Sài Gòn nhớ nhớ thương thương – 10 kỳ

Sài Gòn nhớ nhớ thương thương – Kỳ 5: Bí mật ‘phi thuyền Apollo’ giữa Sài Gòn
30/10/2020 12:48 GMT+7
TTO – Giữa thập niên 1960, tháp bêtông như phi thuyền Apollo cao vút đã xuất hiện ngay cửa ngõ phía đông Sài Gòn bên đường Phan Thanh Giản (nay là đường Điện Biên Phủ, Q.Bình Thạnh) và trở thành hình ảnh thân quen suốt hơn nửa thế kỷ.
Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ 5: Bí mật phi thuyền Apollo giữa Sài Gòn - Ảnh 1.
 

“Phi thuyền Apollo” vẫn sừng sững ngay cầu Điện Biên Phủ hơn 50 năm qua – Ảnh: DIỆU QUÍ

Nhiều thế hệ trẻ thơ qua đường đã ngạc nhiên, chỉ trỏ hỏi cha mẹ “đó là cái gì?”, nhưng không mấy người biết để trả lời con…

Hồi trước 1975, tụi tui coi tivi thấy Mỹ phóng phi thuyền Apollo thành công, rồi Sài Gòn xây tháp y chang nên cứ tưởng để kỷ niệm hay quảng cáo gì đó. Đâu ai biết nó là một phần của nhà máy nước.

Bà TRẦN THỊ PHƯƠNG (73 tuổi, ở đường Điện Biên Phủ, Q.Bình Thạnh)

Lên đỉnh “Apollo”

Một chiều tháng 10, tôi đã lân la, hỏi thử mấy vị cao niên sống quanh tháp này nhưng thông tin cũng mờ mịt. Người trả lời đó là “tháp quảng cáo”, người nói là “radar bí mật của quân đội Mỹ” để lại, thậm chí có người còn đoan chắc nó mới được xây dựng sau năm 1975.

Thực tế rất ít người tận tường cột tháp như chiếc phi thuyền Apollo cao vút này chính là “chứng nhân” trải cùng bao dâu bể của Sài Gòn từ những năm tháng còn khói lửa chiến tranh và gắn liền với nguồn nước sạch thành phố.

Ngày nay, đường Phan Thanh Giản đã mang tên mới là Điện Biên Phủ. Cánh đồng ao trống trải bên đường ngày nào cũng đã san sát nhà cao tầng sang trọng, nhưng tháp “phi thuyền Apollo” thì vẫn còn đó.

Nếu đi từ ngã tư Hàng Xanh đến vòng xoay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Q.1), rất dễ nhìn thấy công trình độc đáo hình phi thuyền Apollo này nằm bên tay phải, sát chân cầu Điện Biên Phủ.

Thật ra, “phi thuyền Apollo” có vẻ rất bí ẩn này chính là trụ điều chỉnh áp lực nước (hay còn gọi là tháp cắt áp) được Mỹ xây dựng vào năm 1963 và đưa vào sử dụng năm 1966 cùng thời điểm với Nhà máy nước Thủ Đức – nhà máy nước lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ.

Tổng kinh phí dự trù khi đó hơn 18 triệu đôla Mỹ với nguồn nước được lấy từ làng Hóa An, cách TP Biên Hòa (Đồng Nai) 1,5km.

Trước đó, người Pháp đã làm nước máy ở Sài Gòn, nhưng chỉ có ở khu vực trung tâm, mặt tiền. Chỉ đến khi Nhà máy nước Thủ Đức ra đời thì nước máy mới được “phổ cập” đến 90% người dân ở thành phố.

Cũng từ thời điểm đó, tháp điều áp trên đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) trở thành một hình ảnh thân thuộc với người Sài Gòn. Nó chính là 1 trong 2 tháp cắt áp của Nhà máy nước Thủ Đức, trụ còn lại ở ngay nhà máy nước này, gần ngã tư Thủ Đức.

Để “mục sở thị” công trình độc đáo mà nhiều người lầm tưởng là… nơi dán quảng cáo, tôi được anh Vũ Trung – nhân viên kỹ thuật của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn TNHH MTV (Sawaco) – dẫn vào tham quan tháp nằm trong khuôn viên Nhà máy nước Thủ Đức.

Trụ tháp bằng bêtông đã hơn nửa thế kỷ, trông cũ kỹ nhưng còn bền chắc, bên trong có hai ống bơm Service (phục vụ – PV) nối thông với một ống bêtông cấp nước lớn bên dưới. Một ống dùng để bơm nước vào bể chứa trên tháp cắt áp, ống còn lại có nhiệm vụ thu nước về khi nước tràn vào đường ống bêtông lớn truyền tải nước sạch bên dưới.

Hai ống bơm này hoạt động luân phiên và không liên tục, trung bình mỗi ống bơm hoạt động khoảng 5-6 giờ/ngày.

Cạnh đó, một chiếc cầu thang bằng nhôm gắn chắc vào thành tháp để leo lên từng tầng. Tháp có 5 tầng, càng lên cao, tháp càng hẹp, tối và khó đi. Từ lúc bước vào, tôi được yêu cầu đeo đèn pin đội đầu để nhìn thấy lối đi.

Nấc thang thẳng đứng, hệt như leo núi nhân tạo, anh Trung dặn tôi phải cố bám chặt, bước thật chậm bởi nếu sơ sẩy trượt chân sẽ rất dễ bị tai nạn nghiêm trọng.

“Tháp này khó leo. Leo lên hay xuống gì cũng rất mất sức. Có người làm ở đây hơn chục năm chưa leo tới đỉnh bao giờ, nữ lại càng hiếm. Người thì tưởng tháp xây kín bên trong, không vào được. Cô mệt thì xuống chứ đừng cố leo lên, nhất là tầng 5” – anh Trung vừa leo vừa nhắc tôi.

Đúng như lời anh Trung, các bậc thang di chuyển từ tầng 4 lên tầng 5 phải độ hơn 20m, thẳng đứng hơn các tầng còn lại, chỉ cần đứng nhìn cũng dễ khiến người ta bỏ cuộc, huống hồ là leo, mà nhất là với cô gái quê đồng bằng chưa bao giờ tập leo cao như tôi.

 

Miệng tháp tối và hẹp. Trong quá trình leo, tôi mang balô nhỏ, mấy lần phải khựng lại để lách vì vướng các cạnh sàn, bụi bám đầy. Mất khá nhiều thời gian và sức lực, chúng tôi mới leo tới đỉnh tháp và… ngồi thở và ngắm thành phố từ góc nhìn hoàn toàn độc quyền.

Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ 5: Bí mật phi thuyền Apollo giữa Sài Gòn - Ảnh 3.

Bên trong “phi thuyền Apollo” – Ảnh: DIỆU QUÍ

“Ống thở” của đường cấp nước

Ái ngại nhìn cô nhà báo đầu tiên đặt chân lên được đỉnh tháp, anh Vũ Trung kể trụ tháp Nhà máy nước Thủ Đức và ở đường Điện Biên Phủ có sự gắn kết với nhau. Tháp ở Điện Biên Phủ cao 46m (theo giấy tờ ghi), đường kính 2m, công suất 1.500 mã lực, thấp hơn so với công suất 2.000 mã lực của tháp nằm ngay nhà máy nước.

Theo anh Trung, cả hai tháp đều có tác dụng cắt áp, chống va đập nước, điều hòa khi áp lực nước tăng đột ngột, bảo vệ đường ống và phòng ngừa sự cố. Tôi đứng trên tầng cao nhất của tháp, nhìn từ các ô cửa nhỏ có thể trông thấy các công đoạn xử lý nước của nhà máy nhằm cung cấp nước sạch cho người dân thành phố, và cả sự sầm uất của Q.Thủ Đức.

Bên trong tầng 5, bể chứa Service với dung tích 62m3 đang có tiếng “rào rào” do nước từ ống bơm bên dưới đẩy lên.

“Nói cho dễ hiểu là khi nước từ nhà máy bơm ra với áp lực quá cao, vượt thiết kế của đường ống thì đến tháp cắt áp, nước dâng lên cao rồi chảy ra ngoài, nhằm giảm áp lực nước. Nếu không, nước sẽ “chạy” vào tuyến ống nhỏ hơn dẫn đến tình trạng xì, bể đường ống” – anh Trung giải thích.

Ngoài ra còn một đường ống đi tắt có van phi 48 được điều khiển mở cho nước tự chảy về mạng lưới khi trạm bơm bị mất điện, nhưng nhà máy hiếm khi mất điện.

“Tôi làm ở đây đã 15 năm nhưng chỉ gặp hai, ba lần cúp điện dẫn đến sự cố nước trào trên đỉnh tháp. Ngoài ra không có sự cố gì thêm” – anh cho biết.

Theo thiết kế, mỗi trụ điều áp có tuổi thọ trung bình 100 năm. 54 năm trôi qua kể từ lúc chính thức đưa vào vận hành, ngoài việc trông bề ngoài cũ kỹ thì trụ tháp vẫn hoạt động ổn, nếu không nói là rất bền bỉ, chắc chắn.

“Tháp chống va được bảo trì theo định kỳ, cả bên trong lẫn bên ngoài. Phía ngoài xây bêtông chắc chắn lắm, chỉ sơn phết bình thường. Còn ở trong thì sơn các ống bơm chống ăn mòn để đảm bảo an toàn cho trụ” – anh Trung nói.

Trời chuyển mưa, tôi leo xuống tháp, lại khó nhọc chẳng khác gì leo lên nhưng lòng lại vui vui kỳ lạ. Với tôi, chiếc “phi thuyền Apollo” từ giờ đã trở nên thân quen, dễ hiểu hơn rồi, nhất là mỗi ngày mở vòi nước sạch…

“Lỗ mũi” của đường ống nước

Trần Tuấn Anh (24 tuổi, ngụ Q.Bình Thạnh) cho biết anh sống ở Sài Gòn từ nhỏ, thấy tháp nước như cơm bữa.

“Tôi thấy trụ này từ lúc nhỏ, cũng tò mò không biết nó là cái gì. Nhiều năm tôi tưởng người ta xây lên để dán quảng cáo vì nó nằm ngay trung tâm, rất dễ gây chú ý. Bạn tôi còn nghĩ đó là cột thu lôi, vì hỏi người lớn thì nhiều người cũng bó tay, chỉ biết nó được xây trước năm 1975” – anh Tuấn Anh nói.

Trong khi đó, một người dân hiếm hoi bên đường Điện Biên Phủ cho biết rõ hơn một chút: “Tôi không nhớ chính xác, nhưng biết nó được xây vào đầu thập niên 1960. Trụ tháp này ngày xưa được gọi là “lỗ mũi” hay “ống thở” của đường cấp nước bởi nó giúp giải tỏa áp lực nước. Nhưng giờ không biết còn hoạt động hay không vì thấy nó cũ rồi”.

**************

Với nhiều người Sài Gòn, làng đại học Thủ Đức vẫn còn trong bao nỗi nhớ nhung về sự yên bình và không gian học thuật giữa chiến cuộc…

 

DIỆU QUÍ
***
Sài Gòn nhớ nhớ thương thương – Kỳ 9: Bàn Cờ, giao điểm truân chuyên
03/11/2020 11:15 GMT+7

 

Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ 9: Bàn Cờ, giao điểm truân chuyên - Ảnh 1.
 

Con lộ Bàn Cờ và xóm “nhà cây” ven đường mới mở năm 1958 – Ảnh tư liệu

Vậy đấy, cái chốn tôi ở gần 50 năm, đang thay da đổi thịt vùn vụt như cả thành phố hiện giờ. Thế mà, mỗi sáng đạp xe dạo quanh phố xá mới mẻ, từng vòng xe vẫn đưa tôi về bao nhiêu hình ảnh và ký ức thân quen. Đây rồi, Bàn Cờ, cái xóm lam lũ một thời, cái xóm chở che bao phận người cao thấp, còn đó hay phôi pha trong một Sài Gòn mở rộng lớn lao.

Giao điểm vàng các quận phồn hoa

Trên bản đồ Sài Gòn năm 1955, có ghi Bàn Cờ là một khu vực lớn trải dài từ đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách Mạng Tháng Tám) đến đường Lý Thái Tổ. Năm 1967, mẹ tôi đổi từ nhà thuê ở đường Vĩnh Viễn, quận 10, sang nhà bà ngoại tôi trong hẻm 549 đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu), đối điện với chợ Bàn Cờ. 

Cả con hẻm dài ngoằng nhưng thẳng tắp, đều là nhà cây vách ván lụp xụp, phần lớn lợp mái tôn gỉ sét. Lác đác vẫn có nhà lợp lá dừa nước hoe hoe bụi bặm. Từ đó về sau, cái thằng nhóc tuổi con cọp dài lưng, bắt đầu lớn lên, la cà trong hàng chục con hẻm chạy dọc chạy ngang theo các đường Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Cao Thắng…

Chèn đét, những con hẻm có nhà cửa giông giống, khá đều đặn và vuông vắn, thông với nhau, qua lại dễ dàng. Chẳng trách, người lớn quen gọi đây là Bàn Cờ, một cái tên tượng hình, rất bình dân và dễ nhớ!

Cái thằng nhóc con dần dần nhận ra từ xóm Bàn Cờ đi đâu trong Sài Gòn cũng tiện. Này nhé, về phía quận 1, có Sở Thú là “thế giới thần tiên” của con nít. Lâu lâu cuối tuần, cậu tôi cho bọn nhóc trong nhà đi đến đấy bằng xe Honda. Xe từ Cao Thắng ra nhà thương Từ Dũ, cứ chạy một mạch trên đường Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai) là đến nơi. Quận 1 còn có nhà ga xe lửa, có chợ Bến Thành, đường Lê Lợi và đường Tự Do (Đồng Khởi), từ Bàn Cờ ra đấy “gần xịt”!

Có lần bọn nhóc lớp 5 chúng tôi, sau buổi học, rủ nhau chạy bộ ra “phố Sài Gòn”. Bọn tôi đi ngược đường Phan Đình Phùng đến chỗ ngã tư ông “Sư tự thiêu” (Thích Quảng Đức). Sau đó, quẹo phải đi thẳng đường Lê Văn Duyệt gặp “ông Phù Đổng” (tượng Phù Đổng Thiên Vương dựng ở bùng binh ngã sáu Sài Gòn), liền thấy xa xa cái tháp đồng hồ uy nghi của chợ Bến Thành. 

Quanh chợ có cái thương xá mang tên Mỹ là Crystal Palace (tên Việt là thương xá Tam Đa, có hai mặt phố Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và Nguyễn Trung Trực, sau tháng 4-1975 đổi thành Bách hóa tổng hợp và rồi Intershop, bị cháy năm 2002), nơi có cầu thang cuốn lạ lẫm, luôn cuốn hút trẻ nhỏ. Trong khi đó, Chợ Lớn cũ và Chợ Lớn mới (Chợ Lớn cũ có trước 1928, khu phố lớn Nhà bưu điện quận 5 ngày nay, Chợ Lớn mới là phần Chợ Lớn mở rộng sau 1928, với chợ Bình Tây là trung tâm, khu tiếp giáp quận 5 và quận 6) đều là “hàng xóm” của Bàn Cờ! Thỉnh thoảng, mẹ tôi vào chợ Bình Tây cất hàng, thường cho tôi đi cùng xích lô máy. Xe chạy từ ngã bảy theo đường Minh Mạng (Ngô Gia Tự) chỉ mươi phút là đến cái chợ khổng lồ ấy. 

Về phía quận 10, từ Bàn Cờ có thể đi bộ ra bến xe Đà Lạt (bến xe Petrus Ký, đường Lê Hồng Phong bây giờ), đi thêm một đoạn là đến Việt Nam Quốc Tự. Thêm chút nữa là Bệnh viện Nhi đồng và phở Tàu Bay nổi tiếng!

Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ 9: Bàn Cờ, giao điểm truân chuyên - Ảnh 2.

Cổng chào tam quan đường vào cư xá Đô Thành ngày nay, đây là dấu tích quy hoạch xóm thợ Bàn Cờ đầu những năm 1940 – Ảnh: PHÚC TIẾN

60 năm từ đồng lên phố

Thuở nhỏ, tôi chưa bao giờ tự hỏi xóm nhà mình nguyên thủy từ đâu đến. Mãi sau này, hỏi chuyện người già và sách sử, tôi mới hay Bàn Cờ đầu thế kỷ 20 chỉ là rìa đất trống vòng ngoài của đô thị Sài Gòn thời Pháp. Ngày ấy, phố xá Sài Gòn chỉ từ bến Nhà Rồng kéo vào khu Chợ Đũi (quanh khách sạn New World hiện tại) là hết. Chung quanh “nội ô” Sài Gòn vẫn còn bàu, đìa, đồng, vườn, dân cư thưa thớt. Từ khu Chợ Đũi có một con lộ độc đạo chạy lên Tây Ninh, mang tên Verdun (sau này là đường Lê Văn Duyệt), hai bên là đồng đất mênh mông, đầy mồ mả.

Trong đó, khu vực Đồng Mả Ngụy, tương truyền là nơi hàng ngàn binh lính và dân đen tham gia nổi loạn Lê Văn Khôi bị triều đình Minh Mạng xử chém và vùi xác. Sử gia Nguyễn Đình Đầu cho rằng Đồng Mả Ngụy nằm ở khoảng Công trường Dân Chủ kéo xuống quanh khu vực Bệnh viện Bình Dân bây giờ. Tôi nghĩ thuyết này đúng, bởi ngày xưa đi đâu trong các hẻm Bàn Cờ cũng thấy rải rác một hai gò mộ vô chủ, giống như gò mối đùn lên, xen lẫn nhà cửa.

 

Mãi đến thập niên 1930-1940, người Pháp bắt đầu có kế hoạch mở rộng đô thị Sài Gòn về hướng Chợ Lớn. Thông tin trên tạp chí Indochine và Nam Kỳ Tuần Báo 1943 -1944, cho biết cả vùng đất trống từ đường Verdun đổ xuống đại lộ Hui Bon Hua (Lý Thái Tổ) được quy hoạch là khu lao động của đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn. 

Có lẽ vì thế, tại đây mới hình thành việc chia ô, phân lô và lên “họa đồ” những ô nhà 3mx10m và những con hẻm ngang dọc, đầy đặn như Bàn Cờ. Chính cái cổng tam quan nguy nga ở đầu cư xá Đô Thành hiện tại (gần Bệnh viện Bình Dân) được xây từ dạo đó, là cột mốc và dấu tích về sự ra đời của “xóm thợ Bàn Cờ”.

Tuy nhiên, cuộc chiến Việt Pháp 1945-1954 đã làm dân các vùng quê “chạy loạn”, tràn về Sài Gòn như nước lũ. Do vậy, kế hoạch xây dựng “xóm thợ” quy củ tan vỡ, chính quyền chuyển khu vực Bàn Cờ trống trải thành đất cho các “trại tạm cư”. 

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, Việt kiều ở Mỹ, kể với tôi rằng nhà ông từ Tiền Giang phiêu dạt về đây vào những năm đó. Ông còn nhớ cả khu Bàn Cờ những năm 1950 chỉ toàn nhà lá và đường đất nhỏ hẹp. Cao ốc duy nhất trong vùng là khu cư xá 5 tầng của Pháp, chỉ mới xây, những năm 1953-1954, nằm ở đầu đường Cao Thắng (bây giờ vẫn còn nhưng tàn tạ!)

Sau khi Sài Gòn yên hàn, con lộ mang tên Bàn Cờ được mở thì khu đất này mới biến đổi lớn. Trong các tập báo xưa còn lưu ở thư viện thành phố, tôi tìm thấy phóng sự và ảnh chụp Tổng thống Ngô Đình Diệm đi thị sát xóm Bàn Cờ vào năm 1958. Trong ảnh, hai bên con lộ chính đều là “nhà cây” (nhà gỗ) một, hai tầng mới mọc, trông tinh tươm, ngay hàng thẳng lối. Trường tiểu học Phan Đình Phùng – ngôi trường đầu đời của tôi – cũng vừa được khánh thành lúc ấy, chỉ là nhà gạch một tầng lợp ngói nâu.

Cùng năm tháng đó, nằm kế bên Bệnh viện Bình Dân trên đường Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ ngày nay), cư xá Đô Thành ra đời theo một quy hoạch mới dành riêng cho công chức bậc thấp và bậc trung. Gần Bàn Cờ, khu Trường Petrus Ký (Lê Hồng Phong) rộng lớn được chia lại, dành đất cho “Khoa học Đại học đường” (nay là Đại học Khoa học tự nhiên), Đại học Sư phạm, Trường Sư phạm Sài Gòn. Do vậy, bỗng chốc công chức, y tá, nhà giáo, sinh viên, dân nghèo… ở khắp nơi đổ đến chọn Bàn Cờ làm chỗ ở, chỗ trọ và chốn sinh nhai càng nhiều, hòa trộn với “dân tạm cư” cũ!

Nếu lấy cái mốc 1957 làm thời điểm chính thức chuyển từ đất trống, đất tạm cư lên phố thị tân tiến, thì Bàn Cờ của chúng tôi đến nay ngoài “60 năm cuộc đời”! Chừng ấy năm tháng, tạo ra nhiều “văn vật” và phận người đa dạng, không thể nào quên…

Lớn lên, tôi nghiệm ra đích thị Bàn Cờ nằm ở vị trí “giao điểm vàng” giữa quận 1, quận 3, quận 5, quận 10 – những khu phồn hoa trung tâm lâu năm của Sài Gòn. Có lẽ đó là một trong những lý do khiến Bàn Cờ trong 20 năm trở lại đây ngày càng sầm uất, ngày càng chen chúc nhà lớn, nhà nhỏ đắt giá.

*****************

Ai biết Bàn Cờ hẳn nhớ đầu tiên là chợ, nơi tập trung và lan tỏa nhộn nhịp cho cả vùng. Và đây cũng là “cái túi” hội đủ phận người giàu, nghèo, trí thức, lao động…

 

PHÚC TIẾN
***
 
Sài Gòn nhớ nhớ thương thương – Kỳ cuối: Bàn Cờ, phố chợ thân quen

04/11/2020 12:29 GMT+7

TTO – Thời kỳ phát triển thứ hai của Bàn Cờ diễn ra từ năm 1969. Vốn dĩ, vào những ngày binh lửa, nhiều khu nhà lá bị cháy, nhất là khu Vườn Bà Lớn (nay là phường 1, quận 3). Khu lụp xụp ấy được tái thiết nhanh chóng.
Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ cuối: Bàn Cờ, phố chợ thân quen - Ảnh 1.

Khu Bàn Cờ trên bản đồ Sài Gòn 1955 (chưa có đường Bàn Cờ) – Ảnh tư liệu của tác giả

Lần đầu tiên, Sài Gòn có các chung cư bình dân (nay gọi nhà ở xã hội), trong số này có chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Dân nhà lá Bàn Cờ được “lên lầu”, cách sống thay đổi hẳn. 

Và rồi, các nhà mặt tiền dọc các con phố từ “nhà cây” lẹ làng “biến hình” thành nhà gạch nhiều tầng, buôn bán tấp nập.

Chợ của dân tứ xứ

Bàn Cờ từ cuối những năm 1960 giống như một khu phố lớn “kiểu mẫu” với nhiều tiện nghi: chợ, siêu thị mini, nhà hàng, cửa tiệm đủ loại và rồi trường học, đền chùa, nhà thờ, nhà bảo sanh, bệnh viện, bót cảnh sát… 

Nơi đây cũng là cái “túi người”, đầy đủ ngành nghề, đầy đủ Trung, Nam, Bắc và không thiếu người Hoa. Giàu, nghèo; trí thức và bình dân; quan chức và dân thường đều có mặt. Bàn Cờ là xã hội thu nhỏ điển hình của Sài Gòn qua các thời kỳ.

Ai biết Bàn Cờ, hẳn nhớ đầu tiên là chợ, nơi tập trung và lan tỏa nhộn nhịp cho cả vùng. Nhưng chợ Bàn Cờ không phải là chợ nhà lồng như chợ Tân Định hay chợ Phú Nhuận. Ngược lại, chợ chỉ họp trong hẻm, bắt đầu từ con hẻm lớn số 664 đường Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu) và rồi tỏa ra hai bên theo nhiều con hẻm nhỏ, giống như một bộ xương cá khổng lồ. 

Chợ cũng không chia thành nhiều khu chuyên bán một mặt hàng cụ thể. Người ta có thể mua rau, mua thịt ngay bên hàng chạp phô, hàng vải. Mua bún, mua trái cây, mua gà hay cá không xa hàng mã, hàng nón, hàng guốc dép. 

Trong chợ cũng có tiệm vàng, tiệm may, tiệm uốn tóc và quán ăn, quán nước đủ các kiểu. Bác tôi, mẹ tôi và dì tôi đều có sạp bán hàng ở chợ, nhờ đó đắp đổi cuộc sống qua ngày.

Thuở đầu, các sạp trong chợ đều bằng gỗ lợp tôn, có cái để trần, có cái gắn cửa gỗ hay cửa sắt chắc chắn. Khoảng những năm cuối 1980, các sạp chợ Bàn Cờ mới được xây kiên cố theo kiểu kiốt liền kề chật hẹp nhưng chỉ có ở con hẻm lớn. 

Còn chợ chồm hổm, lộ thiên và các nhà quanh các hẻm hóa thành cửa tiệm vẫn tồn tại cho đến tận bây giờ. Thậm chí có phần “bung ra”ồ ạt, trong đó những năm gần đây hẻm 51 Cao Thắng trở nên đông đúc từ sáng đến tối vì là nơi bán hàng giày dép, túi xách, valy “sida”. 

Còn hẻm 212 Nguyễn Thiện Thuật bỗng trở thành nơi bán quần áo, đồ chơi, bánh kẹo “hàng thùng”. Tất cả đều là hàng xài rồi hay hàng xách tay, hàng “tiểu ngạch”, “mại zô” (mua đi), không cần nói thách. 

Gần góc Cao Thắng, trên đường Phan Đình Phùng đầu những năm 1970 đã xuất hiện một “mini mart”, có tên gọi là “siêu thị Bàn Cờ” của tư nhân. Tại đây có hàng hóa đa dạng và bán hàng theo kiểu tự chọn, rất mới mẻ. Sau tháng 4-1975, siêu thị hiếm hoi này đóng cửa, ngôi nhà vẫn còn nhưng chỉ bán hàng lặt vặt.

Sài Gòn nhớ nhớ thương thương - Kỳ cuối: Bàn Cờ, phố chợ thân quen - Ảnh 2.

Chợ Bàn Cờ nay càng đông đúc hơn – Ảnh: TỰ TRUNG

Những hàng quán nổi danh

Trong khi ấy, quanh các đường phố lớn nhỏ của Bàn Cờ, có khá nhiều cửa tiệm và cơ sở thương mại, giải trí thuộc loại “số dách”(số 1) của Sài Gòn. Trước nhất là hàng ăn gốc Hà Nội, có đến hai tiệm phở Bắc lừng danh ở Hà thành di cư vào Nam đều tề tựu về đây. 

Đó là phở Nghi Xuân mở tiệm ở góc Cao Thắng – Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu) và phở Tàu Thủy trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Thêm nữa, bánh mì Hà Nội ở đường Nguyễn Thiện Thuật và bánh mì Hòa Mã ở đường Cao Thắng. 

Trong khi ấy, cà phê “chính hiệu Sài Gòn” không đâu qua mặt cà phê Năm Dưỡng và cà phê Cheo Leo nằm trong hai con hẻm lớn gần nhau, thông ra cả đường Lý Thái Tổ lẫn đường Nguyễn Thiện Thuật.

Mặt khác, không thể quên cái hẻm Mỹ Hương trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Con hẻm này và con hẻm đối diện thông ra chợ Bàn Cờ chính là một loại “food court” (khu ẩm thực nhiều loại) có từ rất sớm, bao gồm nhiều nhà hàng và xe hàng ăn. 

Trong đó, nổi bật ngoài các món nhậu, còn có cháo Tiều, mì, hủ tiếu, bánh cuốn, bánh mì kẹp thịt, bột chiên, cơm tấm, chè sâm bửu lượng…Hiện tại, hẻm Mỹ Hương và các con hẻm ăn uống gần đó vẫn hoạt động sôi nổi từ chiều đến đêm. 

Bổ sung vào danh sách “ẩm thực Bàn Cờ” còn phải kể đến chè Hiển Khánh trên đường Phan Đình Phùng và “hẻm cocktail” – phía sau chùa Kỳ Viên. 

Một dãy hàng bán yaourt, trái cây dầm, sinh tố ra đời trong hẻm này nhờ “ăn theo” trung tâm dạy thêm toán lý hóa của thầy Nguyễn Bác Dụng mở ra từ những năm 1980. 

Trong chợ trước năm 1978, có cái quán cà phê và mì Tàu đầy hương vị xưa như trong truyện của Bình Nguyên Lộc, nhưng rất tiếc chủ người Hoa sau đó phải ngưng hoạt động. Hai gian nhà lớn của quán trở thành cửa hàng hợp tác xã!

Trường học, bệnh viện, rạp hát, đền chùa…

Đối với tôi, Bàn Cờ còn là những ngôi trường đầu đời. Trường tiểu học công lập Phan Đình Phùng ở hẻm 491 Phan Đình Phùng là nơi tôi học từ lớp nhất đến lớp năm. Trên sân trường có một cây phượng lớn, đã đi vào bài tập làm văn của nhiều thế hệ học sinh. Trước cửa trường, có lớp dạy thêm luyện thi đệ thất (lớp 6) của cô Hạnh. 

Quang cảnh lớp giống như cảnh thầy đồ xưa dạy học. Cô ngồi giữa giảng bài, chung quanh là học trò ngồi yên ghi chép. Cô rất nghiêm, khi dạy luôn có… cây roi mây thật to để trên bàn. Trò hư, trò lười là bị cô cho “ăn roi mây” thẳng cánh! 

Trong khu Bàn Cờ, lạ thay, còn có khá nhiều trường tư, nổi tiếng nhất là Tiểu học Rạng Đông, kế đến Mẫu giáo và tiểu học Minh Tâm, Tiểu học Trường Sơn, Trung học Thăng Long, Trung học Trí Đức, Trung học Tiền Giang (đã giải thể).

Ngay tại Bàn Cờ có đến ba nhà bảo sanh tư: Đức Chính (đối diện rạp Đại Đồng), Đức Huệ (cạnh rạp Thăng Long) và Cô Mười (Phan Đình Phùng). Ngoài ra, còn có Viện Bài lao ở gần rạp Long Vân, trên đường Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ). 

Đặc biệt, ở chùa Phước Hòa, gần Trường Phan Đình Phùng, có một “chẩn y viện” là phòng khám từ thiện phục vụ người lớn, trẻ nhỏ miễn phí. Dân Bàn Cờ còn “hưởng lợi” từ bốn bệnh viện gần nhà, đó là Từ Dũ, Bình Dân, Nhi Đồng và Saint Paul!

Tại Bàn Cờ còn có nhà thờ và nhiều đền chùa. Nổi tiếng nhất là Tam Tông Miếu trên đường Cao Thắng và Kỳ Viên Tự trên đường Phan Đình Phùng. Không những thế, Bàn Cờ có đến ba rạp hát là Đại Đồng, Long Vân và Việt Long (về sau xây mới là rạp Capitol, sau 1975 đổi là Thăng Long). 

Khoảng năm 1973, tại góc đường Phan Đình Phùng – Bàn Cờ, mọc lên tòa nhà chi nhánh Ngân hàng Việt Nam Thương Tín, xây cất lộng lẫy. Trên đường Bàn Cờ ra đời nhà sách Thương Thương, nơi có thể tìm mua nhiều sách hay, không cần phải ra đến nhà sách Khai Trí trên đường Lê Lợi. 

Những năm 1974-1975, xe buýt đời mới thanh tú, thay thế cho “xe buýt vàng” kềnh càng xưa cũ, nhộn nhịp qua lại Bàn Cờ. Bọn nhỏ xóm tôi bắt đầu có cái thú “nhảy tọt” lên xe buýt để đi học, đi chơi nhanh gọn, thay vì đi bộ hay đi xe đạp.

Sau 30-4-1975, đất và người Bàn Cờ cũng như nhiều nơi khác trên đất Sài Gòn đã trải qua một thời kỳ biến đổi khó khăn, “lọ lem” hơn mười năm, nhớ lại càng thấy bùi ngùi. 

Nhưng rồi, may mắn, thời cuộc đổi mới đã diễn ra, tất cả các phường xóm của Sài Gòn không những hồi phục được sự phồn thịnh mà còn tiếp tục tiến triển bất ngờ. Với tôi, Bàn Cờ không chỉ là quê nhà ruột rà mà còn là những trang đời về lịch sử vùng đất và số phận con người vẫn chưa khám phá hết!

Từ xưa, chợ Bàn Cờ là “đại thương xá” giá rẻ không chỉ cho dân tại chỗ mà còn cho dân từ các quận khác tới, không kể sang hèn. Vào những buổi sáng cuối tuần, tôi thường gặp một loạt cánh “mày râu” ngồi gật gù trên xe Honda ở đầu các con hẻm dọc đường Bàn Cờ và Nguyễn Thiện Thuật.

Họ kiên nhẫn đợi các “bà xã” vào chợ “tảo thanh” hàng hóa hay đi uốn tóc, làm móng chân móng tay. Đôi lúc, tôi nhận ra có những vị giáo sư, bác sĩ khả kính vẫn không quên đảm đương vai trò “đức lang quân” chịu khó chờ vợ đi chợ!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s