Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân trong Hiến pháp các nước Đông Nam Á

VKHPL – Quyền tham gia quản lý Nhà nước là một trong những quyền chính trị quan trọng được ghi nhận từ lâu trên thế giới. Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về quyền chính trị và hiện nay cũng chưa có định nghĩa hay giải thích chính thức trong một văn kiện quốc tế về khái niệm quyền chính trị.

Trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ bản của con người trên cả hai lĩnh vực là dân sự và chính trị. Mặc dù vậy, các quyền chính trị có thể được hiểu một cách đơn giản là các quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của nhà n­ước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhà nước (Chính phủ).

 

Quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và xã hội đã được quy định tại Điều 25 của ICCPR. Theo bình luận của Uỷ ban Nhân quyền[1], Điều 25 của Công ước công nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia công việc quản lý nhà nước, quyền bầu cử và ứng cử; quyền tham gia các cơ quan công quyền. Uỷ ban lưu ý, các quyền được quy định trong Điều 25 chỉ dành cho những cá nhân có tư cách công dân. Vì vậy, các quốc gia cần chỉ ra các quy định pháp lý xác định tư cách công dân, và không được có sự phân biệt nào giữa các công dân trong việc hưởng thụ những quyền này vì lý do chủng tộc, sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, thành phần xuất thân hay địa vị khác. Kể cả sự phân biệt giữa những người được hưởng tư cách công dân một cách đương nhiên ngay khi sinh ra và những người có được tư cách công dân bằng việc nhập quốc tịch cũng là trái với Điều 25. Các quyền nêu ở Điều 25 có thể bị hạn chế nhưng mọi hạn chế phải hợp lý và khách quan. Ví dụ, một trong những hạn chế được cho là hợp lý là quy định cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới được quyền bầu cử, ứng cử hay được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong hệ thống chính quyền; hoặc quy định những người bị hạn chế năng lực hành vi có thể không được quyền bầu cử hay ứng cử. Uỷ ban cũng lưu ý các quốc gia, cần giải thích rõ các quy định của pháp luật, về tước quyền bầu cử của công dân. Căn cứ tước bỏ đó phải dựa trên cơ sở khách quan và hợp lý. Đối với cá nhân bị tước quyền tự do, nhưng chưa bị kết án không nên bị loại trừ việc thực hiện quyền bầu cử. Mọi hạn chế đối với quyền ứng cử, như quy định độ tuổi tối thiểu cũng phải dựa trên tiêu chí khách quan và hợp lý. Các cá nhân có khả năng tham gia ứng cử không bị loại trừ bởi những đòi hỏi bất hợp lý và có tính chất phân biệt như về giáo dục, cư trú, dòng dõi hoặc bởi lý do tư cách chính trị… Liên quan đến Điều 25, Ủy ban Nhân quyền (HRC) đã giải thích thêm một số khía cạnh của Điều này trong Bình luận chung số 25 thông qua tại phiên họp thứ 57 năm 1996 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau[2]:

 

Thứ nhất, Điều 25 ICCPR ghi nhận và bảo vệ quyền của mọi công dân được tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử và quyền được tham gia các cơ quan công quyền. Nó khẳng định nền tảng của việc quản lý nhà nước là phải trên cơ sở đồng thuận của nhân dân. Cho dù theo thể chế chính trị nào thì các quốc gia thành viên cũng phải thông qua những biện pháp pháp lý và các biện pháp cần thiết khác để đảm bảo cho mọi công dân đều có cơ hội được hưởng các quyền này (đoạn 1).

 

Thứ hai, các quyền nêu trong Điều 25 có liên quan nhưng không đồng nhất với quyền tự quyết dân tộc. Quyền tự quyết dân tộc quy định trong Khoản 1 Điều 1 ICCPR là quyền của cả một dân tộc được tự do quyết định thể chế chính trị của nước mình, trong khi đó, Điều 25 đề cập đến quyền của các cá nhân được tham gia vào quá trình quản lý các lĩnh vực công (đoạn 2).

 

Thứ ba, không giống như các quyền và tự do khác được ghi nhận trong ICCPR mà có chủ thể của quyền là mọi cá nhân trong phạm vi lãnh thổ và thuộc quyền tài phán của một quốc gia, các quyền nêu ở Điều 25 chỉ dành riêng cho những người có vị thế “công dân” của quốc gia. Tuy nhiên, không  được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì bất kỳ lý do gì giữa các công dân trong việc thực hiện những quyền này. Kể cả sự phân biệt giữa những người được hưởng tư cách công dân một cách đương nhiên ngay khi sinh ra và những người có được tư cách công dân bằng việc nhập quốc tịch cũng là trái với Điều 25 (đoạn 3).

 

Thứ tư, các quyền nêu ở Điều 25 có thể bị hạn chế nhưng mọi hạn chế phải hợp lý và khách quan. Ví dụ, một trong những hạn chế được cho là hợp lý là quy định cần phải đạt đến một độ tuổi nhất định mới được quyền bầu cử, ứng cử hay được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong hệ thống chính quyền; hoặc quy định những người bị hạn chế năng lực hành vi có thể không được quyền bầu cử hay ứng cử (đoạn 4).

 

Thứ năm, quyền tham gia điều hành các công việc xã hội là một khái niệm rộng liên quan đến việc thực hiện quyền lực chính trị, cụ thể là thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nó bao gồm tất cả các khía cạnh của quản lý hành chính và việc xây dựng, thực hiện chính sách ở cấp độ quốc tế, quốc gia, khu vực và địa phương (đoạn 5). Công dân có thể trực tiếp tham gia điều hành các công việc xã hội khi thực hiện quyền lực với tư cách là thành viên của các cơ quan lập pháp hay nắm giữ các chức vụ hành pháp; thông qua việc trưng cầu dân ý hay quá trình bầu cử khác; thông qua việc tham gia vào các hội đồng dân cử có thẩm quyền quyết định các vấn đề của địa phương hoặc các vấn đề của một cộng đồng cụ thể; hoặc tham gia vào các cơ quan được thành lập để đại diện cho công dân trong việc tham vấn với chính phủ (đoạn 6). Công dân cũng có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động quản lý nhà nước thông qua việc tự do lựa chọn các đại diện của mình trong các cơ quan dân cử (đoạn 7), và tranh luận, đối thoại công khai với các đại diện do mình bầu ra hoặc thông qua các cơ chế khác do công dân tự tổ chức (đoạn 8).

 

Thứ sáu, quyền bỏ phiếu tại các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải được quy định bởi pháp luật và chỉ phải chịu những hạn chế hợp lý, ví dụ như quy định về độ tuổi tối thiểu được quyền bầu cử. Những hạn chế về quyền bầu cử được coi là không hợp lý nếu như chúng được đặt ra dựa trên tình trạng khuyết tật về thể chất hay những đòi hỏi về tài sản, giáo dục, khả năng biết đọc, biết viết, vị thế thành viên của các đảng phái…(đoạn 10). Nếu có những đòi hỏi về cư trú đặt ra trong việc đăng ký cử tri khi bầu cử thì những đòi hỏi đó phải hợp lý và không được nhằm loại trừ quyền bầu cử của những người không có chỗ ở. Pháp luật cần cấm mọi sự can thiệp có tính lạm dụng vào việc đăng ký hay vào quá trình bầu cử cũng như mọi sự đe doạ hay ép buộc các cử tri, và các quy định cấm đó cần phải được thực thi nghiêm chỉnh (đoạn 11).

 

Thứ bảy, quyền tự do biểu đạt, hội họp và lập hội là những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện có hiệu quả quyền bầu cử, do đó, cần được các quốc gia thành viên bảo đảm đầy đủ. Các quốc gia thành viên cần thực thi các biện pháp tích cực để khắc phục những trở ngại trong việc bảo đảm quyền này, cụ thể như tình trạng thất học, đói nghèo, những rào cản ngôn ngữ, những khó khăn trong việc đi lại mà cản trở những người có quyền bầu cử thực hiện có hiệu quả các quyền của mình. Thông tin và các tài liệu về việc bầu cử phải được chuẩn bị cả bằng những ngôn ngữ thiểu số. Các biện pháp cụ thể như là tranh ảnh hay biểu tượng cần được đáp ứng để đảm bảo rằng các cử tri mù chữ đều có được thông tin đầy đủ làm cơ sở cho sự lựa chọn của mình (đoạn 12).

 

Thứ tám, các điều kiện liên quan đến việc bổ nhiệm, lệ phí hay đặt cọc trong ứng cử cần phải hợp lý và không có tính phân biệt. Những căn cứ thay đổi những người nắm giữ chức vụ bầu cử cần được quy định bởi pháp luật dựa trên những tiêu chí khách quan và hợp lý và theo những trình tự, thủ tục công bằng (đoạn 16). Không được hạn chế quyền ứng cử một cách vô lý bằng cách đòi hỏi các ứng cử viên phải là thành viên của một đảng phái cụ thể nào. Nếu đòi hỏi một ứng cử viên phải có một số người ủng hộ tối thiểu để được chỉ định thì mức đòi hỏi này cần hợp lý và không được đặt ra để làm rào cản đối với việc ứng cử. Không được coi quan điểm chính trị là căn cứ để tước bỏ quyền tham gia ứng cử của cá nhân (đoạn 18). Cần xác định những giới hạn hợp lý về chi phí tranh cử để đảm bảo rằng không cản trở sự lựa chọn tự do của cử tri, hoặc quá trình dân chủ không bị bóp méo bởi chi phí không tương xứng giữa các ứng cử viên hay các đảng phái (đoạn 19).

 

Thứ chín, cần thành lập một cơ quan độc lập để giám sát quá trình bầu cử và đảm bảo rằng việc bầu cử được tiến hành một cách bình đẳng, không thiên vị, phù hợp với pháp luật quốc gia và với Công ước. Cần có những biện pháp bảo đảm yêu cầu bí mật của việc bỏ phiếu, bảo vệ các cử tri trước mọi sự ép buộc hay cưỡng bức khi bỏ phiếu. An ninh cho các hòm phiếu cũng phải được bảo đảm và việc kiểm phiếu phải có sự chứng kiến của các ứng cử viên hay các đại diện của họ. Cần đảm bảo sự bí mật cả quá trình kiểm phiếu và việc xem xét lại về mặt tư pháp hoặc bằng các thủ tục liên quan khác để các ứng cử viên tin tưởng vào sự an toàn của các hòm phiếu và việc kiểm phiếu. Sự trợ giúp cho những người tàn tật, người mù, hay mù chữ cũng phải mang tính độc lập. Các ứng cử viên cần được thông tin đầy đủ về những đảm bảo này (đoạn 20).

 

Thứ mười, mặc dù Công ước không quy định về một cơ chế bầu cử cụ thể nào nhưng mọi cơ chế bầu cử ở các quốc gia thành viên phải phù hợp với các quyền được ghi nhận tại Điều 25 và phải đảm bảo cho cử tri được tự do thể hiện ý chí (đoạn 21).

 

Thứ mười một, tiểu mục (c) Điều 25 liên quan đến quyền và cơ hội của công dân được tiếp cận một cách bình đẳng với các chức vụ quản lý nhà nước. Để đảm bảo quyền này thì tiêu chí và quá trình bổ nhiệm, thăng tiến, đình chỉ và sa thải công chức nhà nước phải khách quan và hợp lý và việc tham gia các chức vụ trong các cơ quan nhà nước phải dựa trên sự bình đẳng  về cơ hội, những nguyên tắc chung về công trạng và quy định nhiệm kỳ có đảm bảo, để đảm bảo rằng những cá nhân nắm giữ chức vụ công không phải chịu những sức ép hay sự can thiệp về chính trị (đoạn 23).

 

Tại khu vực Đông Nam Á (ASEAN), các bản Hiến pháp của các quốc gia ASEAN được ban hành ở những thời điểm lịch sử khác nhau trong thế kỷ XX và XXI. Có những bản Hiến pháp ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ, ví dụ Hiến pháp Indonesia (1945), Malaysia (1957), Brunei (1959); có những bản Hiến pháp mới vài năm tuổi, ví dụ Hiến pháp Thái Lan (2007), Hiến pháp Myanmar (2008). Nền tảng văn hóa pháp lý của các quốc gia ASEAN cũng khá phong phú. Đa số các quốc gia ASEAN đã từng có thời gian dài nằm dưới ách cai trị của thực dân Anh hay đế quốc Hoa Kỳ, đã khá quen thuộc với án lệ và hiến pháp bất thành văn, ví dụ Singapore, Malaysia, Myanmar, Brunei, Philippines. Mặc dù vậy, cho đến nay tất cả các Hiến pháp hiện hành của các quốc gia ASEAN đều là những bản Hiến pháp thành văn. Ngoại trừ Brunei, các quốc gia ASEAN còn lại đều có quy định về quyền cơ bản của công dân. Sự thiếu vắng chế định về quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp Brunei là một bằng chứng nữa cho thấy bản Hiến pháp này giống như một công cụ để phục vụ sự cai trị của Quốc vương Brunei trong một chính thể quân chủ chuyên chế[3]. Các bản Hiến pháp của các nước còn lại đều thể hiện các quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị là những điều mà Nhà nước phải bảo đảm cho người dân được làm hoặc được hưởng trong lĩnh vực chính trị, tham gia vào quản lý Nhà nước. Đây cũng là nhóm quyền cơ bản hết sức quan trọng bởi vì chúng là những tiêu chí căn bản để đánh giá một nền dân chủ.

 

Nhìn tổng thể, có những quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị (tham gia quản lý Nhà nước) sau được đề cập tới trong Hiến pháp các quốc gia ASEAN: quyền bầu cử; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền tham gia một cách chủ động vào chính trị; quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền; quyền trưng cầu dân ý. Trong số năm quyền này thì chỉ có ba quyền đầu tiên là được đề cập nhiều nhất, ba quyền còn lại được ít Hiến pháp quy định. Mặc dù vậy, không có bản Hiến pháp nào trong số tám Hiến pháp ASEAN[4] được nghiên cứu ở đây có quy định đầy đủ tất cả năm quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị nêu trên. Cũng có thể nhận thấy, đây cũng chính là các quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân. Có thể khái quát các quyền liên quan đến tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân trong các bản Hiến pháp nói trên như sau:

 

– Quyền bầu cử là quyền được quy định phổ biến nhất trong các bản Hiến pháp của các quốc gia ASEAN. Quyền này được hiến pháp của năm quốc gia ASEAN quy định, đó là hiến pháp Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan. Hiến pháp của Malaysia, Singapore và Indonesia không quy định một cách rõ ràng quyền này với tư cách là một quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị. Mức độ quy định chi tiết về quyền này ở năm bản hiến pháp rất khác nhau. Tuy nhiên các bản hiến pháp đó đều quy định quyền bầu cử chỉ dành cho công dân nước mình chứ không phải các đối tượng không có quốc tịch, đồng thời độ tuổi được xác định đủ điều kiện thực hiện quyền bầu cử đều là từ 18 tuổi trở lên. Bốn trong số năm bản hiến pháp nói trên quy định cả về quyền bầu cử và quyền ứng cử, hiến pháp Philippines là trường hợp duy nhất chỉ quy định quyền bầu cử mà không có quyền ứng cử. Trong một số hiến pháp có quy định cả độ tuổi để thực hiện quyền ứng cử và lúc này có sự khác nhau khá lớn giữa các quốc gia. Hiến pháp Lào quy định độ tuổi được hưởng quyền ứng cử là 21 tuổi trở lên, hiến pháp Thái quy định 25 tuổi; trong khi đó hiến pháp Campuchia phân biệt độ tuổi tối thiểu được thực hiện quyền ứng cử vào viện dân biểu là 25 tuổi và vào thượng nghị viện là 40 tuổi. Một số bản hiến pháp còn quy định khá chi tiết về điều kiện được thực hiện quyền bầu cử và ứng cử hoặc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền bầu cử. Hiến pháp Lào quy định những người mất trí, tâm thần hay bị tòa án tước quyền bầu cử không có quyền bầu cử.[5] Hiến pháp Philippines quy định công dân không những phải đủ tuổi mà còn phải cư trú ở Philippines ít nhất là một năm hoặc ở nơi họ sẽ thực hiện quyền bầu cử ít nhất là sáu tháng trước khi diễn ra bầu cử.[6] Hiến pháp Myanmar quy định một số đối tượng không có quyền bầu cử, bao gồm: chức sắc tôn giáo, người đang chấp hành án phạt tù, người do tòa án tuyên bố là không minh mẫn, người đang bị phá sản, và người bị tước quyền theo quy định của pháp luật bầu cử[7]. Hiến pháp Thái Lan có quy định giống với hiến pháp Myanmar về điều kiện không có quyền bầu cử.

 

– Quyền khiếu nại, tố cáo được quy định trong hiến pháp của Campuchia, Lào và Thái Lan. Về tinh thần chung, quyền này cho phép công dân đưa các vụ việc vi phạm lên cơ quan nhà nước để yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình. Tuy nhiên, nội dung quy định quyền này trong ba bản hiến pháp trên cũng có nhiều điểm khác nhau. Quyền khiếu nại, tố cáo được ghi nhận một cách khá chung chung trong hiến pháp Lào: “công dân Lào có quyền khiếu nại, quyền tố cáo, đề đạt ý kiến với các cơ quan của nhà nước có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chung hoặc quyền và lợi ích riêng của mình”[8]. Có thể nói quyền này được hiến pháp Lào quy định mang tính chất ghi nhận chứ chưa đủ cụ thể để thực thi, bởi vì đối tượng có thể bị khiếu nại tố cáo có thể là bất kỳ đối tượng nào và thủ tục khiếu nại tố cáo cũng chưa được xác định, cho dù là về mặt nguyên tắc. Hiến pháp Campuchia quy định về quyền này tuy cũng rất ngắn gọn song khá cụ thể: “công dân Khmer có quyền khiếu nại, tố cáo hay nộp đơn kiện đối với bất kỳ vi phạm pháp luật nào của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội hoặc thành viên của những cơ quan, tổ chức đó… Tòa án là người có thẩm quyền xét xử những khiếu nại và đơn kiện đó”[9]. Trong hiến pháp Thái Lan, quyền khiếu nại tố cáo được đặt trong mối quan hệ biện chứng với quyền được thông tin. Từ quyền được thông tin, người dân Thái Lan có các quyền khiếu nại tố cáo tương ứng. Vì vậy đối tượng có thể bị khiếu nại tố cáo theo hiến pháp Thái Lan cũng là các cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương hoặc các cơ quan nhà nước khác[10].

 

– Quyền tham gia chủ động vào chính trị được quy định trong Hiến pháp Campuchia và Thái Lan. Hiến pháp Campuchia quy định về quyền này một cách khá chung chung và mang tính ghi nhận về mặt nguyên tắc rằng công dân Campuchia không phân biệt giới tính có quyền tham gia một cách chủ động vào đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia. Bất kỳ đề xuất nào từ phía người dân đều phải được nhà nước quan tâm xem xét đầy đủ. Khác với hiến pháp Campuchia, hiến pháp Thái Lan tuy không quy định một cách rõ ràng về quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân song lại quy định một cách khá chi tiết một số quyền cụ thể nhằm tới mục đích cho phép người dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp Thái Lan cũng đặt các quyền này trong mối quan hệ nhân quả với quyền được thông tin. Hiến pháp Thái Lan quy định: “cá nhân có quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của các quan chức nhà nước trong việc thực hiện các chức năng quản lí hành chính mà ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng tới các quyền và quyền tự do của cá nhân. Cá nhân có quyền gửi khiếu nại và được phúc đáp về kết quả xem xét kiến nghị một cách không chậm trễ.Cá nhân có quyền nộp đơn kiện cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền khác có tư cách pháp nhân để buộc trách nhiệm đối với hành vi (hành động hoặc không hành động) do công chức chính phủ, nhân viên hoặc người làm công của các cơ quan đó thực hiện”.[11] Rõ ràng tuy không đề cập trực tiếp tới quyền tham gia chủ động vào chính trị của người dân Thái nhưng với một số quyền cụ thể trên đây, khả năng người dân Thái Lan được tham gia một cách chủ động vào hoạt động của các cơ quan nhà nước được bảo đảm về mặt hiến định một cách khá hiệu quả và toàn diện.

 

– Quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền là một quyền cơ bản khá mới trong lĩnh vực chính trị. Nó cũng ít được nhắc tới trong các bản hiến pháp khác ở trên thế giới. Cũng có thể có những quan điểm cho rằng quyền này thực ra nằm trong ngoại diên của quyền và cũng là nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật. Quan điểm này cũng không hẳn là sai. Tuy nhiên, trong duy nhất một bản hiến pháp của một quốc gia ASEAN, Indonesia, quyền này được quy định một cách rõ ràng “mỗi công dân có quyền nắm được các cơ hội bình đẳng trong chính quyền”([12]). Trong tất cả các bản hiến pháp còn lại đều không quy định quyền này. Rất tiếc hiến pháp Indonesia cũng không có quy định chi tiết hơn về quyền bình đẳng trong việc tham gia chính quyền chính vì vậy vẫn chưa rõ nội hàm của quyền này là như thế nào và việc qui định về quyền này trong hiến pháp Indonesia vẫn chỉ mang tính nguyên tắc.

 

– Quyền trưng cầu dân ý. Đây là quyền chỉ được quy định trong Hiến pháp năm 2007 của Thái Lan. Ngay bản Hiến pháp này cũng được thông qua bằng việc thực hiện trưng cầu dân ý[13]. Tại Điều 138 ghi nhận Luật trưng cầu dân ý là một trong các Luật cơ bản cần phải được ban hành. Tiếp đó, Điều 165 cũng quy định trình tự, thủ tục, yêu cầu của việc thực hiện trưng cầu dân ý. Theo đó, một cuộc trưng cầu dân ý phải được thực hiện theo hướng ủng hộ hay không ủng hộ một vấn đề nào đó và không được thực hiện về một vấn đề trái hay không phù hợp với Hiến pháp hoặc liên quan tới bất kì cá nhân hay nhóm người nào. Trước một cuộc trưng cầu dân ý, Nhà nước phải có những bước chuẩn bị để cung cấp đầy đủ thông tin và phải cho người ủng hộ cũng như không ủng hộ vấn đề có liên quan những cơ hội bình đẳng để bày tỏ ý kiến của mình. Các quy định về trình tự thủ tục bỏ phiếu trưng cầu dân ý phải được thực hiện theo Luật cơ bản về trưng cầu dân ý. Luật này ít nhất phải quy định chi tiết về cách thức tiến hành trưng cầu dân ý, khung thời gian và số phiếu cần thiết để đi đến quyết định cuối cùng. Bên cạnh đó, có thể nhận thấy Hiến pháp Thái Lan đã thể hiện sự tiến bộ khi ghi nhận quyền phúc quyết Hiến pháp tại chương XV về sửa đổi Hiến pháp: dự thảo phải được xem xét qua ba phiên điều trần, trong đó phiên thứ hai phải lấy ý kiến của công chúng (chỉ những người có quyền bầu cử mới được tham gia trưng cầu dân ý sửa đổi Hiến pháp).

 

Bên cạnh đó, để tạo cơ cở cho việc thực thi các quyền công dân nói chung, quyền chính trị nói riêng, Hiến pháp một số nước ASEAN đã quy định quyền được thông tin. Quyền được thông tin liên quan tới hoạt động của nhà nước hoặc do nhà nước nắm giữ là một quyền cơ bản rất ưu việt trong lĩnh vực chính trị. Quyền này thường được xem là đóng vai trò nền tảng cho việc xây dựng một chế độ dân chủ bởi vì một khi quyền này được bảo đảm thực hiện thì bộ máy nhà nước sẽ trở nên minh bạch đối với người dân. Mặc dù vậy chỉ có hai trong số tám bản hiến pháp của các nước ASEAN được nghiên cứu có quy định về quyền cơ bản này, đó là hiến pháp Philippines và Thái Lan:

 

– Hiến pháp Philippines quy định: “quyền của người dân được thông tin về các vấn đề liên quan đến các mối quan tâm của cộng đồng được thừa nhận”. Bên cạnh việc ghi nhận quyền, hiến pháp Philippines cũng quy định cách thức mà nhà nước và pháp luật phải bảo đảm cho việc thực hiện quyền này của người dân: “Trừ những hạn chế do luật định, việc tiếp cận của người dân đối với các hồ sơ, tài liệu, giấy tờ liên quan đến các hành vi, giao dịch, quyết định chính thức cũng như các cơ sở dữ liệu nghiên cứu của Nhà nước được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng chính sách được đảm bảo”[14].

 

– Hiến pháp Thái Lan quy định về quyền được thông tin một cách toàn diện và chi tiết hơn nhiều so với Hiến pháp Philippines[15]. Về phạm vi thông tin được tiếp cận, hiến pháp Thái Lan quy định rõ: “Cá nhân có quyền được biết và tiếp cận dữ liệu hay thông tin công do cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp hay tổ chức chính quyền địa phương đang chiếm hữu”. Các căn cứ có thể được áp dụng để hạn chế quyền được thông tin bao gồm an ninh quốc gia, an toàn công cộng, lợi ích của các cá nhân nằm trong diện bảo vệ hoặc thông tin riêng tư. Công dân Thái Lan cũng có quyền “nhận được số liệu, giải thích từ phía cơ quan chính phủ, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hoặc tổ chức chính quyền địa phương trước khi phê chuẩn hoặc tiến hành bất kì dự án hay hoạt động nào mà có thể ảnh hưởng tới chất lượng môi trường, điều kiện vệ sinh và y tế, chất lượng cuộc sống hoặc bất cứ lợi ích vật chất nào khác liên quan tới cá nhân đó hoặc cộng đồng dân cư địa phương và có quyền bày tỏ ý kiến của mình tới các cơ quan có liên quan để phục vụ việc xem xét kĩ lưỡng hơn các vấn đề đó”. Quyền được thông tin của người Thái cũng được liên kết một cách biện chứng với một số quyền khác liên quan tới việc người dân tham gia vào đời sống chính trị nhằm làm tăng thêm ý nghĩa và hiệu quả của nó. Từ việc thực hiện quyền được thông tin, người dân Thái Lan có thể thực hiện quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước, có quyền gửi đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiện cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, hoặc quyền theo dõi và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước.

 

Qua tìm hiểu các quy định quốc tế cũng như Hiến pháp các nước ASEAN về quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân có thể nhận thấy, Hiến pháp các nước này không có khái niệm công dân tham gia quản lý Nhà nước mà chỉ có khái niệm công dân tham gia các hoạt động chính trị hoặc quyền dân chủ cao nhất thuộc về nhân dân. Thông qua đặc điểm, bản chất của mỗi quyền có thể phân định quyền đó có phải là quyền để công dân tham gia quản lý nhà nước hay không. Một điều cần phải lưu ý thêm, quyền bầu cử, quyền ứng cử được xem là quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân phổ biến nhất trong Hiến pháp của các nước (quyền này cũng được ghi nhận đầu tiên trong hệ thống các quyền chính trị của các Công ước quốc tế về quyền con người). Bên cạnh đó, có thể nhận thấy quyền trưng cầu dân ý được quan tâm ghi nhận, thường được áp dụng đối với trường hợp sửa đổi Hiến pháp. Đối với khu vực ASEAN, hệ thống các quyền liên quan đến tham gia quản lý nhà nước được quy định trong Hiến pháp các quốc gia này khá đầy đủ, bao gồm cả những quyền mang tính chất truyền thống như quyền bầu cử, ứng cử, cho tới những quyền ưu việt mới xuất hiện trong thời gian gần đây như quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được thông tin, quyền tham gia tích cực vào đời sống chính trị, quyền trưng cầu dân ý. Trong số các quốc gia ASEAN, có thể thấy Vương quốc Thái Lan là quốc gia có những quy định ưu việt nhất về các quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị, tham gia quản lý nhà nước của công dân. Về mặt kỹ thuật lập hiến, cách thức quy định các quyền trong Hiến pháp các nước khá ngắn gọn, rõ ràng, súc tích và đạt hiệu quả cao trong thi hành.

 

Hiện nay, Chính phủ của nhiều quốc gia đã và đang nỗ lực thực hiện những cam kết phục vụ dân, đồng thời mở rộng và kêu gọi sự tham gia tích cực của người dân vào hoạt động quản lý Nhà nước. Hoạt động quản lý của chính quyền không phải là một hoạt động “đóng” và “một chiều” mà cần phải có sự tương tác, đóng góp của cộng đồng theo xu hướng “mở”. Mô hình quản lý hành chính “cai trị” theo kiểu “mệnh lệnh hành chính đơn phương” của chủ thể hành chính và “phục tùng” hay “chấp hành vô điều kiện” của khách thể quản lý đã đến lúc phải thay đổi[16]. Xu hướng nền hành chính công “phục vụ” đang dần thay thế nền hành chính công “cai trị”


[1] Bình luận chung số 25, Phiên họp thứ 57 (1996).

[2] Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, tr. 242 – 247.

[3] Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2011), Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia Asean, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Chủ nhiệm: TS. Tô Văn Hòa, Hà Nội, trang 92.

[4] Bao gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan.

[5] Điều 36 Hiến pháp Lào hiện hành.

[6] Khoản 1, Điều 5 Hiến pháp Philippines hiện hành.

[7] Điều 392, Hiến pháp Myanmar hiện hành

[8] Điều 41, Hiến pháp Lào hiện hành.

[9] Điều 39, Hiến pháp Campuchia hiện hành.

[10] Điều 60, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[11] Điều 58-60, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[12] Khoản 3, Điều 28D, Hiến pháp Indonesia hiện hành.

[13] Điều này được thể hiện trong Lời mở đầu của Hiến pháp 2007: “… Sau khi đã hoàn tất việc dự thảo Hiến pháp, Hội đồng lập hiến đã công bố bản thảo và tiến hành trưng cầu dân ý để phê chuẩn dự thảo toàn văn hiến pháp. Cuộc trưng cầu dân ý đã cho thấy rõ ràng rằng đa số nhân dân có quyền bỏ phiếu, những người đã tham gia vào trưng cầu dân ý đều đồng ý với Dự thảo Hiến pháp mới này. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hội đồng lập pháp quốc gia đã trình Dự thảo Hiến pháp lên Nhà vua để ngài kí ban hành Dự thảo đó làm Hiến pháp của Vương quốc Thái Lan. Nhà vua đã thấy cần sớm kí ban hành theo nguyện ước của nhân dân”.

[14] Khoản 7, Điều 3, Hiến pháp Philippines hiện hành.

[15] Điều 56, 57 – 62, Hiến pháp Thái Lan hiện hành.

[16] Diệp Văn Sơn,  “Xây dựng cam kết phục vụ cộng đồng và đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công”, nguồn: www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/phattrienbenvung/

Tác giả: Trương Hồng Quang

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s