10 điều về con gái và phụ nữ trong Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán ở châu Á

ENGLISH: 10 Facts about Girls and Women in STEM in Asia

Tháng 3.2015, UNESCO Bangkok đưa ra báo cáo mớ – Một công thức phức tạp. Con gái và phụ nữ trong khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán – STEM ở châu Á.

Báo cáo khám phá các yếu tố giáo dục, thị trường lao động và tâm lý xã hội mà có thể ảnh hưởng đến sự tham gia của con gái và phụ nữ trong các lĩnh vực STEM để trả lời ba câu hỏi cơ bản: Chúng ta đứng ở đâu? Điều gì đã dẫn chúng ta đến đây? Chúng ta sẽ đến đâu tiếp theo? Các thông điệp chính của báo cáo có thể được xem trong sản phẩm đẹp này minh họa bằng “Những video 1 phút”.

Qua đó, chúng tôi đã tìm thấy những gì? Dưới đây là 10 điều về con gái và phụ nữ trong STEM ở châu Á:

1. Phụ nữ trong STEM đam mê và đầy cảm hứng, nhưng có quá ít phụ nữ trong các lĩnh vực này. Trong khi phụ nữ chiếm gần một nửa dân số thế giới, toàn cầu ước tính chỉ có khoảng 30% nhà nghiên cứu khoa học, công nghệ và sang tạo là phụ nữ. Tại châu Á, chỉ có 3 trong 18 quốc gia có một tỷ lệ tương đương  với nam giới hoặc cao hơn là nữ: Philippines (52 %), Thái Lan (51 %) và Kazakhstan (50 %) – Theo số liệu mới nhất từ Viện Thống kê của UNESCO.

2. Trong lĩnh vực STEM, càng lên cao hơn, thì lại càng ít phụ nữ. Dù là trong giáo dục hay công sở, tỷ lệ phụ nữ trong STEM giảm mạnh ở cấp cao nhất. Nhìn vào các giải thưởng uy tín nhất như giải Nobel chẳng hạn, 199 người đoạt giải Nobel về vật lý, chỉ có 2 là nữ và không có ai từ châu Á.

3. Thành tích học tập trong toán học và khoa học và tham gia vào các lĩnh vực STEM cũng có khả năng liên quan. Ở các nước có tỷ lệ các nhà nghiên cứu nữ trong khoa học , nghiên cứu và sáng tạo thấp như Hàn Quốc (17 %) và Nhật Bản (14 %), nam giới có xu hướng vượt điểm của cô gái trong các lĩnh vực thuộc các đánh giá quốc tế. Tuy nhiên, một tỷ lệ cao hơn của các nhà nghiên cứu nữ có thể được tìm thấy ở Malaysia (49 %) và Thái Lan (51 %), nơi con gái có xu hướng vượt điểm của nam giới (UIS năm 2014; OECD 2014).

4. Trong giáo dục đại học, phụ nữ  hứng thú với khoa học sự sống – life science hơn khoa học tự nhiên cơ bản – hard science. Con gái có xu hướng làm việc tương đối tốt hơn trong khoa học hơn là toán học. Điều này có thể giải thích lý do tại sao họ có xu hướng chọn các lĩnh vực STEM khoa học liên quan như sinh học, hóa học hoặc y học, như trái ngược với các lĩnh vực toán học theo định hướng như kỹ thuật, khoa học máy tính và vật lý. Ví dụ ở Mông Cổ, 75 % học sinh đăng ký môn sinh học là nữ đối lập với chỉ 23 % học ngành kỹ thuật.

5. Tài liệu học tập có thể làm trầm trọng thêm định kiến về giới. Tài liệu học tập như sách giáo khoa đôi khi có thể thâm nhập vào định kiến giới, đặc biệt là khi nói đến các lĩnh vực liên quan STEM như toán học và khoa học. Khảo sát sau đây từ một khoa học sách giáo khoa lớp 9 tại Campuchia cho thấy cách nghĩ giữa nam và nữ được cho là do chức năng khác nhau của hệ thống thần kinh trung ương như suy nghĩ, nghe, thấy, vv

6. Chúng ta cần phải có các nữ sinh truyền cảm hứng trong lớp học. Cách thức mà các môn liên quan đến STEM  được giảng dạy có thể có ảnh hưởng đáng kể trong việc kích thích sự quan tâm của trẻ em gái ở các đối tượng này, ví dụ thông qua các hoạt động thực tế và thực hành sáng tạo cho phép tất cả các sinh viên, đặc biệt là trẻ em gái, áp dụng học tập của mình với cuộc sống thực. Ở các nước như Mông Cổ, Campuchia, một trong những thách thức lớn nhất phải đối mặt là các cơ sở hạn chế và trang thiết bị trong phòng thí nghiệm khoa học, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.

7. Thiếu những tấm gương phụ nữ trong STEM ở trường học và nơi làm việc. Không chỉ có ít nữ giáo viên trong các môn liên quan đến STEM và ở mức giáo dục cao hơn, sự tham gia thấp của phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực STEM tương đương với việc thiếu tấm gương cho con gái. Nhiều mô hình vai trò phụ nữ trong STEM có thể giúp làm giảm bớt định kiến tiêu cực và thu hút nhiều trẻ em gái và phụ nữ vào các lĩnh vực STEM. Dựa trên 20 lớp học được quan sát ở Nepal làm ví dụ, 9 trong số 10 giáo viên là nam giới trong các lớp học toán, và 8 trong số 10 giáo viên là nam giới trong các lớp học khoa học.

8. Tại châu Á, nữ sinh viên cảm thấy lo lắng với toán học và khoa học, ngay cả khi họ nổi trội. Dựa vào kết quả khảo sát trong bảy quốc gia tập trung, con gái được thấy là tỷ lệ lo lắng cao hơn bất kể họ thực hiện tốt hơn hoặc kém hơn so với nam giới trong các đối tượng này. Ở Campuchia ví dụ, các nghiên cứu cho thấy trong khi học sinh nữ thường xuyên trả lời đúng hơn nhiều hơn nam giới, họ vẫn cho thấy học sinh nữ miễn cưỡng, run rẩy và lo lắng, và một số chờ đợi cho đến khi kết thúc lớp học để tiếp cận với giáo viên của họ.

9. Phụ nữ làm việc trong STEM thường tập trung ở cấp thấp hơn với công việc bất ổn định hơn. Với sự bất bình đẳng lâu dài trong cấp bậc và mức lương, những người phụ nữ đang làm việc trong STEM thường phải vật lộn để đạt được và giữ các vị trí cấp cao hơn. Tại Hàn Quốc, một số ít phụ nữ được bổ nhiệm với hợp đồng lâu dài trong khoa học và công nghệ chỉ chiếm 19 % – trái ngược với 81 % là nam giới. Không chỉ giới hạn với sự thăng tiến đến vị trí cao hơn, nhưng những người có trách nhiệm gia đình thường chọn không tiếp tục sự nghiệp của họ do các cơ sở chăm sóc trẻ bị hạn chế cũng như cơ hội phát triển kỹ thuật và kĩ năng sau khi trở về từ kì nghỉ sau sinh nở.

10. Việc thu hút nhiều con gái và phụ nữ vào STEM phụ thuộc vào một số ảnh hưởng rất quan trọng. Với các lĩnh vực phát triển, sáng tạo và phát triển toàn cầu, cả phụ nữ và nam giới cần phải được bình đẳng đóng góp vào xã hội tri thức ngày càng phát triển của chúng ta. Cơ hội bình đẳng trong giáo dục và nơi làm việc, hỗ trợ truyền cảm hứng cho trẻ em gái và phụ nữ, sự khuyến khích của giáo viên và cha mẹ cũng như vai trò của các hình mẫu nữ đều rất quan trọng để thu hút các học sinh nữ và phụ nữ đến các lĩnh vực này.

Một công thức phức tạp. Trẻ em gái và phụ nữ trong khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học ở châu Á tập trung vào các kết quả dựa trên một nghiên cứu khu vực, với nghiên cứu tiến hành ở bảy quốc gia được xem xét: Campuchia, Indonesia, Malaysia, Mông Cổ, Nepal, Hàn Quốc và Việt Nam.

Đây là cuộc khảo sát lần thứ hai trong một loạt các nghiên cứu thuộc một phần của một dự án nghiên cứu kéo dài ba năm thực hiện bởi Văn phòng UNESCO khu vực châu Á và Thái Bình Dương về giáo dục (UNESCO Bangkok) phối hợp với Viện Hàn Quốc phụ nữ phát triển (KWDI), nhằm khám phá các vấn đề về giới tính , học tập thành tích và chuyển đổi các thị trường lao động.

Để biết thêm thông tin, xin vui lòng liên hệ với Ramya Vivekanandan [r.vivekanandan@ unesco.org] tại Ban chính sách và cải cách giáo dục.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s