Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’ (4 bài)

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Đường vào xứ sở bị lãng quên

nongnghiepChỉ cách trung tâm thành phố Hà Nội hơn 40km, nhưng xóm ở biệt lập trên núi, không có nước, không có đường, không có sóng điện thoại, không có ánh đèn đường.

Nửa chìm trong hoang phế

Điện lưới cũng chỉ mới kéo lên đây được có vài năm. Do dính phải quy hoạch treo nên gần 20 năm nay người dân trong xóm không được xây dựng, cải tạo nhà cửa, một nửa đã trở về làng cũ, chỉ còn lại những ngôi nhà hoang cùng những trung niên, người già. Đêm đêm họ ra ngồi ở mỏm đá đầu xóm, phần để “hứng” sóng điện thoại, phần để ngắm thành phố Hà Nội về đêm với tòa nhà Keangnam và những cao ốc sáng lấp lánh như ánh sao sa trên trời.

Đó là cảnh ở khu kinh tế mới Ắng Bằng ở xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Tôi có thể là nhà báo đầu tiên tới “bản người rừng” đó để ăn, ngủ cùng bà con một đêm. Từ xã lên chỉ thấy dốc và dốc, ngoằn nghèo như một con trăn đang trườn trên sườn núi. Cung đường này gợi cho tôi nhớ tới nhiều bản làng ở vùng cao biên giới, toàn là đất, lồi lõm, mấp mô, có một số chỗ dân đổ tạm ít xi măng như cái gờ sống trâu ở giữa, rộng chỉ hơn gang tay, vừa đủ lọt bánh xe máy.

Empty
Tác giả cùng với ông Bùi Xuân Biền ngồi ở hòn đá đầu xóm để trò chuyện. Ảnh: Nguyễn Văn Hiệu.

Trong ráng chiều vàng vọt, Ắng Bằng cũng dần hiện ra với những bức tường bao, những ngôi nhà, gian bếp được xây bằng đá, rêu phong phủ mờ. Quá nửa trong số đó từ nhiều năm đã không có hơi người, cỏ mọc trùm kín cả mái, cỏ mọc lút cả sân. Không có tay người chăm, cây trong vườn cũng chết dần, chết mòn.

Những ngôi nhà còn lại, thường chỉ có một đến hai người, lúc thì ở dưới làng, khi thì ở trên này nên lối đi cũng gần như không thấy dấu chân. Thứ đáng giá nhất của những hộ dân này là những cái bể để hứng nước mưa, dùng dè sẻn cho cả năm trời.

Ông Bùi Xuân Biền, 85 tuổi, là đảng viên duy nhất của xóm kể, ngày trước tỉnh Hà Sơn Bình (Hà Tây cũ và Hòa Bình) tổ chức nhiều đợt đưa dân đi kinh tế mới ở trong Nam hay lên miền núi phía Bắc. Năm 1990 thì có đợt đưa dân nội tỉnh mà trước hết là ưu tiên nội xã của Tuy Lai, huyện Mỹ Đức lên Ắng Bằng. Ông được cử làm trưởng nhóm, dẫn đầu 10 hộ dân của các thôn, nhưng lên đến nơi có 3 hộ đã bỏ về luôn, không thèm nhận đất vì thấy nó quá hoang vắng.

“Người đứng cách nhau 10m có khi còn không rõ mặt bởi cây cối mọc rậm rạp xen lẫn từng chòm nương sắn rộng chỉ như manh chiếu hợp tác xã chia cho xã viên làm. Chuột trên núi có những con nặng đến 1kg, chuyên đào củ để ăn nên có khi trồng sắn mà chẳng được thu hoạch”, ông Biền kể.

Empty
Ông Bùi Xuân Biền bên một ngôi nhà hoang. Ảnh: Dương Đình Tường.

Năm 1992, chính quyền lại tổ chức đi kinh tế mới đợt hai với 12 hộ dân. Lần này không có ai bỏ về ngay mà đều bám trụ lại. Cả hai đợt di dân kinh tế lên Ắng Bằng đều là những hộ nghèo hay đông con. Lúc thuyết phục họ đi thì chính quyền hứa hẹn rất nhiều nhưng khi lên đó chỉ cho 1 tháng gạo ăn thay vì 6 tháng. Còn lời hứa xây cho mỗi hộ 1 cái bể nước 1m3 lại bảo như đánh đố rằng mang được cái bể xi măng nặng cả tấn dùng để ủ mạ của HTX lên được trên núi thì mang trong khi không hề có đường.

Những người đi kinh tế mới phải tự vác gạch, sắt, gánh vôi trên những đôi vai trần, còn đá thì tự khai thác tại chỗ, cát không có phải lấy vụn đá để thay thế. Ngay cả những nương rẫy được chia cũng lổn nhổn đá, hòn nhỏ nhặt về xây nhà hay xếp thành tường rào, hòn to thì bốc ít đất bỏ vào hốc rồi rắc ít tro trồng vào đó vài gốc sắn hay ngô.

“20 năm tôi đi bộ đội, đánh Mỹ cũng có nhưng chưa bao giờ gian khổ như hồi về quê, đi kinh tế mới. Đợt đầu 7 nhà đang xây lưng lửng thì đổ cả 7 vì mưa, gió to mà tường thì xây toàn bằng vôi, không có người che đậy. Tôi phải trùm tấm ni lông lên cái xe bò rồi ngủ dưới gầm trong 2 – 3 tháng để hễ xây nhà đến đâu, gặp mưa gió là che tới đó.

Vậy mà nhà tôi vẫn đổ lần thứ hai, nhiều nhà đổ lần thứ ba, còn chuyện tốc mái là hết sức bình thường vì trên núi gió to lắm. Năm 1992 tôi mới đổ mái bằng cho gian bếp để khi có gió thì chui xuống đó như chui xuống hầm chữ A thời chiến tranh chống Mỹ vậy”, vẫn chuyện ông Biền. 

Empty
Một ngôi nhà hoang bị cây dây leo bò khắp mái. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Đêm đến nhìn xuống dưới làng, thấy ánh đèn sáng, nhìn lại trên núi thấy tối đen như mực, chúng tôi càng nghĩ càng thấy tủi thân”, ông Bùi Xuân Biền tâm sự.

Gia cảnh một hộ điển hình của xóm

Chị Phùng Thị Sáu nhớ lại, thủa ban đầu thân đèn dầu được chế từ cái lọ mực, chao là chai bia cắt ra. Lúc đó con còn nhỏ, gạo chẳng có mà ăn nữa là mua dầu, vợ chồng chị chỉ dám thắp đèn lúc chập tối để ăn cơm rồi tắt ngay vì sợ tốn. Buổi chị trở dạ đứa út, anh đang đi mua ngói để lợp nhà, mình chị lặc lè bụng dạ xách cái đèn chai tù mù giữa đêm đi gọi bà hàng xóm đến đỡ. Trong xóm, người đẻ cuối cùng tại nhà như thế là vợ anh Thao, giờ đứa bé đã vào quãng 10 tuổi.

Nhưng cũng có khi cái đèn chai phải leo lét thắp đến tận 11 – 12 giờ đêm vào những vụ sắn, ngồi thái đến rã rời tay. Sắn thái xong ban ngày mang ra ngoài bãi phơi vì không có sân, đến tối dưới ánh trăng sao lại phải nhặt từng miếng về vì sợ mưa, được cái miếng sắn thì trắng, nền đất thì đen nên cũng dễ phân biệt. Phơi 3 nắng như thế sắn mới đủ khô để bán đi lấy tiền đong gạo nhưng có khi đến hôm cuối cùng lại gặp phải cơn mưa bất ngờ, mốc hết. Nhưng “việc giời giời làm, việc mình mình làm”, muốn khóc cũng không được.

Empty
Trạm y tế của Ắng Bằng bị bỏ hoang từ lâu. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hè, chị Sáu lấy mo nang của cây bương làm quạt, rã rời cả tay mà đám trẻ con vẫn rôm sẩy cùng mình, đầu mọc toàn mụn đầu đinh, khóc quấy cả đêm. Nhà chị là cơ cực nhất xóm, đất nương toàn sỏi đá, không có tiền mua phân vợ chồng phải vào các bản người Dao ở huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình để cắt lúa nương giúp, rồi xin rơm đốt thành tro, gánh về mà bón cây.

Cứ 2 – 3 giờ sáng là vợ chồng chị lại đi bộ trong bóng đêm, hành trang mang theo là nắm cơm độn sắn và nhúm muối vừng. “Hồi ấy người dân tộc nhưng họ có cơm trắng mà ăn còn chúng tôi phải ăn cơm độn nên đợi người ta về hết mới dám giở cái lá chuối gói nắm cơm ra, chứ cũng không có cặp lồng để đựng. Khát thì lấy lá chuối khum lại mà múc nước suối để uống.

Một lần tôi thấy buổi trưa mà người ta cứ đi từng tốp ra suối, không biết làm gì mới tò mò đến gần để xem. Họ hồn nhiên tụt quần, tụt váy vừa ngồi vệ sinh bên bờ suối vừa nói chuyện với nhau, xong việc còn lấy tay vục nước lên mà rửa. Thấy thế tôi nôn luôn tại chỗ. Lần sau, dù khát mấy vợ chồng tôi cũng không dám uống nước suối nữa mà vào bản xin nước uống”, chị Sáu hồi ức.  

Empty
Đường lên Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

Lắm buổi chị thồ 2 sọt sắn hay 2 sọt khoai sọ rời Ắng Bằng từ lúc 2 – 3 giờ sáng, xe đạp xuống dốc vừa đi vừa đổ vì đá chắn lối, đá ngăn đường, đến tận Ba Thá cách nhà ngót 20km lúc trời vừa tang tảng. Chồng chị vì nhà nghèo, không có xe đạp nên không biết đi, toàn phải đi bộ. Đến tận năm 2005 khi anh bị mắc ung thư chết lúc 35 tuổi cũng chưa biết đi xe đạp.

Bố mẹ chị thì có xe nên chị mới biết đi. Chiếc xe đạp duy nhất của nhà lúc 3 đứa con đi học, chị Sáu đành phải nhường lại cho chúng, lại đi bộ. Đến quãng năm 2000 gia đình mới không phải ăn độn nhờ bán ngô, bán khoai sọ đổi lấy gạo ăn thì chỉ năm 2005 chị lại chịu cảnh góa bụa. Chồng chết, không có người đi chăn, đàn dê 40 con chị đành phải bán để mua chiếc Honda dream. Cậu em tập cho chị mấy đường ở sân kho dưới làng Quýt thế là cứ thế ngồi lên vượt dốc mà về đến xóm.

Empty
Một đỉnh núi của dãy Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

Chị Sáu được cái mạnh bạo còn biết đi xe máy chứ như ông Biền sau 2 lần tập, phanh không biết toàn đâm vào bụi cây mới chịu dừng lại nên đành bỏ cuộc, trở về với đi bộ. Các nhà khác cũng khó khăn tương tự, quanh năm phải ăn cơm độn sắn, chỉ ba ngày Tết mới có cơm trắng.

Mỗi dịp World Cup cánh đàn ông rủ nhau ăn thật sớm rồi cắt lối tắt trên rừng, đi bộ xuống núi tới mấy bản của xã Trung Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mất khoảng hơn 1 tiếng để xem bóng đá vì dù sao cũng còn nhanh hơn là xuống làng. Không ti vi, những tối không có bóng đá cả xóm chỉ có cái đài sông Hồng của nhà ông Biền chạy pin, người già, trẻ con tối tối xúm đông, xúm đỏ lại để nghe tin tức. (Còn nữa)

Dân của Ắng Bằng phải chịu cảnh đèn dầu đến tận năm 2003 mới mắc nhờ một đường dây điện của bộ đội. Nhưng cả xóm cùng đấu vào nên điện yếu đến nỗi không chạy được tủ lạnh, quạt cũng không quay nổi khiến cho ai cũng tưởng là hỏng, mang đi sửa mới vỡ lẽ ra nguyên nhân. Phải đến năm 2016 điện lưới mới được kéo chính thức lên xóm, tivi đen trắng dần được thay thế bằng tivi màu.

Dương Đình Tường

***

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Những ngôi nhà chỉ có một người sinh sống

nongnghiep Trời sập tối, cả ‘bản người rừng’ tức khu kinh tế mới Ắng Bằng thuộc xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội không một tiếng động nào ngoài tiếng côn trùng trên núi.

“Vòng kim cô” xiết chặt trên đầu dân Ắng Bằng

Có những tuần chỉ có vài người đi qua xóm nên khi thấy tôi đến, ngay cả con chó nhà ông Bùi Xuân Biền cũng không phân biệt quen lạ gì mà cứ xoắn lấy mà liếm vào chân, ngoáy đuôi mừng rỡ. 32 năm ở cái xóm núi này ông bảo chẳng có trộm cắp bao giờ, cửa nhà thường là không đóng vì hẻo lánh và quá nghèo.

Nhà ông còn một cây cau và một giàn trầu là di sản của người vợ quá cố để lại. Con cháu lớn lên đi hết, ngày ngày ông lủi thủi trong nhà, ngoài sân cùng chú chó nhỏ, cũng chẳng mấy khi ra đến vườn, bởi thế cỏ đã mọc um tùm, tiến sát vào nhà. Nhà hàng xóm giáp ranh, chị Phùng Thị Sáu cũng đơn chiếc như vậy. Giờ 3 đứa con của chị đã lớn, xuống ở dưới làng, mình chị trên này với đàn lợn 5 con to, 9 con nhỡ, 1 bò mẹ, 100 gà, ngỗng cùng lũ chó: “Mỗi lần đứa cháu tôi đi học hay đi chơi ở dưới làng là bọn trẻ xúm lại trêu: “A, tộc về, tộc về chúng mày ơi”. 

Empty
Căn nhà của ông Bùi Xuân Biền. Ảnh: Dương Đình Tường.

Xóm trên còn 5 hộ, còn xóm dưới còn 4 hộ nữa trên tổng số 21 hộ cư dân gốc của Ắng Bằng, còn lại là đã khóa cửa, về làng. Ngoài những hộ đi kinh tế mới, xóm có gần chục hộ mua lại đất sau này hay 4 anh em Bản, Doanh, Ba, Tư làm nghề chăn dê, lập trại sống ở đây đã ngót 20 năm. Tất cả bầu anh Phùng Văn Bằng làm trưởng khu.

Xưa khu còn có cả nhà mẫu giáo với 1 cô giáo để trông 5 – 6 đứa trẻ vỡ lòng; Trạm sơ cứu với 1 y sĩ. Giờ tất cả đều chỉ là những di tích hoang phế. Câu chuyện bắt đầu từ quy hoạch 1/500 ngày 24/6/2008 của tỉnh Hà Tây cũ do Phó Chủ tịch Nguyễn Huy Tưởng ký cho công ty An Dưỡng Đường đầu tư khu làng dưỡng sinh và du lịch sinh thái Tuy Lai – Mỹ Đức.

Trong đó có hàng trăm biệt thự, vườn thú, vườn chim, vườn cây nhiệt đới… tổng diện tích lên tới 1.120ha. Người ta đã đo đạc nhà dân, chuẩn bị đền bù cây, hoa màu trong vườn, ngoài nương. Rồi chỉ một thời gian ngắn sau khi Hà Tây cũ sáp nhập vào Hà Nội, dự án đã bị treo vô thời hạn, trở thành một vòng kim cô thắt chặt lên đầu người dân Ắng Bằng mà không ai biết câu thần chú để cởi bỏ.

Empty
Bưởi rụng đầy vườn nhà ông Bùi Xuân Biền vì không có người để cho. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Từ đó đến nay cả xóm không hề được xây dựng, sửa chữa, đầu tư bất cứ cái gì, ngay đến cả sổ đỏ cũng chưa có. Giờ sắn rẻ, vận chuyển khó nên không ai trồng, mọi cây lương thực khác cũng thế, chỉ còn vườn cây ăn quả, na, bưởi, cam nhưng chẳng có người chăm cứ chết dần, chết mòn.

Trước còn có người lên mua bưởi nhưng mấy năm nay chẳng có ai vì ở chỗ nào cũng có bưởi. Hơn 10 gốc bưởi cả chua, cả Diễn, 60 gốc nhãn của vườn nhà tôi đến mùa sai trĩu trịt, cứ thấy ai đi qua đều gọi vào để trẩy ăn tùy ý. Thế mà bưởi vẫn rụng đầy dưới đất vì chín quá. 

Đường lên vất vả, chỉ một trận mưa là không đi được xe máy nữa do đất lở. Mỗi năm mấy lần bà con Ắng Bằng phải bỏ ra hàng trăm ngày công để tự san lấp đường rồi tự bỏ tiền ra mua xi măng để trải. Nhưng tiền thì ít, đường thì dài nên chỉ tráng được một tí ở giữa rộng chừng 20-30cm. Đây là khu kinh tế mới mà còn bị bỏ rơi như thế thì là trách nhiệm của chính quyền.

Empty
Một căn nhà bỏ hoang, cây bên ngoài đã bị chết. Ảnh: Dương Đình Tường.

Trạm y tế giờ bỏ hoang, còn trường học trước do Nhà nước làm chứ có phải xã, huyện làm đâu, sau này thanh lý đi thì các bố giữ lại hết. Tôi thắc mắc đáng nhẽ giải tỏa trường cũ thì phải làm một trường mới cho chúng tôi hoặc không cũng làm đường cho xóm, nhưng họ chẳng trả lời.

Người trẻ thì bỏ đi gần hết. Năm 2018 tôi mới nói là giờ già rồi, muốn nghỉ, muốn về làng nhưng anh em nói một câu như thế này khiến tôi không thể về được: “Thế bây giờ ông về thì chúng cháu ở với ai?”. Ý họ muốn nói tôi là trưởng nhóm đưa dân lên đây, lại là đảng viên duy nhất, giờ bỏ về thì trên này sẽ như thế nào. Đợt sốt đất vừa rồi, người ta kéo lên đây gạ mua suốt, trả đến mấy tỉ. Dù căn nhà của tôi chỉ nhỏ như cái bếp của người ta thôi nhưng là kỷ niệm của hai vợ chồng, không bao giờ tôi bán cả”. Ông Biền thở dài trong lúc dội nước sôi vào chậu để vặt lông gà.

Đã lâu lắm rồi tôi mới được ngồi ăn cơm ở ngoài sân dưới ánh trăng. Hôm đó ông Biền, chị Sáu và Hiệu đãi tôi mấy món ngon nhớ đời là gà núi luộc, chuột đồng nướng, ốc nhồi, canh khoai lòng lợn. Mâm cơm đầy tú hụ mà gọi mãi cho trưởng khu không thấy tín hiệu gì nên cả bốn đành phải ăn cố.

Empty
Một gia đình chăn gà, thả bò trên núi. Ảnh: Dương Đình Tường.

Những chuyện kể trong bóng tối ở Ắng Bằng

Ăn xong, chẳng biết làm gì chúng tôi lại kéo nhau ra ngồi ở tảng đá đầu xóm để ngắm Hà Nội về đêm lấp lánh còn hơn cả sao trên trời. Bỗng nhiên một luồng ánh sáng chói lòa chiếu thẳng vào, đó là đèn xe của trưởng khu. Anh tìm đến đây như thói quen mỗi tối của dân Ắng Bằng. Khi biết tôi là khách của khu, giọng anh vui mừng thấy rõ: “Hay là bây giờ tôi lấy củi, làm con gà nướng ăn nhỉ?”. Tôi vội xua tay khi trong đầu thoáng qua hình ảnh con gà luộc của nhà ông Biền vẫn còn đến quá nửa.

Nõ thuốc lào đỏ rực trong màn đêm kèm tiếng rít sòng sọc của một buồng phổi rất có lực. Anh Bằng người vâm vam như một con gấu nhả một luồng hơi mịt mù, bảo: “Mỗi khi ngồi ở tảng đá ở đầu xóm, nhìn về phía Hà Nội tôi thấy nhục bởi ở dưới đó sáng thế kia mà trên này mù mịt tối, còn không phát triển bằng mấy xã kế bên thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình nữa. Sinh hoạt cộng đồng duy nhất là đêm đêm ra ngồi ở tảng đá đầu xóm nói chuyện, “hứng sóng” điện thoại, chứ chẳng có bất kỳ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao gì”.

Empty
Cảnh nấu ăn ngay ngoài trời ở Ắng Bằng. Ảnh: Tư liệu.

Trong bóng tối mịt mùng đó, ông Biền thủng thẳng kể: “Tôi đã hơn 50 tuổi Đảng, lại không phải là người mê tín nhưng nhiều lúc cũng thấy khó lý giải trước một hiện tượng. Chuyện là tình cờ một buổi trưa tôi bị mất ngủ nên đi lang thang lên núi, vào một cái hang khá nhỏ, thấy ngoài cửa lẫn bên trong có mấy cái xương sống, xương sườn, xương ống…

Không biết là xương gì nên tôi mới lấy một cái xương tay đo vào tay mình, thấy nó dài hơn hẳn. Chợt nghĩ hay là phi công Mỹ? Nhưng không phải bởi đầu khớp xương đã mòn, màu xương đã trắng toát nên phải lâu ngày lắm rồi. Tôi gom xương lại mà tìm mãi không thấy cái đầu đâu.

Hôm sau tôi bảo với anh Thưởng và anh Vũ trong xóm cùng lên. Tìm mãi chúng tôi cũng không thấy cái đầu đâu, mà cái hang cũng khá nhỏ chứ không phải là quá rộng. Hôm nữa tôi lại lên, lần này là một mình mang theo một bó hương, thắp rồi khấn: “Ông hay bà mất ở đây không biết là nam hay nữ, chúng tôi đã thu được một số hài cốt nhưng thấy đầu đâu. Ông hay bà có linh thiêng thì báo mộng cho chúng tôi biết để mang về chôn”. Khấn xong tôi về.

Empty
Ông Bùi Xuân Biền trước một ngôi nhà hoang. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hôm tiếp lại lên, thấy cái đầu ở ngay cửa hang giống như có người đã đặt ở đó rồi. Tôi hỏi cả xóm cũng chẳng có ai trước đó leo lên đó cả. Người khác kể có khi tôi cũng không tin nhưng chính mình ở trong cuộc mới thấy là khó hiểu. Khi có đủ bộ hài cốt tôi thông báo cho xã, họ mua 1 cái tiểu để đưa về đầu xóm chôn. Sau đó, xã thông báo cho huyện nhưng lại lệch địa chỉ nên phải mấy tháng sau mới có người ở làng tôi biết tin bảo:

“Đúng là thằng Nguyễn Văn Tư rồi, trước chúng tôi đi bộ đội, lấy gạo ở tỉnh Hòa Bình nhưng nó bị mìn, chết ở đèo trên núi Ắng Bằng. Chúng tôi để nó ở ven đường, khi về dưới này làm quan tài mang lên thì không thấy đâu nữa. Trinh sát ta dò la vào tận Hòa Bình để xem Pháp có nhặt xác để bêu chỗ này, chỗ nọ không thì chẳng thấy gì. Đó là năm 1952. Chúng tôi mới báo tử cho gia đình là nó hi sinh tại Ắng Bằng – Tuy Lai nhưng không tìm được xác”. Trên núi Ắng Bằng hồi đó lắm hổ, mới tha xác ông ấy về hang để ăn. 

Empty
Đơn đề nghị của người dân Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.
Empty
Có 28 hộ dân điểm chỉ, ký vào đơn đề nghị như thế này. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hết chuyện ông Bùi Xuân Biền tìm được hài cốt liệt sĩ trong hang hổ, lại đến chuyện hòn đá thờ trong khuôn viên nhà anh Phùng Văn Bằng. Xưa dân dưới làng muốn vào rừng phải lập lễ mở cửa rừng vào ngày 7/1 âm lịch, thắp hương trước hòn đá thờ đó. Thế nhưng lúc được phân đất, anh Bằng còn là một thanh niên vô thần nên thấy hòn đá to chình ình phía trước mới đặt mìn để định cho nổ tung, lấy vật liệu xây nhà.

Nhưng đặt mìn mấy lần mà chẳng nổ, sợ quá anh mới để nguyên trạng hòn đá thờ ở đó rồi xây nhà. Tuy nhiên mấy năm sau anh lại di chuyển xuống cách đó chừng 20m, không ở căn nhà với hòn đá thờ nữa. Lúc tôi đến hòn đá thờ vẫn có đầy những chân hương cả mới lẫn cũ. (Còn nữa)

Dương Đình Tường

***

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Củ sâm tương truyền của Mã Viện để lại trên Ắng Bằng

nongnghiep Trong buổi tối chúng tôi ra ngồi ở tảng đá đầu xóm để ngắm về Hà Nội lấp lánh sáng ấy, anh Phùng Văn Bằng mang ra một bình lớn sâm ngâm mật ong.

Không đâu có loại sâm giống như ở Ắng Bằng

Anh nghiêng bình, rót cho mỗi người một chén. Uống vào tôi thấy vị ngòn ngọt, chua chua, sảng khoái cả người. Cuộc sống ở “bản người rừng” tức khu kinh tế mới Ắng Bằng ở xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội 30 năm trước đầy khổ cực, bây giờ vẫn gian khó nhưng bù lại có một đặc sản là củ sâm Mã Viện hay còn gọi là sâm Ắng Bằng.

Ông Bùi Xuân Biền 85 tuổi là đảng viên duy nhất của xóm giải thích: “Tại sao Ắng Bằng có củ sâm Mã Viện? Khi Mã Viện đem quân xâm lược nước ta đã đưa một loại sâm quý của Trung Quốc sang trồng ở trên núi Ắng Bằng để bồi dưỡng thể lực cho binh tướng. Liên quan đến Mã Viện, hiện ở dưới núi có một tấm bia đá ghi bằng chữ Hán, trên núi có cái thung Dốt trước dùng để nhốt lính Việt vào đó, có khu vườn hoa làm cảnh mua vui cho binh tướng Tàu.

Từ xa xưa, cụ kị chúng tôi truyền lại trên Ắng Bằng có loại sâm rất quý gọi là sâm Mã Viện, nó có thân mình giống cây vung vang, hoa màu vàng, quả khi già có màu xám, bên trong có nhiều hạt, khi chín sẽ tự bắn ra, rơi ra ngoài. Sâm này không giống mùi sâm Hàn Quốc hay sâm Bố Chính của ta, củ của nó cũng khác. Sâm Bố Chính, sâm Hàn Quốc củ không “khôn”, không “béo”, không đẹp bằng sâm Mã Viện.

Empty
Ông Bùi Xuân Biền bên những củ sâm Mã Viện. Ảnh: Dương Đình Tường.

Các loại sâm khác hoa đều màu đỏ nhưng sâm Mã Viện lại có hoa màu vàng, tuy nhiên nó không nằm ngửa đón ánh mặt trời như thường thấy mà nằm úp khum khum xuống. Chẳng biết mấy tuổi sâm thu hoạch được nhưng củ càng già lại càng tốt, củ to nhất chỉ hơn ngón chân cái, nặng khoảng 100 gram. Củ sâm thái lát ra thấy nhớt nhớt, khi đi dỡ sắn, đang trưa nóng mệt mà đào thấy thường chúng tôi chỉ cần cạo vỏ đi rồi ngồi nhai như nhai khoai lang sống, thấy tỉnh cả người, đỡ hẳn mệt, rất mát ruột.  

Những năm 1970 – 1980, xã Tuy Lai có tổ chức trồng dược liệu ở trên núi Ắng Bằng trong đó có sâm Bố Chính. Dân mang cả tải sâm Bố Chính ra phố Lãn Ông ở Hà Nội để bán cho hiệu thuốc Bắc, thế mà có củ sâm Ắng Bằng lẫn nào người ta nhặt ra được hết và rất quý. Trước tôi làm lái xe trong quân đội hơn 20 năm, tiếp xúc nhiều nhưng không ở đâu thấy có loại sâm như Ắng Bằng. Ngay cả ở trong vùng này cũng không chỗ nào có loại sâm đó ngoài trên núi”.

DSC_5121
Con đường nhìn từ Ắng Bằng xuống các hồ của xã Tuy Lai. Ảnh: Dương Đình Tường.

Hồi ông Biền dẫn đầu nhóm di dân kinh tế mới của tỉnh Hà Sơn Bình (Hà Tây cũ và Hòa Bình) lên Ắng Bằng năm 1990, số lượng cây sâm Mã Viện cũng khá ít. Chúng mọc trên đất khô cằn, xen kẽ với đá thì sống được lâu, còn trên đất thịt thì củ lại hay thối. Mùa đông, thân lá của cây lụi đi, đợi đến giêng hai khi có mưa bụi và gió xuân ấm tràn về thì lại mọc. Con ông Biền từng thử đánh mấy trăm cây sâm ở trên núi về trồng ở trong vườn, do đất “nạc” quá nên sau này ra củ thối hết, chết không còn sót nổi một cây. Cũng ở trong vườn, những cây nào tự nảy mầm từ hạt, để yên đó tự phát triển thì được, còn đánh ra chỗ khác lại dễ thối củ dù thân, lá vẫn còn.

Mã Viện là một tướng của Trung Quốc thời Hán Quang Vũ Đế, là người đã dập tắt cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng vào năm 42 và tiếp tục sự thống trị của người Hán ở Giao Chỉ.

Empty
Một ngôi nhà cửa đóng then cài ở Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

Giấc mơ đẹp thoáng qua nhanh

Hơn chục năm trước, Hội nghiên cứu bảo tồn dược liệu thuộc Khu bảo tồn sinh quyển Đồng Nai nghe tiếng về củ sâm Mã Viện đã nhiều lần cử cán bộ đến nơi để nghiên cứu và mang mẫu đi phân tích. Họ còn đặt tên là sâm mắt ngỗng vì khi cắt ngang củ có những vết vân vi như cái mắt ngỗng nhưng dân trong vùng chẳng ai gọi thế.

Thấy sâm có nhiều dược tính quý, Hội định mở rộng diện tích trồng nhưng lúc đó vướng vào quy hoạch dự án làng dưỡng sinh và du lịch sinh thái Tuy Lai – Mỹ Đức của Công ty An Dưỡng Đường nên đành phải bỏ dở. Ông Biền bảo, người cán bộ vẫn thường lên Ắng Bằng nghiên cứu về sâm Mã Viện năm xưa sau đó rút về huyện Sóc Sơn (TP Hà Nội), trồng tới mấy chục ha sâm, giờ vẫn thỉnh thoảng được lên truyền hình. Còn tấm biển về sâm mắt ngỗng năm xưa Hội định cắm ở vùng nguyên liệu Ắng Bằng nay vẫn còn nằm lăn lóc ở nhà ông như một kỷ niệm về một giấc mơ đẹp thoáng qua nhanh.

Empty
Ông Bùi Xuân Biền bên tấm biển Hội nghiên cứu bảo tồn dược liệu. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Khu Ắng Bằng này nếu không có du lịch thì chỉ đầu tư vào trồng dược liệu là tốt nhất bởi chất đất, khí hậu rất đặc biệt. Xưa người Tàu đã trồng sâm ở đây hẳn là đã có nghiên cứu kỹ về chất đất, khí hậu rồi. Trước đây lúa tốt là do có bèo hoa dâu, còn sâm ở Ắng Bằng tốt là do có con rún – một loại rêu đá to như mộc nhĩ, che bóng mát cho nó, khi đói dân thường lấy cả rún về ăn. Thế nên mới có câu: “Ở đâu có rún là ở đó có sâm”. Khi sâm ít đi thì rún trên núi cũng mất dần”, ông Biền kể.

Trưởng khu Phùng Văn Bằng bảo với tôi rằng xưa trên Ắng Bằng sâm cũng không phải là ít nhưng do cỏ cây rậm rạp nên con người khó tìm thấy. Từ khi bà con ở khu kinh tế mới lên đây, làm vườn, làm nương, dọn sạch cỏ thì mới lộ ra nhiều cây sâm. Trong vườn nhà anh Bằng có hàng trăm cây như vậy, nhiều nhất “bản người rừng”, có những gốc đã 3 năm tuổi.

Empty
Anh Nguyễn Văn Hiệu đang dùng dao để đào sâm trong vườn nhà trưởng khu Phùng Văn Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Trong vườn nhà nào ở đây cũng có sâm, chỉ có ít hay nhiều mà thôi. Vườn nhà tôi sở dĩ có nhiều bởi thường xuyên dọn cỏ và giữ lại sâm. Những năm còn làm màu, mỗi năm tôi bán hơn 10kg sâm, mỗi kg được 1,2 – 1,4 triệu, dù không trồng gì cả mà cây tự phát tán, gieo hạt. Mùa đông là vụ quả chính còn hoa thì có quanh năm.  

Giờ tôi bỏ làm màu, cỏ mọc rườm rà, lấn hết sâm, cây nhỏ, lẫn trong cỏ không để ý được. Vừa rồi có người đặt gửi cho họ 200 gram hạt giống và 3kg sâm để về nghiên cứu nhưng tôi đành chịu vì giờ còn quá ít. Bình này tôi ngâm 1kg sâm với mật ong rừng, dù ngâm củ khô hay củ tươi sau này nước ra vẫn có màu vàng. Tôi đang tuổi khỏe nên uống hết cả bình sâm ngâm mật ong cũng chẳng biết tác dụng cụ thể, chỉ có các cháu nhỏ bị sốt hay ho uống vào mới rõ công hiệu nhất. Còn chất lượng của sâm Mã Viện tốt như thế nào cần phải có phân tích chuyên sâu”.

Cùng là sâm Ắng Bằng nhưng ở trên sườn núi cao tốt hơn hẳn sườn núi  thấp. Dịp cuối năm khi lá cây rạc đi, chất dồn vào củ thì dân trong xóm thu hoạch, ngâm cả củ sâm vào mật ong hoặc thái lát ra, phơi khô bỏ vào lọ cùng ít gạo nếp để hút ẩm. Khi con cháu sốt rét, sốt nóng họ lấy vài lát ra hấp cơm với mật ong rồi uống, nhai nuốt hết cả bã thì cơn sốt lập tức bị đẩy lùi, lại chơi được luôn chứ không bị mệt như uống thuốc Tây. Điều đặc biệt là trẻ con bị đi ngoài nặng, uống vào cũng nhanh lại người chứ không như nhiều loại sâm khác kị đi ngoài, đã được người xưa đúc kết thành câu “đau bụng uống nhân sâm thì tắc tử”.

Empty
Anh Nguyễn Văn Hiệu bên hai củ sâm vừa đào tặng tác giả. Ảnh: Dương Đình Tường.

Khi có người ốm cũng dùng theo cách tương tự. Như bố ông Nguyễn Văn Chể – nguyên Bí thư xã Tuy Lai bị ốm rất nặng, không thuốc gì chữa được, đang chờ thời khắc để “đi” thì có người hàng xóm mang cho mấy lát sâm Mã Viện. Thế mà uống xong ông khỏe lại, sống được thêm hơn 10 năm nữa mới chịu theo tiên tổ. Công hiệu là thế nhưng bởi từ xưa sâm Mã Viện trên dãy núi Ắng Bằng đã hiếm nên không có nhiều để lưu hành ra nơi khác, thành ra rất ít người biết tiếng.

Chiều hôm đó, Nguyễn Văn Hiệu cầm dao vào vườn nhà trưởng khu Phùng Văn Bằng đào tặng tôi 2 củ sâm. Tình cờ thế nào, về nhà thấy thằng con đang sốt cao trên 39oC, nằm đắp chăn run cầm cập, theo kinh nghiệm của người dân Ắng Bằng truyền lại, tôi bèn cắt vài lát sâm ra hấp với mật ong. Chỉ vừa uống và nhai nuốt cả bã sâm xong được mấy phút cơn sốt của nó đã bị đẩy lui. (Còn nữa)

“Xã khoán thầu đất trên núi Ắng Bằng cho bốn anh em tôi là Bản, Danh, Ba, Tư từ năm 1995 tới giờ để sản xuất, hiện tôi đang có đàn dê hơn 100 con, gà hơn 1.000 con. Trong khu vực chăn nuôi đó cũng có sâm, tôi thường lấy về ngâm với mật ong, nhờ đó mấy năm nay không bao giờ bị viêm họng nữa”, lời của anh Ba – một người chăn dê trên núi.

Dương Đình Tường

***

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Rắn hổ mang chúa và bình rượu thuốc khỏe cái này yếu cái kia

nongnghiepBình thường anh Lê Thanh Toán đã nói lắp, hôm ấy khi chạy từ trên núi Con Cò xuống càng lắp bắp hơn: ‘Tôi thấy con rắn t…o l…ắm, thân bằng c…ái l…ốp xe ấy’.

Bí quyết giải độc rắn bằng đít gà con

Chẳng phải riêng anh sợ mà cánh thợ săn người Mường ở tỉnh Hòa Bình dịp nọ lên núi cũng vội tụt xuống, mặt mày tái mét cả. Trên tay họ là cái xác rắn hổ mang chúa vừa lột, chỗ rộng nhất banh ra được gần hai gang tay. Nếu chẳng may đụng phải nó ở trên núi thì chỉ có cửa chết chứ không còn cửa sống.   

Anh Toán hay còn gọi là Ba Sậu – 58 tuổi là cư dân đợt hai của khu kinh tế mới Ắng Bằng ở xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Chính tay anh đã bắt được vô số rắn trong đó có con nặng hơn 5kg ở trong vườn na nhà mình: “Tôi lấy thanh sắt phi sáu có cái chạc chữ y ở đầu, chuyên dùng để bắt rắn chẹt vào đầu nó rồi tì chặt xuống đất. Nhưng bởi con rắn quá khỏe nên giẫy giụa làm cho thanh sắt cong lên, thoát ra được, quay lại tấn công hai vợ chồng khiến cho chúng tôi phải chạy theo hình chữ chi quanh các gốc na để tránh.

Nó treo cổ (dựng đứng nửa thân trên lên – PV) chạy một hồi mỏi quá mới hạ thân, cúi đầu xuống, không đuổi nữa. Thừa cơ hội, tôi lại dùng thanh sắt tì vào đầu nó ấn xuống. Nó thở phì phì, giương cặp mắt lấc láo như hạt na, óng ánh, nom rất sợ. Mới đây, đang lên núi Con Cò lấy dây rừng về làm thuốc thì tôi bỗng nghe tiếng bịch, tưởng ai vần đá dọa, quay lại mới thấy một đống lù lù to bằng cái mâm.

Empty
Anh Lê Thanh Toán đang miêu tả độ cao của con rắn hổ mang chúa nặng cỡ 12kg khi ngổng cao đầu. Ảnh: Dương Đình Tường.  

Bài liên quan

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Những ngôi nhà chỉ có một người sinh sống

Đó là con rắn hổ mang chúa, chắc đang bám vào cành cây khô thì bị gãy, rơi xuống. Đầu nó chạm đất nhưng đuôi vẫn còn móc ở trên cây, thân to như cái lốp xe máy, dài cỡ 6m, theo tôi ước lượng phải nặng 12kg. Sau khi rơi xuống, nó ngóc đầu lên mà đã cao bằng đầu tôi. Thành đá cao hơn đầu tôi mà ở dưới đất nó ngóc cổ cái là bám được vào luôn, bò đi thoăn thoắt trên vách đá. Nếu ở chỗ đất bằng tôi đã chạy vòng quanh để nó đuổi theo, khi nào mệt thì lấy cái que tì vào đầu là bắt được rồi nhưng ở trên núi thì chịu”.

Giờ nói cứng vậy thôi chứ mấy người ở “bản người rừng” Ắng Bằng hôm xóm thuê máy xúc lên đào chỗ con đập đều thấy vẻ mặt hớt hải của anh Toán khi chạy xuống từ núi Con Cò và lời kể lạc cả giọng vì sợ hãi. Bình thường hễ thấy rắn là anh bắt phát một nhưng buổi đó đúng là kỷ niệm nhớ đời. Mang từ góc buồng nhà ra cái bình rượu nhỏ bên trong có 5 con rắn gồm cặp nia, cặp nong, hổ mang đen, hổ mang trắng và săn chuột, anh bảo: “Tuổi của chú chưa nên uống rượu rắn hay cao trăn bởi tuy uống vào khỏe xương cốt nhưng lại yếu sinh lý đấy”.

Empty
Anh Lê Thanh Toán bên bình rượu ngâm 5 loại rắn. Ảnh: Dương Đình Tường.

Bài liên quan

Cách Hà Nội 40km có một ‘bản người rừng’: Củ sâm tương truyền của Mã Viện để lại trên Ắng Bằng

Vợ chồng anh khi mới lên núi đẻ được hai người con, về sau kinh tế bớt khó khăn muốn có thêm đứa nữa nhưng cố gắng mãi mà không thành. Đi khám bác sĩ, tốn bao tiền thuốc cũng thất bại. Thấy lạ bởi vợ chồng anh vẫn “sinh hoạt” đều được, bác sĩ mới hỏi anh có uống rượu rắn không, anh Toán thực thà kể rằng có uống trong mấy năm liền từ 1992 – 1997, hầu như hôm nào cũng vài chén, đôi lúc vui với bạn bè uống đến say thì thôi.

Ông bác sĩ nghe xong mới à lên một tiếng: “Thảo nào! Lũ rắn nó đã ăn hết đám “nòng nọc” của anh rồi. Giờ tôi cũng bó tay rồi”. Bực mình quá, anh về nhà đổ hết cả bình rượu 20 lít trong đó ngâm cỡ 10kg rắn đang uống dở đi. Tuy nhiên, sau này nghĩ mình đằng nào chẳng đã vô sinh rồi nên gặp rắn anh lại tiếp tục bắt để ngâm rượu uống. Nhờ nó mà anh đi xay đá hay bê đá không biết đau lưng là gì dù năm nay đã ngót 60 tuổi.

Ngoài kinh nghiệm bắt rắn, anh còn có bí kíp chữa nọc độc rất hay: “Bị rắn cắn cứ túm lấy con gà rồi dí đít nó vào chỗ vết cắn. Gà chết con này lại thay con khác vào, khi nào thấy không còn chết nữa là nọc độc đã hút được hết. Tôi chưa bị rắn cắn bao giờ nhưng dịp con chó của nhà đi theo lên núi săn rắn, lúc về cứ thấy nó rên ư ử. Tôi bới lông chỗ bả vai nó ra thấy vết cắn có bốn cái lỗ răng, hai cái trên to, hai cái nhỏ dưới biết ngay là rắn độc.

Tôi nhổ hết lông chỗ đó ra rồi bắt gà dí đít vào vết cắn. Đít gà mấp máy mấy cái là nó đã chết rồi, lại phải thay con khác. Mất 7 con gà bằng cái nắm tay như thế, đến con thứ 8 không chết nữa thì con chó cũng khỏi. Hổ mang chúa khi cắn vào ai thì chỉ khoảng 1 giờ là chết, con mà to 12kg như trên núi Con Cò, 2 cái răng bơm nọc độc của nó phải to cỡ nanh con chó thì chỉ một chốc là chết người ngay nếu không có sẵn cả đàn gà ở đấy để áp đít vào vết thương mà hút độc”.

Empty
Anh Lê Thanh Toán thị phạm cách dùng đít gà để dí vào vết cắn hút nọc độc rắn cắn trên con chó. Ảnh: Dương Đình Tường. 

Ông Bùi Xuân Biền năm nay 85 tuổi, trưởng nhóm di dân đợt đầu của khu kinh tế mới Ắng Bằng kể hồi nhỏ ở dưới làng, đã nghe bảo trên núi có nhiều loại thú dữ như hổ, báo, còn sơn dương mãi năm 1991 – 1992 cánh thợ săn ở mấy xã của tỉnh Hòa Bình giáp ranh đuổi chúng vẫn còn chạy lên. Hồi ông mới lên đây lập nghiệp, các loại cầy bạc má, chồn, vượn, sóc, dúi nhiều vô kể, đi một lúc là có thể bắn được vài con, giờ chỉ còn gà rừng, sóc, chồn, trăn và hổ mang chúa.

Rắn hổ mang chúa tuy là kịch độc nhưng cũng rất nhát, chỉ đột ngột va chạm phải mới cắn. Con hổ mang chúa to nhất mà anh Toán cùng cánh thợ săn Hòa Bình thấy sống ở thung Thiên. Thi thoảng người đi rừng nghe tiếng sột soạt trong búi lau, tiến đến xem, thấy động là nó ngóc cổ lên cao bằng với đầu người và bỏ chạy. Người thấy rắn kích cỡ lớn như thế cũng bỏ chạy, theo hướng ngược lại. 

Chỉ mấy tháng mà dân trong xóm đã sáp mặt tới 3 con trăn. Con thứ nhất khá nhỏ bị phát hiện khi mò vào chuồng gà; con thứ hai rất to bị phát hiện khi đang bơi dưới hồ để tìm cá ăn; con thứ ba cũng to không kém, bị phát hiện khi đang bò ở trên núi.

Empty
Những công trình phụ của một nhà dân ở Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

Người mơ đem lại ánh sáng cho Ắng Bằng

Khi tôi viết những dòng này thì bóng tối vĩnh cửu ở đầu khu Ắng Bằng đã bị đánh bật vì có cột đèn đường đầu tiên bằng năng lượng mặt trời do anh Nguyễn Văn Hiệu kêu gọi cộng đồng cùng đóng góp. Anh quê ở xã Tuy Lai, được đào tạo về ngành xã hội học trong trường đại học, tốt nghiệp xong đi làm tự do, thỉnh thoảng lại tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng. 

Ở dưới làng, Hiệu lọ mọ dọn rác, dọn cống, khơi thông dòng chảy. Dọn rác ven đường xong để tránh tình trạng dân lại vứt ra tiếp, anh bàn với các hội, đoàn thể trồng hoa vào đó. Từ những đoạn nhỏ dần lan ra cả xã, cứ tuyến đường nào hai bên trống thì lại trồng hoa. Thấy tuyến đường liên thôn hay có tai nạn vì quá tối, anh viết đơn trình UBND xã cho phép được huy động vốn xã hội hóa để lắp bóng đèn năng lượng mặt trời. Đầu tiên chỉ dự kiến 4 – 6 bóng, sau cuộc vận động trên facebook giờ đã được 12 bóng.

Empty
Anh Nguyễn Văn Hiệu mong muốn cuộc sống dân Ắng Bằng được đổi thay. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Sau khi làm việc ngoài xã hội, tôi muốn đóng góp một chút sức lực cho quê hương. Cách đây 2 năm quê tôi có 2 sự cố môi trường: Thứ nhất là lò đốt rác linh kiện điện tử gây ô nhiễm nhiều xã của huyện Mỹ Đức và mấy xã của tỉnh Hòa Bình, khi chính quyền vào cuộc mới dập tắt được.

Thứ hai là tình trạng đốt các bãi rác ở quê, người dân chặn không cho đổ rác nữa nên tồn đọng lại ở các khu dân cư gây ô nhiễm. Như bây giờ rác cũng đang cháy nên sắp tới tôi sẽ mở HTX dịch vụ môi trường, thay đổi hẳn về cách xử lý rác, chất thải chăn nuôi tại địa phương chứ như hiện nay họ đang biến chỗ ô nhiễm nhỏ thành ô nhiễm lớn, chuyển các đống rác nhỏ thành đống rác to, không ai để ý đến xử lý rác thải hữu cơ tại nguồn”, anh tâm sự.

Chương trình nông thôn mới rộng khắp Hà Nội nhưng riêng “bản người rừng” trên dãy Ắng Bằng bị lãng quên. Mấy năm trước anh mua lại mảnh đất của một cựu cư dân ở đây và muốn xin chính quyền cấp sổ đỏ cho cả xóm, sau đó phát triển du lịch cộng đồng.

Empty
Một loại kỳ hoa dị thảo ở trên núi Ắng Bằng. Ảnh: Dương Đình Tường.

“Hiếm có khu vực nào ở Hà Nội mà trên núi lại có thung lũng bằng phẳng, rộng khoảng 20ha và mát như Ắng Bằng, thêm vào đó dưới núi lại có những hồ nước rất đẹp. Tôi muốn làm du lịch cộng đồng bởi mong người dân có sinh kế vì nếu có dự án gì, nhận tiền đền bù rồi trở về họ đã quá độ tuổi lao động, kiếm việc khác là rất khó. Trong mơ ước của tôi, Ắng Bằng sẽ là điểm du lịch, giải trí không chỉ của địa phương mà còn cả Hà Nội. Gần đây cũng có một số nhóm du lịch lên đây nhưng chỉ là ban ngày, còn đêm đến, không có đèn chiếu sáng, đường xấu nên họ lại về. 

Nếu mà ý tưởng du lịch cộng đồng của tôi được chính quyền chấp thuận, có đường lên, mọi người sẽ đóng góp hiến đất để mở rộng đường, trồng dược liệu, làm du lịch. Như bản thân tôi đang sưu tầm các nông cụ ở vùng đồng bằng Bắc bộ, vùng núi như cày, bừa, cối đá, cân… để chuẩn bị mở điểm du lịch đầu tiên trên Ắng Bằng”, anh Nguyễn Văn Hiệu tâm sự. (Hết)

Theo anh Nguyễn Văn Hiệu, điểm yếu nhất hiện nay là việc huy động cộng đồng cùng tham gia để tăng độ lan tỏa, duy trì sự bền vững nên anh thường khởi nên việc đó.

Dương Đình Tường

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s