là nguồn điện có giá thành thấp huy động trước, nguồn điện giá thành cao hơn huy động sau cho đến mức đáp ứng đủ nhu cầu. Theo đó, phần nhu cầu tăng cao có giá thành điện càng cao. Vì vậy, càng mua nhiều điện thì giá càng cao, nguyên nhân chủ yếu là do phần nhu cầu điện tăng cao được đáp ứng từ phần sản lượng điện của nguồn điện có giá thành cao.

2/ Đối với vấn ở đề câu hỏi 2. và 4: Tại sao có giá khung giờ cao điểm, khung giờ bình thường và khung giờ thấp điểm? và Mức giá khung giờ cao điểm, khung giờ bình thường và khung giờ thấp điểm được xác định dựa vào căn cứ nào và như thế nào? Vì rằng:

a/ Nhu cầu điện sinh hoạt của các hộ gia đình phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng điện theo giờ trong ngày. Theo đó, quy mô sử dụng điện phân ra 3 khung giờ: Giờ thấp điểm, Giờ bình thường và Giờ cao điểm.

Theo quy định hiện hành: Tổng số giờ bình thường trong tuần là 96 giờ/168 giờ, bằng 57,14%; tổng số giờ cao điểm là 30 giờ/168 giờ, bằng 17,86%; tổng số giờ thấp điểm là 42 giờ/168 giờ, bằng 25,0%. Do chi phí cố định không đổi theo sản lượng điện năng nên chi phí cố định trên 1 kWh có mức thấp nhất trong khung giờ thấp điểm (phần công suất điện huy động phát điện trong khung giờ này hoạt động liên tục), có mức cao hơn trong khung giờ bình thường (phần công suất điện huy động phát điện trong khung giờ này hoạt động chỉ hoạt động 57,14% thời gian, còn lại là ngừng) và có mức cao nhất trong khung giờ cao điểm (phần công suất điện huy động phát điện trong khung giờ này chỉ hoạt động 17,86% thời gian, còn lại là ngừng).

b/ Ngoài ra, do nguyên tắc huy động nguồn điện để phát điện: Nguồn có giá thành thấp huy động trước, phần có giá thành cao huy động sau.

c/ Qua 2 đặc điểm trên đây cho thấy giá thành điện trong khung giờ thấp điểm thấp nhất, trong khung giờ bình thường cao hơn và trong khung giờ cao điểm cao nhất. Đó là căn cứ để xác định mức giá bán lẻ điện tương ứng với 3 khung giờ.

3/ Đối với vấn đề ở câu hỏi 3: Số lượng bậc thang, mức giá và cơ số điện của từng bậc thang trong biểu giá bậc thang được xác định dựa vào những căn cứ nào và như thế nào?

Như trên đã nêu: (i) Các nguồn điện khác nhau có giá thành cao thấp khác nhau; (ii) Nguồn điện giá thành thấp huy động trước, nguồn điện giá thành cao huy động sau; (iii) Nhu cầu đến đâu huy động nguồn điện để phát điện đến đó; (iv) Sản phẩm điện là đồng nhất, không lưu trữ được, sản xuất và tiêu thụ đồng thời.

Những đặc điểm trên làm cho phần sản lượng điện tương ứng với mức nhu cầu thấp thì có giá thành thấp, còn phần sản lượng điện tương ứng với nhu cầu cao thì có giá thành cao hơn. Theo đó:

a/ Số lượng bậc thang và cơ số điện trong mỗi bậc thang trong biểu giá bán lẻ điện bậc thang phụ thuộc vào quy mô sản lượng điện sử dụng bình quân của 1 hộ; phụ thuộc vào mức chênh lệch giữa mức giá thành điện thấp nhất và mức giá thành điện cao nhất. Nguyên tắc chung là quy mô sản lượng điện sử dụng bình quân của mỗi hộ gia đình càng lớn và mức chênh lệch giữa mức giá thành điện thấp nhất và mức giá thành điện cao nhất càng lớn thì số bậc thang càng nhiều hơn, và ngược lại. Tiếp theo, số lượng bậc thang còn phụ thuộc vào cơ số điện và mức giá điện trong mỗi bậc thang như sẽ nêu dưới đây.

b/ Cơ số điện trong mỗi bậc thang phải xác định sao cho vừa phải để một mặt không gây ra quá nhiều bậc thang dẫn đến manh mún, làm phức tạp hóa vấn đề nếu như cơ số nhỏ quá. Ngược lại, nếu cơ số lớn quá dẫn đến số bậc thang quá ít, tuy đơn giản hơn nhưng làm cho khách hàng có cảm giác cứ sử dụng thoải mái còn lâu mới vượt sang bậc thang khác có mức giá cao hơn, như vậy khiến cho khách hàng không dè chừng để sử dụng điện tiết kiệm, là một trong những mục tiêu của biểu giá bán lẻ điện bậc thang.

c/ Mức giá bán điện của từng bậc thang về nguyên tắc phải được xác định đảm bảo cho ngành điện bù đắp được chi phí và có lợi nhuận hợp lý trên cơ sở phù hợp với mức giá thành (hay chi phí biên) của phần sản lượng điện tương ứng với quy mô sản lượng điện gắn với cơ số điện của từng bậc thang, đồng thời đảm bảo có sự chênh lệch hợp lý giữa mức giá của các bậc thang để có tác dụng khuyến khích khách hàng sử dụng điện tiết kiệm.

Phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện phải giải quyết được các vấn đề nêu trên, khi đó không những sẽ có biểu giá bán lẻ điện hợp lý mà còn đảm bảo sự minh bạch thông qua làm rõ các căn cứ xác định biểu giá bán lẻ điện nêu trên. Đây là vấn đề phức tạp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu xây dựng các tiêu chí cụ thể để làm cơ sở xác định hợp lý số lượng bậc thang, cơ số điện và mức giá điện của mỗi bậc thang trong từng thời kỳ.

4/ Đối với câu hỏi 6: Tại sao xây dựng biểu giá điện sinh hoạt 1 giá và liệu chỉ có một biểu giá điện 1 giá duy nhất hay không?

a/ Với biểu giá điện bậc thang thì không có sự lựa chọn cho khách hàng phù hợp với quy mô, đặc điểm và mục đích sử dụng điện của mình mà phải mặc nhiên thực hiện. Theo đó, họ chỉ có thể tìm mọi cách làm thế nào để tránh được giá điện bậc thang cao. Biểu giá này có những bất cập, hạn chế như không phân biệt hộ nhiều người hay ít người; khách hàng không chủ động lường trước quy mô sản lượng điện cần sử dụng trong kỳ (tháng hoặc năm) phù hợp với nhu cầu và trang thiết bị chạy điện; việc xây dựng, quản lý và thực hiện phức tạp hơn.

b/ Biểu giá điện sinh hoạt 1 giá có ưu điểm là đơn giản nhưng nếu chỉ có một biểu giá điện 1 giá độc nhất thì bất hợp lý và có nhiều nhược điểm như không phân biệt quy mô lượng điện sử dụng và mục đích sử dụng điện, không quan tâm đến đối tượng sử dụng, không khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và chính sách giá điện liên quan đến đảm bảo an sinh xã hội, v.v…

c/ Để khắc phục các nhược điểm nêu trên và phù hợp với cơ chế vận hành của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh (với yêu cầu tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng theo nguyên tắc “thuận mua vừa bán” trong mối quan hệ giữa bên mua và bên bán, tạo ra sự cạnh tranh trong mua bán điện và khuyến khích phát triển các nguồn điện có giá thấp, v.v…) thì cần phải tạo ra nhiều “gói” giá điện 1 giá với quy mô sản lượng khác nhau, mục đích sử dụng khác nhau, v.v…

Ví dụ như gói giá điện 1 giá cho quy mô sản lượng thấp (giả dụ 100 kWh/tháng hoặc 1.000 kWh/năm), quy mô sản lượng điện tương đối thấp (giả dụ 200 kWh/tháng hoặc 2.000 kWh/năm), quy mô sản lượng điện vừa (300 kWh/tháng hoặc 3.000 kWh/năm), quy mô sản lượng điện cao (400-500 kWh/tháng hoặc 4-5.000 kWh/năm), quy mô sản lượng điện rất cao và siêu cao (trên 700 – 800 kWh/tháng hoặc 8-9.000 kWh/năm), hoặc gói giá điện 1 giá chỉ sử dụng về đêm, hoặc chỉ sử dụng vào ngày nghỉ cuối tuần, v.v… Theo đó, khách hàng tùy chọn gói giá điện 1 giá phù hợp với quy mô, đặc điểm, mục đích sử dụng điện của mình và cam kết tuân thủ các điều kiện quy định kèm theo gói giá điện 1 giá đó.

5/ Đối với vấn đề ở câu hỏi 7: Tại sao phải phân biệt giá điện theo từng loại khách hàng sử dụng điện? Vì rằng:

a/ Các khách hàng khác nhau có quy mô, đặc điểm, mục đích và hành vi sử dụng điện khác nhau. Ví dụ, khách hàng sinh hoạt thì sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt, mức sử dụng điện hàng ngày biến động theo từng khoảng thời gian trong ngày, có số người trong hộ khác khau, hoàn cảnh kinh tế khác nhau, địa bàn cư trú khác nhau, v.v… Các khách hàng sản xuất, kinh doanh, hành chính, sự nghiệp có các đặc điểm và hành vi sử dụng điện khác nhau như:

(i) Quy mô sản lượng và cấp điện áp sử dụng khác nhau rất lớn.

(ii) Nhu cầu sử dụng điện theo thời gian trong ngày, theo ngày trong tuần, trong tháng có sự khác nhau.

(iii) Mục đích sử dụng điện khác nhau, ví dụ cho sản xuất, cho kinh doanh, hoặc cho hoạt động quản lý hành chính, hoạt động văn hóa, giáo dục, đào tạo, an ninh, quốc phòng, v.v… vì lợi ích công cộng.

Theo đó giá thành điện cung cấp cho các nhóm, loại khách hàng sử dụng cũng cao thấp khác nhau. Ngoài ra, chính sách giá điện cần quan tâm tới mục đích và đối tượng sử dụng điện để có mức giá điện phù hợp với từng mục đích sử dụng, vai trò và đặc điểm của từng nhóm, loại khách hàng trong từng thời kỳ.

6/ Đối với vấn đề ở câu hỏi 8: Tại sao có giá điện 2 thành phần: Phần giá công suất và phần giá điện năng? Vì rằng:

Khi khách hàng đã ký hợp đồng mua điện tuy không sử dụng điện, nhưng ngành điện vẫn phát sinh chi phí liên quan đến khách hàng đó như chi phí nguồn điện (khấu hao, bảo trì, dự phòng), chi phí lưới điện (gồm đường dây và trạm biến áp dẫn điện đến nơi khách hàng sử dụng), chi phí kiểm tra, quản lý khách hàng, v.v… Do đó, việc áp dụng giá điện 2 thành phần: Giá công suất và giá điện năng là đảm bảo công bằng: Ai gây ra phát sinh chi phí thì phải thanh toán bù đắp chi phí, ai gây ra ít thì trả ít, ai gây ra nhiều thì trả nhiều. Như vậy, đảm bảo công bằng cho bên sử dụng điện và bên cung cấp điện. Điều đó cũng khuyến khích bên khách hàng sử dụng điện hợp lý, tiết kiệm, đúng mục đích và bên cung cấp điện tiết kiệm được chi phí và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

KỲ TỚI: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG GIÁ BÁN LẺ ĐIỆN SINH HOẠT, CÓ VÍ DỤ TÍNH TOÁN MINH HỌA

[*] TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM; ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC HÀ NỘI

Đề xuất phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ ​điện sinh hoạt của Việt Nam [Kỳ 2]

07:04 |07/09/2020 nangluong vn

 –  Trong kỳ này, chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam đề xuất phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt với một số tính toán minh họa về phân định biểu giá, trên cơ sở số liệu thực tế năm 2019 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN. (Do vấn đề quá phức tạp, nên trong phạm vi bài này chỉ đề cập đến phương pháp xác định biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang, không đề cập giá 2 thành phần, biểu giá điện 1 giá).  


Đề xuất phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt của Việt Nam [Kỳ 1]

KỲ 2: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG GIÁ BÁN LẺ ĐIỆN SINH HOẠT (CÓ VÍ DỤ TÍNH TOÁN MINH HỌA)


PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM [*]


I. Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt

a. Yêu cầu:

– Đơn giản, dễ hiểu, minh bạch, rõ ràng, dễ thực hiện.

– Phù hợp với tình hình ngành điện, thị trường điện và tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

– Tách chính sách xã hội ra khỏi giá điện (như đã đề ra tại Quyết định 28/2014/QĐ-TTg). Theo đó, quy định hộ nghèo, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt, mức hỗ trợ hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Giả sử mức hỗ trợ đó còn thấp thì có thể xem xét tăng lên (ví dụ 50 kWh/tháng).

b. Nguyên tắc:

– Đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi ở mức hợp lý cho ngành điện và các nhà đầu tư để không ngừng phát triển nguồn điện và lưới điện đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng.

– Đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng.

– Phù hợp với quy luật khan hiếm của các nguồn tài nguyên năng lượng. Theo đó, nhu cầu điện càng tăng thì phải huy động các nguồn tài nguyên năng lượng có điều kiện khai thác khó khăn hơn cho phát điện và do vậy giá thành các nguồn điện mới ngày càng cao hơn.

Trong bối cảnh hiện nay, biểu giá điện bậc thang là hợp lý nhất đáp ứng các nguyên tắc nêu trên và phù hợp với đặc điểm của sản xuất, kinh doanh điện, thị trường điện và các khách hàng sử dụng điện sinh hoạt.

c. Các tiêu chí về biểu giá bán lẻ điện bậc thang:

(i) Tổng sản lượng điện sử dụng của các hộ trong từng bậc thang không được vượt quá sản lượng điện tương ứng với từng mức chi phí biên đã định: Mức cao nhất không quá 50% và thấp nhất không dưới 10% tổng sản lượng điện sinh hoạt trong năm tùy theo từng thời kỳ.

(ii) Cơ số điện trong mỗi bậc thang lấy tròn số và quy mô phù hợp với từng thời kỳ.

(iii) Có tác dụng khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm.

(iv) Không quá phức tạp. Ví dụ: không quá nhiều bậc thang.

(v) Phù hợp với chính sách có liên quan của Nhà nước về sử dụng điện.

II. Các số liệu cơ sở làm căn cứ xác định biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt

Bao gồm các số liệu chính sau đây của kỳ xác định giá bán lẻ điện:

1/ Quy mô tổng sản lượng điện thương phẩm, giá thành (giá mua) và sản lượng của từng nguồn điện đang và dự kiến sẽ huy động cho phát điện trong kỳ. Qua đó, có thể xác định các mức sản lượng biên và chi phí biên của từng mức sản lượng biên tương ứng với từng mức sản lượng điện dự tính sử dụng trong từng bậc thang đã định.

2/ Lợi nhuận định mức theo quy định để tính giá bán lẻ điện sinh hoạt.

3/ Sản lượng điện thương phẩm dự kiến sử dụng cho sinh hoạt trong kỳ và tỷ lệ % trên tổng sản lượng điện thương phẩm trong kỳ.

4/ Tổng số hộ sử dụng điện sinh hoạt, trong đó phân ra số hộ theo các mức sử dụng và bình quân lượng điện sử dụng trên 1 hộ trong khung:

– Số hộ sử dụng từ 1- 100 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 101 đến 200 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 201 đến 300 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 301 đến 400 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 501 đến 600 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 601 đến 700 kWh/tháng.

– Số hộ sử dụng từ 701 đến 800 kWh/tháng, và v.v…

III. Trình tự, nội dung các bước và phương pháp xây dựng biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt

Bước 1: Xác lập số bậc thang:

Căn cứ vào: (1) Tổng số hộ sử dụng điện sinh hoạt; (2) Quy mô lượng điện sử dụng bình quân hàng tháng của các hộ và mức sản lượng điện sử dụng theo các khung đã định.

Vì rằng, thu nhập của người dân đã được nâng cao đáng kể so với trước, theo đó quy mô lượng điện sử dụng của các hộ gia đình cũng tăng lên. Ví dụ, năm 2019 so với năm 2014 GDP bình quân đầu người đã tăng từ 2052 lên 2715 USD, cao hơn 1,3 lần, số hộ sử dụng lượng điện dưới 50 kWh/tháng là rất ít, chỉ chiếm 1,88% tổng số hộ và lượng điện sử dụng bình quân trên 1 hộ/tháng là 186 kWh, cao gấp gần 4 lần lượng điện bình quân của các hộ sử dụng dưới 50 kWh/tháng. Do đó, các khung sản lượng điện sử dụng được mặc định cho giai đoạn hiện nay như sau: Từ 1 – 100 kWh; Từ 101 – 200 kWh; Từ 201 – 300 kWh; Từ 301 – 400 kWh; Từ 401 – 500 kWh; Từ 501 – 600 kWh; Từ 601 – 700 kWh; v.v…

Trên cơ sở số lượng hộ sử dụng điện trong từng khung, xác định tổng sản lượng điện dự kiến sử dụng trong thực tế trong từng khung nêu trên. Tính toán tỷ trọng (%) sản lượng điện sử dụng trong từng khung trên tổng sản lượng điện sinh hoat. Theo đó, nếu đến khung nào đó mà có tỷ trọng (%) thấp hơn mức quy định (ví dụ quy định 10%, thì dừng lại ở khung đó và số bậc thang sẽ tính từ khung đầu tiên đến khung trước tiên có tỷ trọng sản lượng điện thực tế sử dụng nhỏ hơn 10% tổng sản lượng điện sinh hoạt).

Ví dụ tính toán minh họa: Lấy số liệu thực tế năm 2019 để áp dụng tính toán (các số liệu dưới đây lấy theo báo cáo của EVN, hoặc tính toán từ số liệu của EVN), để sát với thực tế hiện nay và có thể so sánh với biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt trong Quyết định 648/2019/QĐ-BCT ngày 20/3/2019. Trên thực tế, phải lấy bộ số liệu dự tính của kỳ đã định để xác định giá bán lẻ điện.

– Tổng số hộ sử dụng điện sinh hoạt: 26.629.205 hộ và tổng sản lượng điện sinh hoạt là 59.322.837.605 kWh, chiếm 28,28% tổng sản lượng điện thương phẩm, lượng điện sử dụng bình quân 1 hộ/tháng là 186 kWh. Căn cứ vào sản lượng điện sử dụng sinh hoạt của các hộ trong các khung đã định.

– Từ các khung trên 300 kWh sản lượng điện sinh hoạt thực tế sử dụng đều có tỷ trọng nhỏ hơn 10%. Khung từ 1-:-100 kWh có sản lượng lớn nhất là do tất cả các hộ đều có phần dùng điện trong khung này, số bậc thang sẽ là 4 bậc.

– Trong trường hợp quy định tỷ trọng sản lượng của các khung không thấp hơn 8%, thì gộp khung từ 301-400 kWh với khung từ 401-500 kWh sẽ có khung từ 301-500 kWh với sản lượng điện là 5.383.286.292 kWh, chiếm 9,08%; và khung từ 501 kWh trở lên với sản lượng là 5.407.487.375 kWh, chiếm 9,12%, số bậc thang sẽ là 5 bậc.

Biểu giá 4 bậc thangBiểu giá 5 bậc thangKhung sử dụng, kWh/thángĐiện sử dụng, kWh/thángTỷ lệ trong tổng điện sinh hoạt, %
Bậc 1Bậc 11-:-10027.151.391.70045,77
Bậc 2Bậc 2101-:-20014.757.691.32424,88
Bậc 3Bậc 3201-:-3006.622.980.81411,16
Bậc 4Bậc 4301-:-4003.410.703.1085,75
401-:-5001.972.583.2843,33
Bậc 5> 5005.407.487.3759,12


Dưới đây chỉ tính toán minh họa cho trường hợp 4 bậc thang.

Bước 2: Xác lập cơ số điện và mức giá của từng bậc thang:

1/ Xác định cơ số điện của từng bậc thang:

Từ kết quả Bước 1 trên đây ta có thể xác định cơ số điện của từng bậc thang là: Bậc 1: 100 kWh (từ 1-100 kWh); Bậc 2: 100 kWh (từ 101-200 kWh); Bậc 3: 100 kWh (từ 201-300 kWh); Bậc 4: từ 1 kWh trở lên (từ kWh 301 trở lên).

Tiếp theo, căn cứ vào số bậc thang đã xác định trên đây, tính toán sản lượng điện trong từng bậc thang và tỷ trọng của chúng từ bậc 1 đến bậc cuối cùng đã định.

Ví dụ tinh toán minh họa: Lấy số liệu thực tế năm 2019 để áp dụng tính toán (các số liệu dưới đây tính toán từ số liệu của EVN).

Sản lượng điện trong từng bậc thang và tỷ trọng của chúng như bảng trên là: Bậc 1 chiếm 45,77% tổng sản lượng điện sinh hoạt; Bậc 2 chiếm 24,88%; Bậc 3chiếm 11,16%; Bậc 4: chiếm 18,19%.

2/ Xác định mức giá điện của từng bậc thang:

b.1- Xác định giá thành điện của các phần sản lượng điện trong từng bậc thang:

Ta biết rằng, các nguồn điện huy động phát điện có giá thành cao thấp khác nhau. Nguyên tắc chung huy động nguồn điện là nguồn điện có giá thành thấp huy động trước, nguồn điện có giá thành cao hơn huy động sau. Nhu cầu đến đâu huy động đến đó. Trên thực tế, có thể có các trường hợp cá biệt do các mục tiêu kinh tế – xã hội – môi trường theo quy định của Nhà nước nên một số nguồn điện tuy có giá thành cao nhưng vẫn được huy động trước và coi đó như trường hợp ngoại lệ. Trong phạm vi bài này để đơn giản hóa vấn đề không đề cập đến các ngoại lệ này.

Trước hết, căn cứ vào danh mục các nguồn điện huy động, công suất, sản lượng và giá thành bình quân 1 kWh của từng nguồn điện ta lần lượt huy động từng nguồn điện có giá thành từ thấp đến cao. Theo đó, phân ra 4 nhóm (tương đương với số bậc thang), theo tỷ lệ trong tổng điện sinh hoạt; mỗi nhóm có mức giá thành cung cấp điện từ zi đến zj (đ/kWh), trong đó mức z7 đến z8 là mức có giá thành cao nhất; và có giá thành bình quân của mỗi nhóm (bậc) từ Z1 đến Z4.

Từ đó ta có ví dụ sau:

Ví dụ tinh toán minh họa: Lấy số liệu thực tế năm 2019 để áp dụng tính toán (các số liệu dưới đây lấy từ Báo cáo tổng kết năm 2019 của EVN hoặc được tính toán từ số liệu trong Báo cáo tổng kết năm 2019 của EVN):

Tổng sản lượng điện thương phẩm: 209.767.929.539 kWh.

Tổng doanh thu bán điện: 387.675 tỷ đồng.

Giá bán lẻ điện bình quân: 1.848,20 đ/kWh (doanh thu/sản lượng điện thương phẩm).

Lợi nhuận 950 tỷ đồng (của Công ty mẹ EVN), bằng 0,2451% giá thành.

Tổng giá thành điện thương phẩm 386.725 tỷ đồng (tổng doanh thu – lợi nhuận).

Giá thành toàn bộ bình quân của điện thương phẩm: 1.843,58 đ/kWh (bao gồm lợi nhuận của các công ty con và các đơn vị bán điện ngoài EVN). (Tổng giá thành/sản lượng điện thương phẩm).

Ước tính giá thành của từng khâu và của từng nhóm nguồn điện (vì không thể tiếp cận giá thành của từng khâu và của từng nguồn điện năm 2019, hơn nữa mục đích chỉ là minh họa, cho nên các số liệu sau đây chỉ suy tính trên cơ sở mô phỏng theo tỷ trọng giá thành của từng khâu trên giá thành điện thương phẩm của năm 2016 và mô phỏng theo cơ cấu sản lượng và giá thành bình quân (chi phí giao nhận và mua) của các nhóm nguồn điện năm 2016):

– Giá thành điện khâu sản xuất và nhập khẩu bình quân: 76,29%, bằng 1.406,47 đ/kWh.

Mô tả các giả thiết nêu trên và giá thành sản xuất điện bình quân theo nhóm được cho trong bảng sau:

Tỷ trọng trong tổng điện sinh hoạt,%Giá thành từ zi-zj, đ/kWhGiá thành bình quân Z của từng nhóm, đ/kWh
Nhóm 1 (bậc 1)45,77z1-z2Z1 = 1.034,47
Nhóm 2 (bậc 2)24,88z3-z4Z2 = 1.537,73
Nhóm 3 (bậc 3)11,16z5-z6Z3 = 1.721,27
Nhóm 4 (bậc 4)18,19z7-z8Z4 = 1.967,30


Giá thành các khâu còn lại:

– Giá thành khâu truyền tải điện: 6,08%, bằng 112,09 đ/kWh.

– Giá thành khâu phân phối: 17,24%, bằng 317,83 đ/kWh.

– Giá thành khâu quản lý ngành và phụ trợ: 0,41%, bằng 7,56 đ/kWh.

– Lợi nhuận định mức: 0,2451 % giá thành.

b.2- Xác định giá điện của các phần sản lượng điện trong từng bậc thang:

Giá bán điện từng bậc thang (Gi) = Giá thành điện của từng bậc thang (Zi) + Giá thành khâu truyền tải + Giá thành khâu phân phối + Giá thành khâu quản lý ngành và phụ trợ + Lợi nhuận định mức theo quy định.

Ví dụ tinh toán minh họa:

Từ kết quả tính toán giá thành của từng khâu và từng nhóm nguồn điện trên đây và áp dụng công thức xác định giá bán lẻ điện của từng bậc thang, ta được kết quả tính toán giá bán lẻ điện của từng bậc thang (Gi) như sau:

G1=1.475,56 đ/kWh; G2 = 1.980,05 đ/kWh; G3 = 2.164,04 đ/kWh; G4 = 2.410,67 đ/kWh.

Giá bán lẻ điện của từng bậc thang trên đây được xác định trên cơ sở giá bán lẻ điện sinh hoạt bình quân lấy bằng giá bán lẻ điện bình quân toàn bộ điện thương phẩm. Nếu quy định giá bán lẻ điện sinh hoạt bình quân cao hơn 8% so với giá bán lẻ điện bình quân toàn bộ (như trong biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt tại Quyết định 648/2019/QĐ-BCT), thì giá bán điện của từng bậc thang sẽ là (tuy nhiên khi đó làm rõ lý do tại sao giá điện sinh hoạt cao hơn 8%):

Giá bán lẻ điện sinh hoạt bình quân: 1.996,06 đ/kWh.

G1=1.593,60 đ/kWh; G2 = 2.138,45 đ/kWh; G3 = 2.337,16 đ/kWh; G4 = 2.603,52 đ/kWh.

Tổng hợp kết quả xác định biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt 4 bậc thang:

Trường hợp giá bán lẻ điện sinh hoạt b/q bằng giá bán lẻ điện bình quân (1.848,20 đ/kW)Trường hợp giá bán lẻ điện sinh hoạt b/q bằng 1,08 giá bán lẻ điện b/q (1.996,05 đ/kWh)
Bậc thangCơ số điệnGiá bán điện, đ/kWhBậc thangCơ số điệnGiá bán điện, đ/kWh
Bậc 1Cho kWh từ 1 – 1001.475,56Bậc 1Cho kWh từ 1 – 1001.593,60
Bậc 2Cho kWh từ 101 – 2001.980,05Bậc 2Cho kWh từ 101 – 2002.138,45
Bậc 3Cho kWh từ 201 – 3002.164,04Bậc 3Cho kWh từ 201 – 3002.337,16
Bậc 4Cho kWh từ 301 trở lên2.410,67Bậc 4Cho kWh từ 301 trở lên2.603,52


Với phương pháp tính toán tương tự như trên thì kết quả biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt 5 bậc thang sẽ là:

Trường hợp giá bán lẻ điện sinh hoạt b/q bằng giá bán lẻ điện bình quân (1.848,20 đ/kW)Trường hợp giá bán lẻ điện sinh hoạt b/q bằng 1,08 giá bán lẻ điện b/q (1.996,05 đ/kWh)
Bậc thangCơ số điệnGiá bán điện, đ/kWhBậc thangCơ số điệnGiá bán điện, đ/kWh
Bậc 1Cho kWh từ 1 – 1001.475,56Bậc 1Cho kWh từ 1 – 1001.593,60
Bậc 2Cho kWh từ 101 – 2001.980,05Bậc 2Cho kWh từ 101 – 2002.138,45
Bậc 3Cho kWh từ 201 – 3002.164,04Bậc 3Cho kWh từ 201 – 3002.337,16
Bậc 4Cho kWh từ 301 – 5002.310,67Bậc 4Cho kWh từ 301 – 5002.495,52
Bậc 5Cho kWh từ 501 trở lên2.510,34Bậc 5Cho kWh từ 501 trở lên2.711,17


Bước 3: Phân tích đánh giá sự phù hợp của cơ số điện và mức giá trong từng bậc thang:

1/ Các căn cứ để đánh giá.

Phân tích đánh giá sự phù hợp của cơ số điện và mức giá trong từng bậc thang theo yêu cầu, nguyên tắc và tiêu chí đã đề ra.

2/ Thực hiện đánh giá và kết quả.

3/ Kết luận.

KỲ TỚI: MINH HỌA LUẬN GIẢI VỀ KẾT QUẢ TÍNH TOÁN VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT THAY CHO LỜI KẾT

[*] TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM; ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC HÀ NỘI

Luận bàn về giá bán lẻ điện [Kỳ cuối]: Phản biện về các phương án

11:53 |17/08/2020 nangluongvn

 –  Trên tinh thần “cầu thị, sẵn sàng lắng nghe mọi ý kiến về dự thảo biểu giá điện mới” của Ban soạn thảo của Bộ Công Thương khi gửi văn bản lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, chuyên gia, người dân về Dự thảo cơ cấu biểu giá bán lẻ điện; Căn cứ vào các đặc điểm của sản phẩm điện, của các khách hàng sử dụng điện và đặc điểm, yêu cầu của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh đã nêu trong [Kỳ 1], chuyên gia Tạp chí Năng lượng Việt Nam xin đóng góp vài ý kiến gửi tới cơ quan soạn thảo dưới đây. Rất mong nhận được ý kiến chia sẻ của các chuyên gia, nhà quản lý và bạn đọc. 


Luận bàn về giá bán lẻ điện [Kỳ 1]: Nguyên tắc, căn cứ xác định giá


KỲ CUỐI: Ý KIẾN PHẢN BIỆN VỀ DỰ THẢO CÁC PHƯƠNG ÁN GIÁ BÁN LẺ ĐIỆN


I. Tóm lược dự thảo của Bộ Công Thương:

Cơ cấu biểu giá bán lẻ điện tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được Bộ Công Thương đề xuất các phương án sửa đổi để lấy ý kiến như sau:

1/ Đối với khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt: Đề xuất 2 phương án:

Phương án 1: Cơ cấu biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt 5 bậc. Trong đó:

– Ghép bậc 1 và bậc 2 hiện hành thành bậc 1 mới (từ 0-100 kWh), giá bậc 1 mới được giữ nguyên bằng bậc 1 hiện hành.

– Giữ nguyên giá cho các hộ có mức sử dụng điện phổ biến từ 101-200 kWh.

– Ghép các bậc từ 201-300 kWh với 301-400 kWh thành bậc mới.

– Tách bậc thang trên 401 kWh thành 2 bậc mới: 401-700 kWh và trên 700 kWh.

Phương án 2: Có 2 trường hợp:

A. Cơ cấu biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt 5 bậc như trên và giá bán lẻ điện một giá: Khách hàng sử dụng điện được quyền lựa chọn áp dụng giá sinh hoạt 5 bậc, hoặc giá bán lẻ điện một giá. Trong đó, giá 4 bậc đầu tiên của biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt 5 bậc tại Phương án 1 được giữ nguyên để không tác động đến các hộ sử dụng ở mức dưới 700 kWh là các khách hàng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình. Giá điện ở bậc 5 – bậc cao nhất là 5.100 đồng/kWh. Còn giá điện một giá áp dụng ở trường hợp này là 2.703 đồng/kWh.

B. Có sự khác biệt với A là ở bậc 5. Bậc 5 của trường hợp này có mức giá thấp hơn nhiều so với A, chỉ là 3.499,2 đồng/kWh (thấp hơn 1609,36 đ/kWh). Giá điện một giá áp dụng ở trường hợp này là 2.889 đồng/kWh (cao hơn A 186,0 đ/kWh).

2/ Đối với Khách hàng sử dụng điện cho mục đích ngoài sinh hoạt:

Đề xuất 2 phương án:

Phương án 1: Khách hàng sử dụng điện ngoài sinh hoạt bao gồm 3 nhóm: Sản xuất, hành chính sự nghiệp và kinh doanh. Trong đó nhóm sản xuất đã bao gồm cơ sở lưu trú du lịch, doanh nghiệp dịch vụ logistics.

Phương án 2: Gộp các nhóm sản xuất, hành chính sự nghiệp và kinh doanh thành 1 nhóm là khách hàng sử dụng điện ngoài sinh hoạt.

Các phương án sửa đổi nêu trên nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại chính hiện nay của biểu giá điện, theo hướng phù hợp hơn với thực tế sử dụng điện của các khách hàng sử dụng điện hiện nay.

II. Ý kiến phản biện:

Ý kiến chung:

Dự thảo có sự thay đổi chủ yếu là: (i) Biểu giá điện bậc thang của khách hàng sinh hoạt giảm số bậc thang từ 6 bậc xuống 5 bậc, theo đó điều chỉnh lại cơ số điện trong từng bậc; (ii) Đối với khách hàng sinh hoạt thêm biểu giá điện 1 giá, theo đó khách hàng có thể lựa chọn biểu giá điện bậc thang, hoặc biểu giá điện một giá tùy theo biểu giá nào có lợi hơn đối với họ; (iii) Hợp nhất các loại khách hàng ngoài sinh hoạt thành 1 loại.

Nói chung, dự thảo đã có thêm 1 sự lựa chọn mới cho khách hàng sinh hoạt: Đó là Giá điện 1 giá, là một trong những yêu cầu của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh: Tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn cho khách hàng và với tinh thần “thuận mua vừa bán”, đồng thời theo đó tạo ra sự cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh điện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng cung cấp điện và sử dụng điện tiết kiệm.

Tuy nhiên, Dự thảo không nêu các căn cứ cụ thể làm cơ sở để sửa đổi và đề xuất phương án cho nên rất khó để nhận xét, đánh giá sự “phù hợp hơn với thực tế sử dụng điện của các khách hàng sử dụng điện hiện nay” cụ thể là như thế nào. Dự thảo cũng không nêu rõ với phương án đề xuất mới khắc phục được những bất cập nào trong biểu giá điện hiện nay, cũng như trong việc thực hiện chúng.

Một trong những bất cập lớn nhất là vẫn không đưa vào áp dụng giá điện hai thành phần gồm giá công suất và giá điện năng. Mặc dù giá bán lẻ điện 2 thành phần là công bằng hơn, có ý nghĩa đối với các hộ sử dụng điện và bên cung cấp điện, góp phần sử dụng điện tiết kiệm. Trên thế giới đã được nhiều nước áp dụng.

Đặc biệt, theo Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện, đã đề ra nhiệm vụ “Nghiên cứu xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt” cơ chế giá bán lẻ điện hai thành phần gồm giá công suất và giá điện năng cho các nhóm khách hàng khi điều kiện kỹ thuật cho phép. Cần phải nêu rõ lý do việc chưa triển khai thực hiện.

Thiết nghĩ, với thời gian đã 7 năm kể từ khi ban hành Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg, hơn nữa vấn đề không phải là quá phức tạp, trong khi lại có ý nghĩa rất lớn, cho nên dù bất kỳ lý do gì cũng nên nỗ lực triển khai thực hiện.

Một bất cập nữa là giá điện 1 giá chỉ có 1 “gói” duy nhất cho tất cả các loại khách hàng. Điều đó không những không phù hợp với quy mô sử dụng điện của từng hộ: Hộ sử dụng nhiều, hộ sử dụng ít, hộ sử dụng vừa mà còn không phù hợp với tinh thần của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh là tạo ra nhiều sự lựa chọn cho khách hàng trên cơ sở “nhiều người bán, vạn người mua” để tạo ra sự cạnh tranh trong việc cung cấp điện trên thị trường.

Bất cập tiếp theo là các thông tin cần thiết đã chưa được đưa ra như sau đây, để mọi người có thể kiểm tra, giám sát và phân tích, đánh giá phương án giá điện đề xuất:

Thứ nhất: Giá thành điện và nội dung chi phí của giá thành điện để làm cơ sở xác định giá bán lẻ điện, cũng như xác định các biểu giá điện thành phần (như sẽ nêu dưới đây). Chẳng hạn, về nội dung chi phí bao gồm: Chi phí sản xuất điện, Chi phí truyền tải điện, Chi phí phân phối điện, Chi phí tổn thất điện năng (trong khâu truyền tải và phân phối), Chi phí quản lý ngành và phụ trợ (hay gọi là Chi phí quản lý chung), Các khoản thuế, phí.

Thứ hai: Chi phí biên của các nguồn điện được huy động vào phát điện. Ví dụ như năm 2016 chi phí biên của từng phần sản lượng như sau:

(i) Các nguồn điện với mức chi phí giao nhận và giá mua từ 1.000 đ/kWh trở xuống có tổng sản lượng là 42.074,26 triệu kWh (chiếm 24,3%) và mức chi phí bình quân là 639,6 đ/kWh.

(ii) Các nguồn điện với mức chi phí giao nhận và giá mua từ trên 1.000 đ/kWh đến 1.250 đ/kWh có tổng sản lượng là 55.962,28 triệu kWh (chiếm 32,3%) và mức chi phí bình quân là 1.116,8 đ/kWh.

(iii) Các nguồn điện với mức chi phí giao nhận và giá mua từ trên 1.250 đ/kWh đến 1.500 đ/kWh có tổng sản lượng là 52.864,01 triệu kWh (chiếm 30,6%) và mức chi phí bình quân là 1.393,7 đ/kWh; Các nguồn điện với mức chi phí giao nhận và giá mua trên 1.500 đ/kWh có tổng sản lượng là 22.185,68 triệu kWh (chiếm 12,8%) và mức chi phí bình quân là 1.801,0 đ/kWh.

Theo phân khúc mức chi phí giao nhận và giá mua nêu trên ta có 4 sản lượng biên và 4 mức chi phí biên tương ứng với chi phí bình quân tuần tự là (đ/kWh): 639,6; 1.116,8; 1.393,7; 1.801,0.

Theo đó, về nguyên tắc, mức giá bán lẻ của từng phần sản lượng điện biên sẽ bằng: Chi phí biên khâu phát điện + Giá thành khâu truyền tải + Giá thành khâu phân phối + Giá thành khâu quản lý ngành và phụ trợ + Lợi nhuận định mức theo quy định.

Ví dụ của giá bán lẻ của phần sản lượng biên cuối cùng bằng: 1.801,0 đ/kWh + Giá thành khâu truyền tải + Giá thành khâu phân phối + Giá thành khâu quản lý ngành và phụ trợ + Lợi nhuận định mức, và đó là mức giá cao nhất (coi như các thành phần giá thành khác như nhau cho cả 4 phần sản lượng biên). Vậy, chi phí biên của từng nguồn điện hiện nay thế nào? Và liệu có được lấy làm một trong những căn cứ để xác định các mức giá điện hay không?

Từ năm 2021 thị trường điện bán lẻ điện cạnh tranh theo dự kiến sẽ đi vào hoạt động (thực tế có thể chậm hơn), song Dự thảo cần thiết nêu ra các yêu cầu đối với giá bán lẻ điện cần phải đáp ứng để có thể vận hành phù hợp với thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, và cũng cần nêu các phương án đề xuất đã đáp ứng như thế nào khi áp dụng vào thị trường bán lẻ điện cạnh tranh sắp tới. Do vậy, để dự thảo biểu giá bán lẻ điện đi vào cuộc sống của thị trường bán lẻ điện cạnh tranh, cần chú ý xem xét giải quyết vấn đề này.

Ví dụ, cần tạo ra nhiều biểu giá điện để có nhiều lựa chọn cho khách hàng, nhất là lựa chọn nhà cung cấp điện có giá thấp, đảm bảo chất lượng và khuyến khích cạnh tranh phát điện giá thấp, theo đó biểu giá điện phải rạch ròi các khoản một cách minh bạch: Giá cung cấp điện, giá kết nối hệ thống phân phối và giá phân phối điện. Hoặc xây dựng nhiều biểu giá điện phù hợp với các trường hợp sử dụng điện khác nhau để khách hàng lựa chọn biểu giá phù hợp với mục đích, đặc điểm sử dụng điện của mình. Chẳng hạn, biểu giá cho trường hợp tiêu thụ ít điện, dùng cho chiếu sáng và các thiết bị sinh hoạt thông thường; biểu giá cho trường hợp tiêu thụ nhiều điện, dùng cho chiếu sáng và các thiết bị sinh hoạt thông thường công suất lớn; biểu giá cho trường hợp sử dụng các thiết bị điện tiêu thụ điện nhiều hơn về đêm; biểu giá cho trường hợp các nhà nghỉ của gia đình chỉ tiêu thụ điện vào ngày nghỉ cuối tuần, v.v…

Sau đây là một số ý kiến cụ thể:

Thứ nhất: Về các phương án đối với khách hàng sử dụng điện cho mục đích sinh hoạt:

1/ Về biểu giá điện bậc thang 5 bậc:

Ta biết rằng, vấn đề cốt yếu trong việc xác định giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc thang là xác định số lượng bậc thang, cơ số điện và giá điện của từng bậc thang có căn cứ hợp lý, đảm bảo công bằng, phù hợp với giá thành điện và đáp ứng nhu cầu điện theo khả năng chi trả của các hộ sử dụng điện, cũng như có tác dụng khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm.

Việc đề xuất biểu giá 5 bậc thang có một số vấn đề sau:

Cũng như trước đây, với biểu giá 6 bậc và nay đề xuất 5 bậc, nhưng cần nêu rõ căn cứ nào để xác định tại sao 6 bậc và tại sao 5 bậc. Về mặt tư duy, việc giảm từ 6 bậc thang trước đây xuống còn 5 bậc có sự “ngược” là: Trước đây với quy mô 400 kWh chia thành 5 bậc thang với cơ số điện trong từng bậc chỉ từ 50 đến 100 kWh, nay với quy mô 700 kWh lại chia làm 4 bậc với cơ số điện lớn gấp đôi trong 3 bậc: 1, 2 (từ 50 lên 100 kWh), bậc 3 (từ 100 lên 200 kWh) và gấp 3 lần trong bậc 4 (từ 100 lên 300 kWh).

Ta biết rằng, một trong những mục đích của biểu giá điện bậc thang là khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm. Để đạt được điều đó, ngoài mức giá điện của từng bậc, cơ số điện trong mỗi bậc phải xác định sao cho vừa để luôn dè chừng khách hàng chú ý sử dụng điện không vượt quá sang bậc khác có giá cao hơn. Nếu xác định cơ số điện quá lớn thì tạo cho khách hàng cảm giác cứ sử dụng thoải mái đi, vì còn lâu mới vượt lên bậc thang trên.

Theo tư duy đó, lẽ ra quy mô lượng điện tiêu dùng của 1 hộ càng nhỏ thì phải chia ra ít bậc, quy mô càng lớn thì phải chia ra nhiều bậc. Việc giảm số bậc thang trong biểu giá từ 6 bậc xuống còn 5 bậc cần đi theo tư duy “thuận”.

Tỷ trọng cơ số điện trong 4 bậc đầu (700 kWh) là bậc 1: 14,29%; bậc 2: 14,29%; bậc 3: 28,58%; bậc 4: 42,86%. Liệu trong thực tế sản lượng điện tiêu dùng của các khách hàng trong từng bậc thang từ 1 đến 4 có chiếm tỷ trọng tương đương trên tổng sản lượng điện của tất cả khách hàng trong 4 bậc thang đầu hay không để đảm bảo giá bình quân của cả 4 bậc trong biểu giá sát với giá bình quân trong thực tế nhằm để cho ngành điện không bị thâm hụt, hoặc quá hời.

Tiếp theo, mức giá điện của từng bậc thang được xác định là (đ/kWh): Bậc 1: 1.677,99; bậc 2: 2.013,55; bậc 3: 2.628,86; bậc 4: 2.983,1; bậc 5: 5.108,56; chênh lệch giữa các mức như sau (đ/kWh): Bậc 2 so với bậc 1: 335,56; bậc 3 so với bậc 2: 613,31 (cao hơn chênh lệch giữa bậc 2 và 1: 1,83 lần); bậc 4 và bậc 3: 354,24 (chỉ bằng 0,58 lần chênh lệch giữa bậc 3 và 2); bậc 5 và bậc 4: 2.125,46 (cao hơn chênh lệch giữa bậc 4 và 3 đến 6 lần).

Giá của 4 bậc thang đầu, về cơ bản dựa vào giá của 5 bậc thang đầu trong Biểu giá bán lẻ điện theo Quyết định số 648/2019/QĐ-BCT. Tuy nhiên, có vấn đề là giá bán lẻ điện bình quân hiện hành còn hiệu lực theo Quyết định số 648/2019/QĐ-BCT là 1864,44 đ/kWh. Như vậy, so với giá bán lẻ điện bình quân này thì chỉ có giá bậc thang 1 thấp hơn 186,45 đ/kWh (tương ứng 10%), còn giá của tất cả các bậc thang còn lại cao hơn, thậm chí cao hơn rất nhiều. Trong khi cơ số điện bậc 1 chỉ 100 kWh, còn lại các bậc thang khác 2, 3, 4 là 100, 200 và 300 kWh, chưa kể cơ số của bậc 5.

Chắc chắn rằng, giá điện bình quân của toàn bộ biểu giá mới sẽ cao gấp bội lần giá bán lẻ điện bình quân hiện hành 1864,44 đ/kWh, vì chỉ cần bậc 1 và 2 đã đảm bảo xấp xỉ mức giá bình quân này rồi. Suy ra, biểu giá điện sinh hoạt mới này có sự bù chéo cho lĩnh vực sử dụng điện nhất định nào đó.

Có ý kiến nói rằng, mức giá điện của bậc thang 1 xác định thấp hơn giá bình quân là để “hỗ trợ” hộ gia đình có thu nhập thấp, hộ chính sách, v.v… Điều đó là không đúng cho các hộ này. Vì với phần nhu cầu thấp thì không những họ mà cả các hộ khác đều được mua và được quyền hưởng mức giá điện thấp tương ứng với chi phí biên thấp của phần sản lượng điện có giá thành thấp như đã minh họa cho năm 2016 trên đây.

Chẳng hạn, giả dụ có 25 triệu khách hàng với cơ số điện bậc 1 là 100 kWh thì mỗi tháng tiêu thụ 2,5 tỷ kWh và cả năm là 30 tỷ kWh thuộc bậc 1, mức sản lượng đó vẫn nằm trong giới hạn phần sản lượng 42 tỷ (chiếm 24,3%) có mức giá thành bình quân thấp nhất (639,6 đ/kWh) của năm 2016 nêu trên.

Hơn nữa, Nhà nước đã có quy định tách chính sách xã hội ra khỏi giá điện. Theo đó tại Quyết định 28/2014/QĐ-TTg đã quy định hộ nghèo, hộ chính sách xã hội được hỗ trợ tiền điện cho mục đích sinh hoạt, mức hỗ trợ hàng tháng tương đương tiền điện sử dụng 30 kWh tính theo mức giá bán lẻ điện sinh hoạt bậc 1 hiện hành. Kinh phí hỗ trợ tiền điện cho các hộ nghèo và hộ chính sách xã hội được trích từ nguồn ngân sách Nhà nước.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Các mức giá đó được xác định theo nguyên tắc và căn cứ nào? Có phù hợp với nguyên tắc huy động nguồn điện theo nhu cầu và theo giá thành của chúng hay không: Nhu cầu càng cao thì phải huy động nguồn điện có giá thành cao, tức chi phí biên của các nguồn điện huy động thêm cao hơn? Liệu có nguồn điện nào có giá thành 5.100 đ/kWh chưa? Cần minh chứng bằng số liệu cụ thể. Điều này cũng cần phải làm sáng tỏ để vừa đảm bảo tính công khai, minh bạch trong huy động nguồn điện theo cơ chế thị trường, vừa thúc đẩy sự cạnh tranh phát triển nguồn điện giá thấp.

Theo chúng tôi, không rõ cái gọi là mức giá điện trong các bậc thang đầu không tác động đến “các khách hàng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình” nghĩa là thế nào và được thực hiện như thế nào? Có phải các mức giá đó được xác lập căn cứ vào chi phí biên của phần sản lượng điện tương ứng với cơ số điện trong các bậc thang đó hay thấp hơn, hoặc liệu có sự bù chéo hay không? Chỉ khi thấp hơn giá thành và/hoặc có bù chéo thì mới có thể nói có “chủ ý” để giá điện không tác động đến “các khách hàng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình”. Vấn đề số người khác nhau trong mỗi hộ được xử lý như thế nào trong việc thực hiện giá điện bậc thang: Liệu hộ nhiều người (ví dụ 5 người) và hộ ít người (ví dụ 1 người) cùng sử dụng 500 kWh/tháng, hay 700 kWh/tháng, hoặc hơn thì việc áp dụng giá bậc thang như nhau liệu có công bằng không? Hộ 1 người có đáng được hưởng giá điện như hộ 5 người hay đông hơn hay không? Khi đó có được coi là khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm hay không?

Để khắc phục bất cập này, có thể áp dụng giải pháp sau: Để áp dụng hiệu quả Biểu giá điện bậc thang nên gắn liền với mức điện sử dụng bình quân đầu người trong hộ.

Ví dụ, quy định mức điện bình quân đầu người là bao nhiêu thì được áp dụng giá bậc 1, bậc 2, bậc 3, bậc 4, bậc 5.

Chẳng hạn, hộ có lượng điện bình quân đầu người ≤ 50 kWh/người/tháng thì được áp dụng giá bậc 1, ≤ 100 kWh/người/tháng thì áp dụng giá bậc 2, ≤ 150 kWh/người/tháng thì áp dụng giá bậc 3, v.v… Như vậy đảm bảo công bằng cho tất cả các hộ bất kể ít người hay đông người. Theo đó, hàng tháng khi tính hóa đơn tiền điện của các hộ, cần xác định mức điện sử dụng bình quân đầu người bằng cách lấy tổng lượng điện sử dụng chia cho số người trong hộ. Sau đó căn cứ vào quy định về mức giá bậc thang theo mức điện sử dụng bình quân đầu người mà áp dụng phù hợp theo thực tế của từng hộ. Để thực hiện được điều này cần phải tìm cách quản lý số người sử dụng điện trong hộ. (Đây chỉ là ý tưởng để nghiên cứu xem xét).

2/ Về biểu giá điện 1 giá:

Biểu giá điện 1 giá được áp dụng đồng thời với biểu giá điện bậc thang. Có vấn đề là: (1) Trong trường hợp A (trên đây) giá điện một giá là 2.703 đồng/kWh và giá điện ở bậc 5 của Biểu giá bậc thang lên tới hơn 5.100 đồng/kWh. Còn trong trường hợp B giá điện một giá là 2.889 đồng/kWh và giá điện ở bậc 5 của Biểu giá bậc thang là 3.499,2 đồng/kWh. Trong khi giá bán lẻ điện bình quân theo Quyết định số 648/2019/QĐ-BCT là 1864,44 đ/kWh. Vấn đề đặt ra là:

– Giá 1 một giá của 2 trường hợp là 2.703 đồng/kWh và 2.889 đồng/kWh, hai mức giá này cao hơn nhiều so với mức giá bán lẻ điện bình quân 1864,44 đ/kWh còn hiệu lực theo quy định của Quyết định số 648/2019/QĐ-BCT. Tại sao như vậy? Giả dụ toàn bộ khách hàng sinh hoạt và ngoài sinh hoạt đều mua lẻ điện với giá bình quân 1864,44 đ/kWh thì liệu ngành điện có bị lỗ hay không? Nếu giả dụ bị lỗ thì có nghĩa giá điện bình quân 1864,44 đ/kWh thấp hơn giá thành điện bình quân toàn bộ. Điều đó là không thể được, vì:

Theo quy định tại Khoản 18, Điều 4, Luật Giá năm 2012: Mức giá bán lẻ điện bình quân là giá bán điện được xác định theo nguyên tắc tính tổng chi phí sản xuất, kinh doanh và mức lợi nhuận hợp lý bình quân cho 01 kWh điện thương phẩm trong từng thời kỳ, được sử dụng cùng với cơ cấu biểu giá bán lẻ điện để tính giá bán lẻ điện cụ thể cho từng đối tượng khách hàng sử dụng điện.

Theo quy định của Thông tư số 12/2014/TT-BCT tại Điều 3 Khoản 1: “Giá bán điện bình quân được lập hàng năm trên cơ sở chi phí sản xuất, kinh doanh điện hợp lý, hợp lệ và lợi nhuận định mức của các khâu phát điện, truyền tải điện, phân phối – bán lẻ điện, điều hành – quản lý và dịch vụ phụ trợ để đảm bảo khả năng vận hành, cung ứng điện và đáp ứng nhu cầu đầu tư”.

– Trong trường hợp A, giá điện một giá là 2.703 đồng/kWh và giá điện ở bậc 5 của Biểu giá bậc thang là 5.100 đồng/kWh. Còn trong trường hợp B giá điện một giá là 2.889 đồng/kWh (cao hơn A 186,0 đ/kWh) và giá điện ở bậc 5 của Biểu giá bậc thang là 3.499,2 đồng/kWh (thấp hơn A 1609,36 đ/kWh). Đối chiếu và so sánh 2 trường hợp cho thấy Giá điện một giá có mối quan hệ với giá điện trong bậc 5 của Biểu giá bậc thang: Giá bậc 5 cao thì giá điện một giá thấp và ngược lại. Điều đó chứng tỏ có sự bù chéo giữa giá điện một giá và giá điện bậc 5 của biểu giá điện bậc thang. Vậy sự bù chéo đó dựa vào lý do và căn cứ nào?

– Việc áp dụng đồng thời 2 biểu giá sẽ có nguy cơ gây phức tạp trong quá trình thực hiện và các hệ lụy kèm theo. Ví dụ, có thể xảy ra trường hợp cùng 1 hộ nhưng khi biểu giá nào có lợi hơn (tức ít tiền điện hơn) người ta lại tìm mọi cách xin áp dụng biểu giá đó bằng được. Giống như biểu giá điện bậc thang, để hưởng lợi giá điện bậc thấp người ta đã tìm cách tách hộ gia đình thành nhiều hộ, thậm chí mỗi hộ chỉ 1 người. Do vậy, cần đề ra các giải pháp phòng ngừa để hạn chế các sự phức tạp hóa có thể xảy ra, nếu như thực hiện phương án áp dụng đồng thời 2 biểu giá: Biểu giá bậc thang và giá điện 1 giá.

– Việc áp dụng Giá điện một giá có ưu điểm là đơn giản hơn nhiều so với biểu giá điện bậc thang, theo đó cũng giảm được nhiều thủ tục quản lý giá điện. Tuy nhiên, có sự không công bằng ở chỗ hộ sử dụng điện ít cũng phải trả giá cao hơn so với giá lẽ ra họ đương nhiên được quyền hưởng như đã phân tích về mối quan hệ giữa nhu cầu và giá thành điện.

Thứ hai: Về phương án đối với khách hàng ngoài sinh hoạt:

Việc hợp nhất các loại khách hàng ngoài sinh hoạt thành một loại, mặc dù mục đích sử dụng điện là khác nhau. Cơ quan soạn Dự thảo cần phải làm rõ lý do sự hợp nhất này và mục đích là gì? Vấn đề không chỉ là đơn giản hóa mà quan trọng hơn là có đáp ứng các yêu cầu đề ra của chính sách giá điện hay không như đảm bảo sự công bằng, khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, hỗ trợ phát triển các ngành, lĩnh vực phù hợp với vai trò, đặc điểm của chúng trong từng thời kỳ, từng địa bàn, v.v…

Ví dụ như bệnh viện (để gián tiếp hỗ trợ cho người bệnh mà nhà nào cũng sẽ có), trường học, nhất là khối mầm non, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học (gián tiếp hỗ trợ cho trẻ nhỏ, thiếu nhi mà nhà nào cũng lần lượt sẽ có), các sản phẩm mới công nghệ cao, các sản phẩm thay thế nhập khẩu trong thời kỳ đầu, v.v…

Thiết nghĩ, để phục vụ cho xây dựng chính sách giá điện phù hợp với từng lĩnh vực trong từng thời kỳ và thực hiện, quản lý việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả, không nên hợp nhất 3 loại khách hàng ngoài sinh hoạt./.

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM – HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAMTừ khóa:Giá bán lẻ điệnThị trường điệnhttps://www.facebook.com/v2.7/plugins/like.php?action=like&app_id=762659883872393&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fx%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2F%3Fversion%3D46%23cb%3Df60280af449a54%26domain%3Dnangluongvietnam.vn%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fnangluongvietnam.vn%252Ff36cbf396f369a%26relation%3Dparent.parent&container_width=0&href=http%3A%2F%2Fnangluongvietnam.vn%2Fnews%2Fvn%2Fnhan-dinh-phan-bien-kien-nghi%2Fluan-ban-ve-gia-ban-le-dien-ky-cuoi-phan-bien-ve-cac-phuong-an.html&layout=button_count&locale=vi_VN&sdk=joey&share=true&show_faces=false&size=small&width=

Ý kiến bình luận, phản biện của bạn

CÁC BÀI MỚI ĐĂNG

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s