Báo cáo đặc biệt về Chiến tranh lạnh Mỹ – Trung

Nghiên cứu quốc tế

Nguồn: Trade can no longer anchor America’s relationship with China“, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

1. Thương mại không còn là mỏ neo của quan hệ Mỹ – Trung

Kể từ khi Trung Quốc nổi lên từ đống đổ nát gây nên bởi chủ nghĩa Mao 40 năm trước, động cơ tìm kiếm lợi nhuận đã trở thành trụ cột cho sự ổn định trong quan hệ với Mỹ. Các ứng cử viên tổng thống có thể cáo buộc Trung Quốc ăn cắp công ăn việc làm của người Mỹ. Những vụ bê bối gián điệp có thể vẫn âm ỉ. Nhưng sau đó, các ông chủ doanh nghiệp và các chính trị gia ở cả Bắc Kinh và Washington đều quyết định rằng tất cả các bên đang kiếm được quá nhiều tiền nên không thể để cho mối quan hệ trở nên xấu đi. Việc hai bên tập trung vào những lợi ích tự thân này dẫn đến một thỏa hiệp khó chịu. Ngay sau khi quân đội Trung Quốc tàn sát hàng trăm, có thể là hàng ngàn người, tại Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989, Tổng thống George H.W. Bush đã viết thư riêng cho Đặng Tiểu Bình để thúc giục các nỗ lực chung nhằm ngăn chặn “những sự kiện bi thảm gần đây” gây hại cho quan hệ song phương. Khủng hoảng tài chính năm 2008 đã cho thấy một sự phụ thuộc lẫn nhau nguy hiểm giữa Mỹ, nhà nhập khẩu hàng giá rẻ, và Trung Quốc, nhà xuất khẩu hàng tiết kiệm. Các thuật ngữ mới đã xuất hiện để miêu tả cho sự cộng sinh này, như “Chimerica” hay “G2”.

Đột nhiên, việc kiếm tiền là chưa đủ. Trong vài năm qua, tranh luận về cách can dự với Trung Quốc sao cho hiệu quả đã nhường chỗ cho những thảo luận về cạnh tranh chiến lược và các mối đe dọa an ninh. Thay vì tìm các thuật ngữ mới hấp dẫn, các học giả lại đang quay lại các so sánh lịch sử. Một số nói về năm 1914, khi đụng độ giữa các tham vọng của Anh và Đức đã khiến mối quan hệ thương mại sâu sắc giữa hai nước bị gạt qua một bên. Các nhà phân tích Trung Quốc bị ám ảnh về “bẫy Thucydides”, thứ được cho là sẽ kích thích cường quốc đang nổi dậy gây chiến chống lại cường quốc đang thống trị, như sử gia Hy Lạp Thucydides đã viết về cuộc chiến giữa thành Sparta và thành Athens.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc luôn gây ra nhiễu loạn. Trung Quốc là đối thủ chiến lược đáng sợ nhất, đối thủ cạnh tranh kinh tế đáng kể nhất, đồng thời lại là đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ. Đó là một điều mới mẻ. Cú sốc Nhật Bản trong thập niên 1970 và 1980 đã khiến các chính trị gia đòi lập nên các rào cản bảo hộ khi thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ với Nhật Bản tăng gấp 25 lần trong vòng một thập niên. Nhưng đó là một cuộc chiến chính trị một chiều: Nhật Bản là một đồng minh quân sự phụ thuộc vào Mỹ. Còn đối với Liên Xô, đó là một đối thủ về ý thức hệ nhưng không phải là một đối thủ thương mại: năm 1987, thương mại song phương trị giá chỉ 2 tỷ đô la một năm, tức chưa bằng 0,25% tổng giao dịch thương mại của Mỹ với thế giới. Còn năm 2018, thương mại hai chiều giữa Mỹ và Trung Quốc đạt 2 tỷ đô la mỗi ngày, tương đương 13% tổng thương mại với toàn thế giới của Mỹ.

Các nhà phê bình cho rằng giới chóp bu hai nước nên nhìn thấy trước điều này. Các nhà lãnh đạo phương Tây đã hy vọng rằng việc gia nhập nền kinh tế toàn cầu sẽ khiến Trung Quốc trở nên giống phương Tây hơn vì một tầng lớp trung lưu đang phát triển sẽ đòi hỏi tự do ngôn luận và chính phủ có trách nhiệm giải trình. Họ đã sai. Khủng hoảng tài chính năm 2008 và những cơn co thắt của chủ nghĩa dân túy phương Tây đã khiến các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Chủ tịch Tập Cận Bình, cảm thấy tự tin hơn trong việc chối bỏ các chuẩn mực đó và khẳng định quyền lãnh đạo tối cao của đảng Cộng sản.

Cú sốc của Mỹ trở nên tồi tệ hơn nếu xét về thương mại trong lĩnh vực công nghệ vốn làm mờ ranh giới giữa thương mại và an ninh quốc gia. Việc chính quyền Trump phản đối việc cho phép Huawei, một công ty công nghệ Trung Quốc, xây dựng mạng viễn thông 5G cho Mỹ hoặc các đồng minh là một biểu hiện cho chiều hướng tương lai đó. Những cuộc tranh luận như vậy, về cơ bản, là về niềm tin, một “mặt hàng” ít quan trọng hơn nếu Trung Quốc xuất khẩu giày tennis và tivi thay vì những bộ vi mạch có thể giúp điều khiển xe tự lái trên đường và máy bay trên không. Tuy nhiên, các hình thức tự vệ vụng về đã gây hại. Việc định nghĩa các công nghệ nhạy cảm theo tiêu chí quá rộng, và theo lời của Henry Paulson, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ, một “bức màn sắt kinh tế” có thể sẽ chia rẽ Trung Quốc và Mỹ, làm tắc nghẽn các dòng chảy hàng hóa, vốn, con người và công nghệ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho phần còn lại của thế giới.

Tỉ trọng của TQ và Mỹ trong tổng thương mại hàng hóa toàn cầu. Nguồn: The Economist.

Sức mạnh công nghệ ngày càng tăng của Trung Quốc đang đặt ra những gánh nặng mới cho toàn cầu hóa, vượt ra ngoài những tranh luận cũ về công ăn việc làm bị Trung Quốc đánh cắp. Việc General Motors bán nhiều xe hơi ở Trung Quốc hơn ở Mỹ từng giúp cả hai nước kiểm soát sự khác biệt về ý thức hệ. Nhưng ngày nay, chuỗi cung ứng, vốn đưa các thiết bị bán dẫn từ Trung Quốc vào các thiết bị ở Mỹ, đang thực sự khiến rủi ro chính trị tăng cao hơn.

Các loại vũ khí giá hàng triệu đô la của Mỹ phải dựa vào các vi mạch có nguồn gốc từ nhiều công ty trên toàn cầu. Các cơ sở hạ tầng quan trọng có thể chứa các thành phần nhập từ hàng chục quốc gia, yêu cầu các bản cập nhật phần mềm từ một nhà cung cấp đóng trụ sở ở một lục địa nhất định và gửi các luồng dữ liệu thời gian thực đến một lục địa khác. Vào tháng Tư, một ban cố vấn đã cảnh báo Lầu Năm Góc phải lên kế hoạch cho “các mạng internet thương mại mà ở đó không được tin tưởng vào bất cứ ai”. Số lượng giao dịch kinh doanh ngày càng tăng đòi hỏi một sự gắn bó trọn đời với các nhà cung cấp dịch vụ từ xa. Trong thế giới này, quan hệ thương mại không thể được cách ly khỏi những câu hỏi cứng về việc các quốc gia đó là đối tác, đối thủ hay kẻ thù.

Trung Quốc có quyền muốn được phát triển mạnh hơn. Thành công của nước này trong việc giúp hàng trăm triệu người thoát nghèo là điều đáng ngưỡng mộ. Chính sự gai góc không ngừng trong các phương pháp của Trung Quốc đã biến việc kinh doanh từ một không gian an toàn sang một lĩnh vực đầy tranh chấp. Các công ty phương Tây lo rằng trước khi Trung Quốc thực sự mở cửa, họ sẽ bị đẩy ra ngoài ngay sau khi các công ty Trung Quốc đã học được, mua được hoặc đánh cắp đủ các bí quyết của phương Tây để trở nên tự chủ.

Không có gì để mất trừ chuỗi cung ứng của bạn

Rất ít người Mỹ có khả năng tiếp cận các lãnh đạo Trung Quốc tốt như ông Paulson, một người ủng hộ sự can dự với Trung Quốc lâu nay. Vì vậy, rất đáng chú ý khi hồi tháng Hai, ông tuyên bố rằng vì Trung Quốc đã chậm chạp trong việc mở cửa nền kinh tế kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, “cộng đồng doanh nghiệp Mỹ đã chuyển từ ủng hộ sang hoài nghi và thậm chí phản đối chính sách của chúng tôi đối với Trung Quốc”. Các ông chủ không muốn một cuộc chiến thuế quan, ông nói, nhưng muốn “một cách tiếp cận mang tính đối đầu hơn nữa”. Các doanh nghiệp đang đạt được điều đó từ chính quyền Trump.

Điều này phần nào được giải thích bởi sự thay đổi ông chủ của Phòng Bầu dục. Tổng thống Barack Obama cũng lên án các gian lận thương mại của Trung Quốc và ép Trung Quốc ngừng ăn cắp bí mật thương mại. Một cách muộn màng, các lãnh đạo Lầu Năm Góc của ông cũng đã ngày một bất an khi Trung Quốc biến các rạn san hô đang tranh chấp ở Biển Đông thành các tiền đồn quân sự. Nhưng cuối cùng, Obama đã ưu tiên hơn cho việc giải quyết các thách thức toàn cầu, từ biến đổi khí hậu đến các đại dịch hay phổ biến vũ khí hạt nhân, những thứ mà ông cần sự hợp tác của Trung Quốc. Các chính sách cứng rắn đã được thảo luận không hồi kết, rồi sau đó thường bị loại bỏ. Ngược lại, ông Trump tuyên bố rằng việc giải quyết các vấn đề của thế giới không phải là công việc của ông.

Nước Mỹ đã trở nên đối đầu hơn với Trung Quốc một phần khác bởi vì các doanh nghiệp đa quốc gia phản đối các rào cản thương mại đã mất đi sức mạnh trong thời đại dân túy. Một vòng kiểm soát xuất khẩu mới trong lĩnh vực công nghệ nhạy cảm và các quy tắc sàng lọc đầu tư chặt chẽ hơn vẫn còn trước mắt. Quá trình đó sẽ không kết thúc chỉ bằng một thỏa thuận ngừng bắn trong cuộc chiến thương mại của ông Trump.

Tổng thống Mỹ vừa là một triệu chứng vừa là một nguyên nhân cho sự thay đổi cách mà Mỹ nghĩ về sự cởi mở của mình với thế giới. Các cử tri đã bầu ra một nhà lãnh đạo với quan điểm “chân lý thuộc về kẻ mạnh”, người khinh miệt các liên minh, hoài nghi nền pháp quyền và các giá trị phổ quát, đồng thời  tin rằng lợi ích quốc gia luôn phải được đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh các lo ngại về gián điệp, các quy định về cấp thị thực cho sinh viên khoa học và công nghệ Trung Quốc đã được thắt chặt. Các đặc vụ FBI đã chất vấn các học giả đến từ các viện nghiên cứu của nhà nước Trung Quốc về quan hệ của họ với chính phủ Trung Quốc và hủy bỏ thị thực của một số người. Thay vì Trung Quốc trở nên “phương Tây” hơn, Mỹ lại đang trở nên “Trung Quốc” hơn.

Trong khi đó, các quan chức ở Bắc Kinh lại coi Mỹ như một cường quốc thua cuộc cay cú, đang tìm cách ghìm Trung Quốc xuống. Họ chế giễu ý tưởng rằng một nước Mỹ giàu có, nhiều đặc quyền đặc lợi thực sự cảm thấy bị đe dọa, thay vào đó họ nhìn thấy ở đó một mưu đồ để đạt được các điều khoản tốt hơn giúp các công ty Mỹ kiếm tiền. Quan điểm này bỏ qua cách mà bao nhiêu người ở Washington đang tin rằng mối đe dọa Trung Quốc là có thật và quan trọng hơn lợi nhuận hay các nguyên tắc của thị trường tự do. Thật vậy, các quan chức đã buộc tội các công ty giữ im lặng khi các gián điệp Trung Quốc ăn cắp tài sản trí tuệ, để họ giữ thể diện và tiếp tục được tiếp cận thị trường Trung Quốc.

Một quan chức cấp cao của Mỹ nói rằng Trung Quốc đã nói dối trơ tráo khi hứa với ông Obama vào năm 2015 rằng các chủ thể được nhà nước Trung Quốc hậu thuẫn sẽ ngừng ăn cắp thông tin từ Mỹ để kiếm lợi nhuận. Các quan chức than thở rằng, trong vòng xoáy tin tức điên đảo ở Washington, ít ai để ý đến một bản cáo trạng của Bộ Tư pháp vào tháng 12 năm 2018, trong đó cáo buộc Bộ An ninh Nhà nước Trung Quốc có quan hệ với một chiến dịch lâu dài của nhóm tin tặc Apt10, nhóm đánh cắp bí mật từ các công ty hàng không, vũ trụ , dược phẩm, dầu khí, hàng hải và các công nghệ khác. “Về cơ bản, họ đã có được những viên ngọc quý của hàng trăm, hàng nghìn công ty lớn nhất thế giới”, ông nói.

Con lắc có nguy cơ lắc quá xa. Một số người phì cười khi hồi tháng 3 Ủy ban về Đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS), một cơ quan chính phủ có nhiệm vụ sàng lọc các thỏa thuận đầu tư nước ngoài vào Mỹ để loại bỏ các rủi ro an ninh, đã yêu cầu một công ty internet Trung Quốc bán Grindr, một ứng dụng hẹn hò cho người đồng tính có 3,3 triệu người dùng hàng ngày. Trên thực tế CFIUS có thể có lý do. Một ứng dụng cho người đồng tính có thể là một công cụ tống tiền, và cảnh sát Trung Quốc thường xuyên lấy dữ liệu từ các phương tiện truyền thông xã hội tại Trung Quốc. Tương tự là việc Thượng viện Hoa Kỳ cấm Washington, DC, không được sử dụng tiền ngân sách để mua các toa tàu điện ngầm được sản xuất tại Mỹ bởi một công ty nhà nước Trung Quốc, đề phòng trường hợp các máy quay an ninh trên tàu được sử dụng cho mục đích gián điệp.

Mặc dù Trung Quốc thiếu các liên minh chính thức từng khiến Liên Xô trở thành mối đe dọa toàn cầu, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc đã chi phối các cuộc tranh luận của Lầu Năm Góc về tương lai của chiến tranh. Kể từ những năm 1980, Mỹ đã theo đuổi học thuyết về “hiện diện tiền phương”, có nghĩa là các lực lượng của Mỹ có thể tự tin về việc hoạt động gần với hệ thống phòng thủ của kẻ thù. Sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc mang lại cho các nhà hoạch định của Lầu Năm Góc một quyết định khó khăn nhất mà họ từng đối mặt trong nhiều năm qua: tìm ra những cách mới để khiến việc tác chiến ở Tây Thái Bình Dương trở nên khả thi, hay kéo quân lui ra xa và buộc đối thủ (chỉ Trung Quốc) phải chiến đấu cách xa địa bàn nhà.

Karl Eikenberry là một chuyên gia Trung Quốc trong quân đội Hoa Kỳ, người đã trở thành một trung tướng rồi sau đó là đại sứ Mỹ tại Afghanistan. Bây giờ đang làm việc tại Đại học Stanford, ông mô tả cách các chỉ huy đang vật lộn với sự kết thúc của thời kỳ Mỹ chiếm ưu thế áp đảo: “Đang có một cuộc tranh luận gay gắt trong các lực lượng vũ trang Mỹ về cách chống lại các nỗ lực tăng tốc của Giải phóng Quân Trung Quốc (PLA) nhằm kiểm soát Biển Đông”.

Báo cáo này sẽ xem xét các quan điểm trái ngược nhau nhìn từ Washington và Bắc Kinh về cách thức quản lý các khía cạnh công nghệ, quân sự, kinh tế và chính trị của một cuộc ghanh đua quyền lực vẫn còn mới đến mức hai bên thậm chí chưa thể đồng ý về định nghĩa như thế nào là một mối quan hệ thành công. Hai bên phải tìm ra các quy tắc chung. Tóm tắt về thách thức quân sự của Eikenberry có thể áp dụng được cho toàn bộ mối quan hệ này: “Cần phải có một học thuyết mới”.

Nguồn: In Washington, talk of a China threat cuts across the political divide“, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

2. Quan điểm chống Trung Quốc áp đảo trong mọi tầng lớp chính trị Mỹ

Tháng Mười năm ngoái, các ông chủ của một số công ty lớn trong các ngành công nghiệp sáng tạo đã được mời đến một văn phòng phụ cạnh Nhà Trắng. Dưới những bức bích họa trên trần cao của Phòng Indian Treaty (trước là Thư viện Bộ Hải quân – ND), các giám đốc điều hành đã ký một bản cam kết không tiết lộ thông tin trong một ngày, qua đó cho phép họ được xem các tài liệu mật. Sau đó, Giám đốc Tình báo Quốc gia Dan Coats và hai thượng nghị sĩ trình bày cho họ nghe cách Trung Quốc đánh cắp bí mật của họ.

Sự kiện không được công bố này là ý tưởng của Thượng nghị sĩ Mark Warner đại diện cho bang Virginia, một đảng viên Dân chủ cao cấp trong Ủy ban Tình báo Thượng viện và bản thân là một nhà đầu tư công nghệ thành công. Tham gia cùng ông là Thượng nghị sĩ Marco Rubio đại diện bang Florida, một đảng viên Cộng hòa trong ủy ban.

Các vụ bắt giữ những người bị cáo buộc là gián điệp của Trung Quốc gần đây chỉ tiết lộ một phần nhỏ những gì đang diễn ra, ông Rubio nói. Trung Quốc “là mối đe dọa toàn diện nhất mà đất nước chúng ta từng phải đối mặt”. Mục đích, ông khẳng định, không phải là để kéo Trung Quốc xuống mà là để giữ gìn hòa bình. Ông nhận thấy một sự mất cân bằng trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc mà nếu không được giải quyết thì chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột rất nguy hiểm.

Phát biểu một cách gãy gọn trong văn phòng Thượng viện của mình, ông Rubio chỉ trích một mô hình kinh tế khiến các giám đốc điều hành phải tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn. Ông buộc tội là Trung Quốc đã học cách sử dụng hệ thống đó để biến các công ty thành những “người ủng hộ” (chính sách của Trung Quốc). Các chính trị gia thường xuyên thề sẽ cứng rắn với vấn đề gian lận của Trung Quốc. “Sau đó, những giám đốc điều hành này sẽ được Trung Quốc sử dụng nhằm làm cho Nhà Trắng xuống nước”.

Các nhà đầu tư mạo hiểm cũng đã được mời tới tham dự các buổi nói chuyện về Trung Quốc của Warner và Rubio. Rubio phàn nàn rằng kế hoạch kinh doanh của một số công ty công nghệ ở Thung lũng Silicon là nhằm bán lại công ty mà không quan tâm tới việc các nhà đầu tư là người Trung Quốc hay không.

Các nghị sĩ Quốc hội đã soạn thảo các đề xuất cho một loạt các biện pháp kiểm soát xuất khẩu mới đối với các sản phẩm được coi là quan trọng đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc gia, đặc biệt là sản phẩm của các ngành công nghiệp được coi là ưu tiên trong kế hoạch “Made in China 2025”. Đó là kế hoạch của Trung Quốc nhằm xây dựng các công ty dẫn đầu thế giới trong mười lĩnh vực công nghệ cao. Các khoản đầu tư của Trung Quốc phải đối mặt với sự giám sát chặt chẽ hơn bao giờ hết của Ủy ban Đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS). Đạo luật Hiện đại hóa Đánh giá Rủi ro Đầu tư Nước ngoài gần đây đã mở rộng phạm vi giám sát của CFIUS sang các lĩnh vực mới, chẳng hạn như mua bất động sản gần các địa điểm nhạy cảm. Một kế hoạch thí điểm đã bắt buộc phải xem xét cổ đông nước ngoài trong một loạt các “công nghệ trọng yếu”. Ông Rubio coi viễn thông, điện toán lượng tử, trí tuệ nhân tạo và bất kỳ ngành công nghiệp nào thu thập các tập dữ liệu lớn đều là những ngành mà ông muốn đóng cửa với Trung Quốc.

Việc tiến hành các buổi thuyết trình hồi tháng Mười – một nỗ lực lưỡng đảng với sự tham gia của Quốc hội và các cơ quan tình báo, gần với Nhà Trắng nhưng không nhất thiết phải thuộc Nhà Trắng – đã cho thấy nhiều điều. Quan điểm về Trung Quốc đã trở nên cứng rắn trong toàn bộ các cơ quan chính quyền tại Washington. Một sự đồng thuận cứng rắn mới đã đoàn kết những gì có thể được gọi là bộ máy chính sách đối ngoại của Mỹ, bao gồm các thành viên của cả hai đảng trong Quốc hội, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, Bộ Tư pháp, các cơ quan tình báo và Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống. Bộ máy còn bao gồm Phó Tổng thống Mike Pence, người đã biến một bài phát biểu vào hồi tháng 10 năm ngoái thành một bản cáo trạng lên án những hành vi sai trái của Trung Quốc. Ông Trump đứng ở một vị trí tách biệt.

Những người đứng đầu Lầu Năm Góc và các thành viên Quốc hội ngày càng công khai gióng lên hồi chuông cảnh báo về ý định của Trung Quốc đối với Đài Loan, hòn đảo dân chủ 24 triệu dân mà Mỹ gọi là đồng minh nhưng Trung Quốc tuyên bố là một phần lãnh thổ của mình, có thể tái thống nhất bằng vũ lực nếu cần thiết. Trước sự phản đối của Trung Quốc, Quốc hội đã thông qua các đạo luật thể hiện sự đoàn kết với Đài Loan, kêu gọi chính phủ cho phép các bộ trưởng và tàu chiến Mỹ đến thăm hòn đảo này. Một số trợ lý thân cận nhất của Tổng thống Donald Trump là những người ủng hộ Đài Loan từ lâu. Khi mới là tổng thống đắc cử hồi năm 2016, ông Trump đã được thuyết phục nói chuyện điện thoại với Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn. Kể từ đó, ông Trump đã chặn các đề xuất tiến hành các chuyến thăm cấp cao nhằm thể hiện sự ủng hộ đối với Đài Loan như là một đồng minh dân chủ. Ông coi các đồng minh là một gánh nặng và một Trung Quốc hùng mạnh là một đối tác của Mỹ.

Anh ở bên nào?

Làm sáng tỏ một quan điểm thống nhất về Trung Quốc trong nội bộ chính quyền Trump là rất khó. Các trợ lý của Trump sử dụng các ngôn ngữ rất cứng rắn về Trung Quốc. Đề cập đến việc đàn áp người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo đã gọi Trung Quốc là “một trong những quốc gia tồi tệ nhất về nhân quyền mà chúng ta từng thấy từ những năm 1930”. Giọng điệu đó là một dấu hiệu cho thấy ông chủ của họ đã sẵn sàng bỏ qua sự lịch thiệp ngoại giao. Nhưng trong khi quan điểm của Trump về Trung Quốc khá trùng lặp với quan điểm của bộ máy ở Washington, thì các quan điểm đó không giống nhau hoàn toàn. Nhiều quan chức thật sự thấy chán ngấy với tình hình Tân Cương, nơi có lẽ một triệu người Duy Ngô Nhĩ đang bị giam giữ trong các trại cải tạo. Khi được hỏi các quan hệ làm ăn giữa Mỹ và Trung Quốc có thể cùng tồn tại với các chính sách cứng rắn được không, một quan chức cấp cao của chính quyền Trump trả lời: “Các trại tập trung thực sự làm hỏng không khí của mối quan hệ, thật không?”

Tuy nhiên, các cuộc thảo luận về nhân quyền theo kiểu Chiến tranh Lạnh rất ít được ông Trump quan tâm. Michael Pillsbury là một chuyên gia về Trung Quốc tại Viện Hudson, một viện nghiên cứu chính sách và là một tổ chức tư vấn bên ngoài của Nhà Trắng. Theo quan điểm của ông, Tổng thống Trump không phải là “một người có quan điểm ‘siêu diều hâu’ về Trung Quốc”. Những vấn đề như Đài Loan hay Tân Cương không thu hút được sự chú ý của ông Trump nhiều như vấn đề thương mại, ông thừa nhận. Ngay cả trong vấn đề thương mại, Pillsbury cho rằng ông Trump thận trọng hơn các cố vấn như Peter Navarro, người muốn các công ty Mỹ rời khỏi Trung Quốc. Ông Trump thường nói rằng ông không muốn làm tổn thương nền kinh tế Trung Quốc, Pillsbury lưu ý. “Ông ấy coi Trung Quốc như là một nguồn lợi nhuận và đầu tư”.

Bộ máy chính quyền ở Washington muốn thay đổi các nguyên tắc cơ bản định hướng cho sự trỗi dậy của Trung Quốc. Ngược lại, ông Trump ca ngợi Chủ tịch Tập Cận Bình vì đã đặt lợi ích của Trung Quốc lên hàng đầu.

Tuy nhiên, ông Trump có thể bị các trợ lý gây khó chịu khi họ nói với ông rằng Trung Quốc đang “ăn cắp bí mật của chúng ta”. Ông cũng nhìn thấy rủi ro chính trị trong bất kỳ thỏa thuận thương mại nào có thể bị coi là mềm yếu. “Tổng thống hiểu rất rõ rằng đảng Dân chủ đang chờ đợi ông nương tay với Trung Quốc”, Pillsbury nói. Thượng nghị sĩ Chris Coons, một đảng viên Dân chủ, đồng ý rằng cứng rắn với Trung Quốc trong Quốc hội Mỹ ngày nay “tương đương với thời những năm 1950 khi không có rủi ro chính trị nào trong việc thể hiện quan điểm chống Liên Xô”.

Một điều đáng nói là việc ông Trump tuyên bố nâng thuế đối với Trung Quốc vào ngày 10 tháng 5 đi kèm với các bài dòng tweet mang tính phòng thủ khẳng định rằng Trung Quốc trông chờ một đảng Dân chủ “rất yếu” sẽ thắng trong cuộc bầu cử năm 2020. Một quan chức cao cấp của chính quyền Trump nỗ lực dung hòa các nhóm khác nhau. Mục đích không phải là cắt đứt quan hệ kinh tế, ông nói. Nhưng trong các ngành công nghiệp nhạy cảm, “rủi ro chính trị và tài chính xuất phát từ hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng lên”.

Các quan chức Trung Quốc ngày nay luôn bị ám ảnh về các bất đồng trong chính quyền Trump, họ không nhận ra rằng sự cứng rắn tại Washington về vấn đề Trung Quốc xuất hiện từ trước Trump và sẽ tồn tại ngay cả sau khi ông Trump không còn. Evan Medeiros tại Đại học Georgetown, từng là cố vấn châu Á của Tổng thống Barack Obama, lưu ý rằng, “một bộ máy chính quyền thiên về một mối quan hệ Mỹ – Trung đối địch hơn nhiều đang đã được hình thành”.

Cần có quan điểm phù hợp

Tháng 11 năm ngoái, Bộ Tư pháp đã thành lập Sáng kiến ​​Đe dọa Trung Quốc (China Threat Initiative), với sự tham gia của các công tố viên và điều tra viên FBI, nhằm phát hiện các nỗ lực của Trung Quốc trong việc đánh cắp bí mật thương mại và tác động đến công luận, đặc biệt là tại các trường đại học. Tại Bộ An ninh Nội địa, một Trung tâm Quản lý Rủi ro Quốc gia mới thành lập đã theo dõi các công ty rủi ro cao đang xây dựng các cơ sở hạ tầng quan trọng. Một văn phòng thuộc Bộ Ngoại giao trước đây tập trung vào khủng bố mang tên Trung tâm Can dự Toàn cầu hiện có một nhiệm vụ mới là chống lại tuyên truyền từ Trung Quốc, Nga và Iran.

Sự lo lắng của Lầu Năm Góc về Trung Quốc trùng hợp với một nhận thức rằng khi quân đội dựa vào các thiết bị công nghệ cao, các cuộc tấn công mạng có thể gây hậu quả tàn khốc. Eikenberry, vị tướng hồi hưu, nhận xét rằng trong những năm 1970 hoặc 1980, có lẽ 70% công nghệ quan trọng đối với các chỉ huy quân sự đều thuộc sở hữu của chính phủ, và phần còn lại được mua từ thị trường thương mại. “Bây giờ 70% là mua từ thị trường, phần lớn là từ Thung lũng Silicon”, ông nói. Do đó, khi các nhà đàm phán thương mại Mỹ tranh luận về chính sách đối với Trung Quốc, “các quan chức an ninh đều có mặt trong phòng”.

Một nghiên cứu do Lầu Năm Góc đặt hàng mang tên “Cung cấp một cách an toàn”, cảnh báo rằng chuỗi cung ứng không an toàn gây nên những “rủi ro nghiêm trọng” cho các lực lượng vũ trang của Mỹ, từ việc bị hack tới phá hoại công nghệ cao, chẳng hạn như bằng cách chèn các phần mềm độc hại hoặc các cấu phần được thiết kế để hỏng hóc trong chiến đấu. Một nghiên cứu bởi tổ chức Mitre lưu ý rằng các máy bay chiến đấu hiện đại có thể phải dựa vào tới 10 triệu dòng mã phần mềm, vì vậy việc các công ty công nghệ sử dụng các mã không rõ nguồn gốc, như một số công ty đang làm, là rất nguy hiểm.

Lãnh đạo Lầu Năm Góc đã tạo ra một cơ quan mới gọi là Văn phòng Phân tích Kinh tế và Thương mại với nhiệm vụ bao gồm việc rà soát các hợp đồng quốc phòng dành cho các công ty Trung Quốc, cho đến các nhà cung cấp hàng thứ ba. James Mulvenon, một chuyên gia về an ninh mạng Trung Quốc, giải thích rằng “Lầu Năm Góc đã quyết định chất bán dẫn là ‘ngọn đồi’ nơi họ sẵn sàng chiến đấu đến chết. Chất bán dẫn là ngành công nghiệp quan trọng nhất mà Mỹ phải dẫn đầu, và là ngành mà dựa vào đó mọi thứ khác được sản xuất”. Ông đã chứng kiến nhiều hợp đồng quốc phòng có giá trị cao được trao cho các nhà sản xuất bán dẫn ở Mỹ.

Randall Schriver là trợ lý bộ trưởng quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và là chuyên gia về Trung Quốc. Khi được hỏi liệu Lầu Năm Góc có ép các doanh nghiệp rời khỏi Trung Quốc hay không, ông trả lời một cách thận trọng. “Các công ty có thể làm những gì các công ty muốn. Chúng tôi nhận thức rõ hơn và quan tâm hơn nhiều đến việc giải quyết các điểm yếu trong chuỗi cung ứng quốc phòng của mình”.

Các quan chức ở Washington đã đi xa hơn câu hỏi Trung Quốc là đối tác hay đối thủ. Cuộc tranh luận duy nhất còn lại liên quan đến quy mô tham vọng của Trung Quốc. Theo ông Rubio, ông Tập cho rằng “vị trí phù hợp của Trung Quốc là quốc gia hùng mạnh nhất thế giới”.

Một số viên chức bổ nhiệm chính trị trong Bộ Ngoại giao của ông Pompeo có vẻ muốn tuyên bố rằng một cuộc đụng độ giữa các nền văn minh Đông-Tây đang diễn ra. Vào ngày 29 tháng 4, Giám đốc hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao, Kiron Skinner, đã phát biểu tại một diễn đàn tổ chức bởi New America, một viện nghiên cứu tại Washington, rằng đã  đến lúc cần có một chiến lược Trung Quốc tương tự như chiến lược ngăn chặn của George Kennan dành cho Liên Xô. Vẫn chưa hài lòng với điều đó, bà Skinner nói rằng Trung Quốc là một vấn đề khó khăn hơn. “Liên Xô và cuộc cạnh tranh đó, theo một cách nào đó, là một cuộc nội chiến trong gia đình phương Tây”, bà nói, nhắc  tới nguồn gốc phương Tây của các ý tưởng của Karl Marx. “Đây là lần đầu tiên chúng ta có một đối thủ cường quốc cạnh tranh mà không phải là người da trắng”.

Bỏ qua quan điểm phi lịch sử trong những lời bình luận của bà Skinner – bởi đảng Cộng sản Trung Quốc cũng dựa vào các tư tưởng của Marx và Lenin – các bình luận này khó có thể đứng vững. Một cuộc đụng độ giữa các nền văn minh sẽ không có chỗ cho những người theo tư tưởng tự do ở Trung Quốc, chứ đừng nói đến Đài Loan, một nền dân chủ có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa Trung Quốc. Còn đối với ý tưởng ngăn chặn một trong hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, điều đó cũng sẽ là một điều vô nghĩa ngay cả khi các đồng minh của Mỹ và các quốc gia khác sẵn sàng giúp đỡ, và thực tế là họ không sẵn lòng làm như vậy.

Tuy nhiên cũng có những tiếng nói thận trọng hơn. Một bài tiểu luận viết cho Viện Paulson gần đây của Evan Feigenbaum, một chuyên gia châu Á trong chính quyền của Tổng thống George W. Bush, lập luận rằng những người cáo buộc Trung Quốc đang tìm cách thiết lập lại trật tự toàn cầu vừa sai, vừa chưa nói đủ các thách thức. Trung Quốc là quốc gia xét lại có chọn lọc, Feigenbaum viết. Thay vì tìm cách thay thế hệ thống quốc tế hiện tại, Trung Quốc vẫn duy trì nhiều “hình thức” của chủ nghĩa đa phương, đồng thời phá hoại các “quy chuẩn” từ bên trong Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác.

Trong một khoảng thời gian giải lao giữa các cuộc bỏ phiếu, tại một văn phòng không có cửa sổ nằm sâu trong Tòa nhà Quốc hội, ông Coons kêu gọi Quốc hội hãy cố gắng đối phó với Trung Quốc như bản chất Trung Quốc vốn có, chứ không phải với một Trung Quốc như Mỹ mong muốn. Ông không nghĩ rằng Trung Quốc ghét bỏ ý tưởng về một trật tự dựa trên các quy tắc, nhưng thừa nhận rằng Trung Quốc “có hành vi cực kỳ tồi tệ trên sân khấu kinh tế thế giới”. Ở Washington ngày nay, nói như vậy đã là ôn hòa lắm rồi.

 

Nguồn: In Beijing, views of America have become deeply cynical”, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

3. Trung Quốc ngày càng khinh miệt Mỹ

Nếu nói chuyện đủ lâu với các học giả và quan chức Trung Quốc nghiên cứu về Mỹ, ở một thời điểm nào đó bạn sẽ nghe họ so sánh mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ với một cuộc hôn nhân tồi. Đó là một sự so sánh cho thấy nhiều ý nghĩa. Trung Quốc có lợi ích ở các châu lục khác, nhưng Mỹ là một nỗi ám ảnh thường trực. So sánh quan hệ Mỹ – Trung với một cuộc hôn nhân hàm ý sự ngưỡng mộ kéo dài xen lẫn với sự ghen tị và phẫn nộ mà giới tinh hoa Trung Quốc dành cho đối thủ toàn cầu của họ. Tuy nhiên, trong thời đại Trump, một cảm xúc mới nguy hiểm khác cũng đang ngày càng nổi lên, đó là sự khinh miệt dành cho Hoa Kỳ.

Các quan chức cấp cao của Trung Quốc có ít động lực để nói chuyện với người nước ngoài. Nhưng một số cán bộ và học giả từng báo cáo với lãnh đạo chính phủ và đảng cũng đôi khi nói chuyện với người ngoài một cách không chính thức. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc thẳng thắn với các đối tác nước ngoài một cách có chọn lọc, đồng thời duy trì quan hệ với các quan chức cấp cao phương Tây đã nghỉ hưu. Có thể nói rằng các tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc thất vọng sâu sắc với một nước Mỹ đã bầu Donald Trump làm tổng thống. Mỹ được gọi là một kẻ thất bại cay cú và kẻ phá hoại nguy hiểm, không chỉ không muốn đóng một vai trò dẫn dắt trên thế giới mà còn nổi điên nếu Trung Quốc trở nên tích cực hơn.

Chẳng hạn, theo dòng suy nghĩ này, họ giận giữ khi nghe Mỹ phàn nàn về tham vọng của Trung Quốc thông qua Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường, kế hoạch cơ sở hạ tầng toàn cầu của Chủ tịch Tập Cận Bình, trong khi Mỹ không còn sẵn sàng đóng một vai trò dẫn dắt trong việc thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu, và quá chăm chăm lợi ích tự thân nên không muốn đầu tư vào việc gia tăng kết nối thế giới.

Nếu đây là một cuộc cãi vã giữa  hai vợ chồng, câu nói tóm tắt tâm trạng ở Bắc Kinh sẽ là một lời mắng mỏ đầy giận dữ trút vào nước Mỹ: “Tại sao anh luôn nghĩ mọi chuyện đều liên quan tới anh?” Trung Quốc lập luận rằng họ không tìm cách để vượt qua Mỹ. Nếu Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới thì đó là bởi Trung Quốc rất đông dân và muốn mang lại cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn. Đúng, Trung Quốc đã được hưởng 40 năm thành công, nhưng đó là nhờ vào nỗ lực lao động cần cù không ngừng của họ. Tuy nhiên, nhiều vùng ở Trung Quốc vẫn bị bỏ lại phía sau và đang cần được đầu tư phát triển.

Đó là lý do cần duy trì tăng trưởng kinh tế và tại sao Trung Quốc lại sợ chiến tranh thương mại với ông Trump. Nhưng đó cũng là một lý do giải thích cho sự phẫn nộ về cái được coi là chính sách ngăn chặn của Mỹ. Các nguồn tin Trung Quốc mô tả một cảm giác ngột ngạt rằng, khi viễn cảnh Trung Quốc trở nên khá giả  hơn nằm trong tầm tay, một nước Mỹ đang suy yếu lại đang chất vấn quyền của Trung Quốc trong việc đạt được sự khá giả đó, cho dù bằng cách xây dựng các lực lượng vũ trang hùng mạnh hay phát triển các công nghệ tiên tiến.

Họ lập luận rằng giàu là chưa đủ. Các quốc gia còn phải mạnh, về cả quân sự và công nghệ. Sự nhục nhã của Trung Quốc thời phong kiến dưới tay các cường quốc châu Âu nhỏ hơn đã chứng minh cho điều đó. Thông thường, đó là điều khiến các nguồn Trung Quốc mà chúng tôi phỏng vấn dẫn dắt tới vụ Mạnh Vãn Chu, một giám đốc điều hành cấp cao của Huawei và là con gái của người sáng lập công ty viễn thông khổng lồ này, bị bắt giữ ở Canada. Tiếp theo đó sẽ là lập luận cay nghiệt về sức mạnh tương đối của Trung Quốc, Mỹ và Canada. Ít khi họ nói về các chi tiết pháp lý chống lại bà Mạnh, vốn bị bắt theo yêu cầu của các công tố viên Mỹ dựa trên cáo buộc rằng bà Mạnh đã vi phạm các biện pháp trừng phạt chống Iran. Vụ bắt giữ bà Mạnh được coi là một tín hiệu cho thấy nước Mỹ có thể chấp nhận một nước Trung Quốc giàu hơn nhưng không muốn nước này mạnh hơn. Các cuộc biểu tình ủng hộ Trung Quốc đã diễn ra ở Canada và Hồng Kông (ảnh).

Các cuộc thảo luận về tranh chấp lãnh thổ cũng diễn ra theo các lập luận tương tự. Phiên bản lịch sử công khai của chính phủ Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ đối với các rạn san hô và đảo trên Biển Đông. Nhưng khi nói chuyện riêng, các quan chức phản đối việc Mỹ gửi tàu chiến và máy bay đi qua các vùng biển tranh chấp đó, cho rằng Mỹ đang thể hiện sự thiếu tôn trọng và Trung Quốc sẽ không bao giờ dung thứ cho sự can thiệp vào sân sau của mình. Sau 40 năm phát triển kinh tế, đã đến lúc Trung Quốc phải giải quyết những vấn đề bị lơ là lâu nay, họ nói.

Các quan chức khác thì lập luận rằng không phải Trung Quốc đã thay đổi hành vi của mình; nước này chỉ đơn thuần trở nên lớn hơn và thành công hơn. Nếu Trung Quốc là kẻ lạm dụng trật tự quốc tế như vậy, họ đặt câu hỏi tại sao Mỹ và châu Âu trước đây lại chưa bao giờ phàn nàn về điều đó? Câu hỏi đó của các quan chức Trung Quốc phần nào không thỏa đáng. Trung Quốc đã nhiều lần hứa hẹn sẽ mở cửa thị trường và đối xử bình đẳng hơn với các công ty nước ngoài. Sau 20 năm thất hứa, sự kiên nhẫn của phương Tây tan biến. Nhưng phần nào đó lập luận của họ cũng có cơ sở.

Các doanh nghiệp nước ngoài đã từ lâu đã gửi tới các lãnh đạo Trung Quốc một thông điệp không rõ ràng, theo lời một người Mỹ làm việc tại Bắc Kinh. Trong các cuộc họp với các lãnh đạo chính phủ trung ương, các ông chủ phương Tây thường  tập trung nói về những kinh nghiệm tích cực của họ tại Trung Quốc, phần vì thận trọng, phần vì họ thấy ít có lý do để nêu lên các vấn đề do các quan chức địa phương nhiều quyền lực gây nên, họ biết rằng chính quyền trung ương có thể sẽ yêu cầu các quan chức địa phương tự điều tra, giải quyết. Không dám lên tiếng ở Trung Quốc, các doanh nghiệp Mỹ sẽ về nhà phàn nàn với chính phủ của họ, rồi chính phủ Mỹ lại phản ánh với phía Trung Quốc. Nhưng phía Trung Quốc sẽ không tin, nghĩ rằng họ đã nghe được sự thật trái ngược từ miệng các doanh nghiệp đang làm ăn ở Trung Quốc.

Ông Trump chia rẽ các quan chức và học giả Trung Quốc. Thế hệ lớn tuổi hơn, nhất là những người nằm trong số những người đầu tiên đi du học ở Mỹ, rất đau lòng khi thấy ông Trump nhận được sự ủng hộ của nhiều cử tri. Còn thế hệ các quan chức trung niên thành đạt có xu hướng hả hê hơn. Những ký ức ban đầu của họ về nước Mỹ liên quan đến các thảm họa như cuộc xâm lược Iraq năm 2003 và cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Họ mỉa mai rằng ông Trump đã chẩn đoán căn bệnh của Mỹ hoàn toàn chính xác. Ý họ là ông Trump đã đúng khi kéo quân từ Trung Đông và châu Á về để tập trung vào việc chỉnh đốn lại quốc gia từ bên trong. Đồng thời, họ nói thêm, chất lượng thấp của các quan chức được bổ nhiệm trong chính quyền Trump cho thấy sự vượt trội của hệ thống độc đảng mà ở đó quan chức được bổ nhiệm dựa trên năng lực của Trung Quốc.

Những tiếng nói thẳng thắn nhất thì thừa nhận rằng Trung Quốc đã hiểu sai ông Trump, lúc đầu nghĩ rằng Trump là một doanh nhân New York thực dụng tựa như những người khác mà Trung Quốc đã biết. Trung Quốc cũng đánh giá thấp độ bền bỉ của sự ủng hộ dành cho ông. Việc ông Trump leo thang chiến tranh thương mại đã gây sốc cho các lãnh đạo Trung Quốc, những người đã trấn an các lãnh đạo phương Tây đến thăm vào mùa xuân 2018 rằng các đe dọa của ông Trump chỉ là trò diễn và cả hai bên có quá nhiều thứ để mất nên không thể để cho một cuộc chiến tranh thương mại thực sự bắt đầu.

Sau khi ông Trump đe dọa trút “bão lửa và cuồng nộ” lên Triều Tiên vào năm 2017, điều thực sự khiến Trung Quốc lo lắng, chính phủ ở Bắc Kinh thích chính sách Triều Tiên hiện tại của Trump. Cho đến bây giờ, chính sách đó kết hợp giữa sự thờ ơ với các hành vi vi phạm nhân quyền của Triều Tiên với sự sẵn sàng đình chỉ các cuộc tập trận của quân đội Mỹ ở Hàn Quốc, miễn là Triều Tiên tạm dừng các vụ thử hạt nhân hoặc tên lửa đe dọa nước Mỹ. Đó thực chất là chính sách hai bên cùng kiềm chế mà các lãnh đạo Trung Quốc đã kêu gọi các chính quyền Mỹ trước đây thực hiện. Các chính quyền đó đã từ chối, coi đó như một sự phản bội các đồng minh an ninh châu Á.

Những người tự do yêu Trump

Trong suốt năm 2018, các chính trị gia và lãnh đạo doanh nghiệp nước ngoài đến thăm Bắc Kinh đều ngạc nhiên trước một hiện tượng bất ngờ có thể được gọi là “những người tự do ủng hộ Trump”. Trong số này có các học giả Trung Quốc mang tư tưởng cải cách kín đáo hoan nghênh phong cách hung hăng của ông Trump. Họ coi áp lực bên ngoài là cách tốt nhất để thúc đẩy các thay đổi cần thiết bên trong Trung Quốc, từ việc dỡ bỏ các độc quyền của doanh nghiệp nhà nước đến mở cửa thị trường. Những người theo tư tưởng tự do này hiện thận trong hơn khi Trung Quốc đang cảm thấy bị tấn công, còn ông Trump dường như ít quan tâm đến các cải cách cơ cấu.

Các nhà cải cách Trung Quốc không bao giờ thực sự ngưỡng mộ Trump. Đúng hơn là họ chỉ hi vọng rằng vị tổng thống Mỹ sẽ là “kẻ bắt nạt” lớn hơn ông Tập. Mặc dù ông Tập trở nên chuyên chế hơn, nhưng ông Tập cũng bị chỉ trích rất nhiều trong giới tinh hoa Bắc Kinh. Một số người gọi ông ta là một người theo chủ nghĩa nhà nước không hiểu kinh tế. Những người khác đổ lỗi luận điệu hùng hổ của ông Tập về sự trỗi dậy của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn tới các phản ứng dữ dội ở nước ngoài, và nói rằng ông Tập đã khơi nguồn cho cuộc chiến tranh thương mại với Mỹ. Cái khó là không thể biết được những người chỉ trích đó có tác động ít hay nhiều hơn so với các quan chức dòng chính ở Mỹ, những người chê bai chỉ trích Trump trong các bữa tiệc tối ở Washington, DC. Những người khác thì tức giận với ông Tập nhưng cũng không hề thân thiện với phương Tây. Bonnie Glaser, một chuyên gia có nhiều mối quan hệ với Trung Quốc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), một viện nghiên cứu chính sách tại Washington, gần đây đã nói rằng các lãnh đạo cấp cao của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đang lo sợ, trong bối cảnh cuộc chiến chống tham nhũng của ông Tập đã đi quá xa.

Ông Tập đã nói với các vị khách nước ngoài rằng ông thất vọng với sự trước sau bất nhất của người Mỹ. Theo một bức điện ngoại giao bị rò rỉ, ông Tập đã phàn nàn với các lãnh đạo EU tại hội nghị thượng đỉnh hồi tháng 7 năm ngoái rằng Mỹ đã quay lưng lại với Tổ chức Thương mại Thế giới ngay khi Trung Quốc vừa tham gia. Ông Tập cũng chỉ ra rằng Tổng thống Obama đã thuyết phục ông tham gia hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, để rồi cuối cùng ông Trump lại rút Mỹ ra.

Sự thiếu kiên nhẫn giữa hai cường quốc không có gì mới. Tuy nhiên, vấn đề là niềm tin của Trung Quốc vào tương lai của Mỹ đang hao mòn dần. Các quan chức Trung Quốc thường muốn nhận được sự tôn trọng của Mỹ, hỏi rằng tại sao Mỹ không thể chấp nhận rằng hệ thống chính trị của họ phù hợp với Trung Quốc hơn. Các quan chức Trung Quốc vẫn ghi nhận rằng Mỹ là một quốc gia giàu có và mạnh mẽ hơn, và Trung Quốc không muốn thù địch với Mỹ. Nhưng việc Mỹ có quan điểm tích cực về Trung Quốc hay không giờ ít quan trọng đối với họ.

Sẽ rất tồi tệ nếu các tầng lớp cầm quyền của Trung Quốc bắt đầu tin vào cáo buộc mà họ đã cố gắng không tin trong nhiều năm: rằng nước Mỹ đang cố gắng kiềm chế Trung Quốc. Nếu một nước Mỹ đầy thù hận muốn làm tổn thương Trung Quốc, sẽ khó có lý do để các quan chức Trung Quốc đề xuất các nhượng bộ hoặc thúc giục các cải cách có thể giúp cải thiện quan hệ với Mỹ. Trong địa chính trị cũng như trong hôn nhân, sự khinh miệt là một cảm xúc thường dẫn đến những kết quả tồi tệ.

 

Nguồn: America still leads in technology, but China is catching up fast”, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

4. Mỹ vẫn dẫn đầu về công nghệ, nhưng Trung Quốc đang bắt kịp nhanh

Một điều hiếm gặp đã xảy ra tại một khu công nghiệp gần Washington, DC, vào tháng 11 năm ngoái. Dự án mở rộng trị giá 3 tỷ đô la của một nhà máy thiết bị bán dẫn thuộc sở hữu của Micron Technologies, nhà sản xuất chip nhớ tiên tiến, có trụ sở tại Idaho, bắt đầu tiến hành xây dựng. “Mấy năm trước, nếu mở rộng nhà máy kiểu như vậy sẽ có người nói rằng nó sẽ sớm được chuyển đến Trung Quốc, phải không?”, James Mulvenon, một chuyên gia về chính sách và gián điệp không gian mạng của Trung Quốc, nói.

Nhưng bây giờ thì khác. Thay vào đó, nhà máy của Micron cho thấy viễn cảnh tương lai. Niềm tin vào Trung Quốc đã sụp đổ trong giới quan chức chính phủ cũng như lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ, và một sự đồng thuận đã tăng lên cho rằng các công ty Trung Quốc đã thu hẹp khoảng cách công nghệ với các đối thủ phương Tây một cách không đàng hoàng và bằng các biện pháp bất hợp pháp.

Những căng thẳng ngày nay làm cho cuộc Chiến tranh Lạnh hồi thế kỷ trước trông có vẻ đơn giản. Năm 2018, Trung Quốc chiếm 57% doanh thu thuần của Micron. Trong những năm 1960 và 1970, các công ty công nghệ Mỹ không phụ thuộc vào khách hàng Liên Xô. Nhưng Micron là một biểu tượng cho thấy cạnh tranh thương mại đang trở thành một cuộc đấu có tổng bằng không, trong đó một bên thắng và một bên thua. Vào năm 2015, Micron đã từ chối một đề nghị mua lại trị giá 23 tỷ đô la đến từ một quỹ đầu tư do nhà nước Trung Quốc hậu thuẫn, nói rằng họ tin một thỏa thuận như vậy sẽ bị Ủy ban Đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ (CFIUS) bác bỏ. Năm 2018, Bộ Tư pháp đã truy tố một công ty nhà nước Trung Quốc, đối tác Đài Loan của công ty này và ba cá nhân về tội đánh cắp bí mật thương mại liên quan đến công nghệ chip nhớ của Micron, một công nghệ có giá trị hàng chục tỷ đô la. Chuyện này diễn ra sau các vụ kiện qua lại, theo đó công ty bị buộc tội của Trung Quốc khẳng định rằng họ sở hữu các bằng sáng chế có liên quan ở Trung Quốc và do đó chính họ mới là nạn nhân của Micron. Một tòa án Trung Quốc ủng hộ cáo buộc này, sau đó Micron bị điều tra theo luật chống độc quyền.

Những người có quan điểm diều hâu với Trung Quốc ở Washington nói rằng trò chơi có tổng bằng không này đều xoay quanh việc Trung Quốc vi phạm pháp luật. “Nói một cách thẳng thắn, Trung Quốc dường như quyết tâm ăn cắp để leo lên nấc thang kinh tế, và chúng ta là người chịu thiệt hại”, Christopher Wray, giám đốc của FBI, tuyên bố như vậy vào ngày 26/04, đồng thời nói thêm rằng gần như tất cả 56 văn phòng của cơ quan này đều đang điều tra các vụ gián điệp kinh tế mà trong đó “gần như luôn luôn liên quan tới Trung Quốc”. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2018, Bộ Tư pháp Mỹ đã truy tố hàng chục cá nhân và tổ chức mà chính phủ Trung Quốc chỉ đạo để đánh cắp các bí mật thương mại từ 15 công ty, chủ yếu trong ngành hàng không vũ trụ và công nghệ cao.

Những người khác thì nói rằng trò chơi có tổng bằng không này liên quan đến những lời hứa bị phá vỡ đối với người lao động Mỹ. Họ nhắc lại chuyện các lãnh đạo chính trị Mỹ hứa hẹn với các công nhân rằng các ngành sản xuất giá trị cao sẽ ở lại Mỹ, ngay cả khi toàn cầu hóa đưa các việc làm lương thấp sang Trung Quốc.

Sử dụng vị thế chủ tịch ủy ban Thượng viện về doanh nghiệp nhỏ và tinh thần kinh doanh, Thượng nghị sĩ Marco Rubio đại diện bang Florida vào tháng 2 vừa qua đã đưa ra một báo cáo lên án kế hoạch của Trung Quốc nhằm trở thành cường quốc toàn cầu trong mười lĩnh vực công nghệ cao, từ trí tuệ nhân tạo (AI) đến hàng không, được xác định trong chiến lược Made in China 2025 (MIC2025) do chính phủ Trung Quốc ban hành năm 2015. Ông Rubio viết trong báo cáo rằng nếu Mỹ để Trung Quốc trở thành lãnh đạo toàn cầu về đổi mới và chế tạo “thì đó sẽ là một kết quả không thể chấp nhận được đối với người lao động Mỹ”.

Trong một biểu hiện dân túy, ông Rubio cũng không ngại lập luận rằng chính phủ có vai trò trực tiếp trong việc bảo vệ các công nhân cổ cồn xanh. Ngành chế tạo cung cấp việc làm ổn định hơn so với ngành dịch vụ, báo cáo của Rubio cho biết. Báo cáo này kêu gọi Mỹ sử dụng các chính sách công nghiệp, bao gồm các thay đổi về thuế và kiểm soát xuất khẩu, để bảo vệ các ngành công nghiệp từ robot đến chế tạo máy kéo.

Đó là ăn cắp

Không phải mọi thượng nghị sĩ đều có tiếng nói thẳng thắn như ông Rubio, và nhiều người cũng không thích kiểm soát xuất khẩu. Nhưng sự mất lòng tin sâu sắc vào Trung Quốc là một tình trạng lưỡng đảng trong Quốc hội. Quan điểm của các doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc có phần cân bằng hơn, như có thể thấy trong cuộc khảo sát công bố hồi tháng Hai về môi trường kinh doanh năm 2019 của Phòng Thương mại Mỹ ở Trung Quốc. Gần 70% các công ty nói rằng họ có lợi nhuận. Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu cảnh báo. Trong khảo sát của AmCham, một nửa các công ty công nghệ Mỹ cho biết họ hạn chế đầu tư vào Trung Quốc vì ở đây thiếu cơ chế bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ (IP), bất chấp việc Trung Quốc hứa hẹn sẽ nghiêm túc về vấn đề này nhiều năm nay.

Trung Quốc đã cứng rắn hơn đối với các hành vi vi phạm bản quyền, từ hàng tiêu dùng giả cho đến vi phạm bằng sáng chế. Nhưng các giám đốc điều hành nước ngoài vẫn kể những câu chuyện kinh hoàng về áp lực phải chia sẻ bí mật thương mại với đối tác địa phương và các cuộc tấn công mạng vào máy chủ của công ty ở quê nhà. Đáng buồn thay, 13% các công ty thành viên được khảo sát bởi AmCham nói rằng rủi ro lớn nhất của họ là tình trạng trộm cắp bởi chính nhân viên của mình.

Có một số cách mà sự cạnh tranh kinh tế có thể trở thành trò chơi có tổng bằng không, và tất cả có thể được nhìn thấy ở Trung Quốc ngày nay. Trộm cắp chỉ là một. Một cách khác là theo đuổi thay thế nhập khẩu bằng các lựa chọn khác trong nước, thông qua các biện pháp công bằng hoặc gian lận. Nước Mỹ đang rơi vào tình trạng mất lợi thế, nhưng Mỹ vẫn là chủ nhà của các công ty dẫn đầu toàn cầu trong các ngành từ hàng không vũ trụ và chất bán dẫn đến phần mềm và xe tự lái. Các quan chức Mỹ lo ngại rằng MIC2025 sẽ giúp Trung Quốc trở thành một quốc gia đẳng cấp thế giới trong tất cả các lĩnh vực đó.

Kể từ năm 2015, các kế hoạch hỗ trợ và lộ trình được công bố bởi các cơ quan nghiên cứu của chính phủ đã đặt ra hàng trăm mục tiêu chiếm lĩnh thị phần cho các công ty Trung Quốc, ví dụ, 80% xe điện hoặc xe lai “năng lượng mới” tiêu thụ ở Trung Quốc phải được sản xuất trong nước vào năm 2025. Các quan chức Trung Quốc, giờ đối mặt với phản ứng dữ dội trên toàn thế giới, hiện đang giấu nhẹm các mục tiêu này. Các phương tiện truyền thông nhà nước bị kiểm duyệt nghiêm ngặt đã ngừng sử dụng thuật ngữ MIC2025. Nhưng chính sách này đã không được bãi bỏ. Các bài phát biểu của lãnh đạo vẫn kêu gọi “tự lực” và “tự đổi mới”. Các lĩnh vực công nghệ khác của Trung Quốc cũng đang được khuyến khích tuân thủ chính sách gọi là “hợp nhất dân sự – quốc phòng”, một chiến lược quốc gia được hậu thuẫn bởi các lãnh đạo hàng đầu và được tài trợ bởi các khoản ngân sách an ninh quốc gia không minh bạch.

Việc quân sự hóa một số công nghệ của Trung Quốc gây ra các chi phí bên cạnh lợi ích, ông Mulvenon lưu ý. Những chi phí đó bao gồm các rủi ro cho các công ty phương Tây khi làm các hợp đồng hỗ trợ cho các công nghệ tàn bạo mà Trung Quốc đã áp dụng ở Tân Cương. “Tin tốt là người Trung Quốc sẽ phát hiện ra rằng sự tự cung tự cấp như vậy là rất khó”, Mulvenon nói, đồng thời cho rằng người Mỹ đã chứng kiến ​​Trung Quốc ăn cắp và thiết kế ngược một thế hệ công nghệ rồi sau đó vẫn phải đánh cắp thế hệ tiếp theo vì không thể làm chủ được các nền tảng khoa học cơ bản. “Mô hình đó cực kỳ kém hiệu quả”.

Trung Quốc sẵn sàng chi tiền nếu cần, hỗ trợ cho những công ty chủ chốt hàng tỷ đô la tiền trợ cấp và thúc đẩy các công ty địa phương đặt hàng. Trong số những công ty hưởng lợi có Tập đoàn Máy bay Thương mại Trung Quốc (CMAC), công ty sản xuất máy bay thương mại C-919 được dự kiến sẽ trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với dòng 737 của Boeing. Các nhà lập kế hoạch nhà nước đã đặt mục tiêu máy bay vận tải Trung Quốc phải chiếm được 10% thị phần trong nước vào năm 2025. C-919 đã gặp phải những rắc rối, khiến cho thời hạn đó có vẻ quá tham vọng. Nhưng thành công của Trung Quốc có thể nhanh chóng gây thiệt hại cho Mỹ, khi hạng mục xuất khẩu lớn nhất của Mỹ sang Trung Quốc vào năm 2017 là máy bay dân sự, trị giá 16,3 tỷ đô la. Báo cáo của Rubio phàn nàn rằng ít nhất mười công ty Mỹ cung ứng các bộ phận quan trọng cho C-919.

Trung Quốc đã tạo ra các thương hiệu lớn trong các lĩnh vực như xe điện và pin, một phần bằng cách ngăn cản các đối thủ nước ngoài. Rào cản bảo hộ cũng đã cho phép các công ty internet Trung Quốc phát triển. Hồi năm 2009, mười công ty internet lớn nhất theo doanh thu đều của Mỹ. Nhưng bây giờ vài trong số đó là của Trung Quốc (xem biểu đồ).

Tuy nhiên, sẽ sai lầm nếu phóng đại sức mạnh của Trung Quốc trong lĩnh vực phân tích dữ liệu lớn và AI, theo Dieter Ernst thuộc Trung tâm Đông-Tây, một viện nghiên cứu ở Hawaii. Việc thiếu cơ chế bảo vệ quyền riêng tư gần như hoàn toàn có thể khiến nhiều dữ liệu bị mất, trong khi các công ty Mỹ giỏi hơn về các thuật toán tiên tiến giúp AI bớt phụ thuộc vào các tập dữ liệu lớn, Ernst viết. Các ứng dụng lớn của Trung Quốc vẫn chủ yếu được vận hành dựa trên các chip do Mỹ thiết kế, vốn vẫn đang dẫn đầu thế giới.

Mỹ còn có những lợi thế khác. Joy Dantong Ma đến từ MacroPolo, nhà viện nghiên cứu thuộc Viện Paulson, đã kiểm tra nguồn gốc của các diễn giả hàng đầu tại một hội nghị danh tiếng nhất về AI. Hầu hết đến từ các trường đại học và công ty công nghệ Mỹ. Nhưng điều quan trọng là hơn một nửa những ngôi sao người Mỹ đó được sinh ra ở nước ngoài. Chính sách thắt chặt thị thực của Trump sẽ đe dọa tới thực tế đó.

Một số hình thức cạnh tranh có thể công bằng nhưng vẫn kết thúc với một bên giành được nhiều lợi ích hơn. Đáng chú ý, một số lĩnh vực công nghệ mang lại lợi thế cho người tiên phong, trao phần thưởng lớn cho các quốc gia hoặc doanh nghiệp dẫn đầu sớm, cho phép họ đặt ra các tiêu chuẩn mà những người tham gia sau này không có nhiều lựa chọn nào khác ngoài việc tuân theo. Hồi tháng Tư, Ủy ban Đổi mới Quốc phòng, một ủy ban cố vấn của Lầu Năm Góc gồm các ngôi sao sáng ở Thung lũng Silicon, đã đưa ra một báo cáo cảnh báo rằng Trung Quốc đang trên đường đạt được thành công này trong cuộc đua nhằm thống trị mạng di động 5G. Thế hệ công nghệ không dây tiếp theo này hứa hẹn sẽ cách mạng hóa các ngành công nghiệp hiện có và tạo ra những ngành hoàn toàn mới với tốc độ dữ liệu gấp khoảng 20 lần so với mạng 4G.

Một thập niên trước, các công ty Mỹ đã dẫn đầu sớm trong công nghệ 4G, thiết lập các tiêu chuẩn cho các thiết bị cầm tay mới và các ứng dụng phổ biến trên toàn thế giới. Sự thống trị đó đã giúp Apple, Google và các doanh nghiệp Mỹ khác tạo ra doanh thu hàng tỷ đô la. Trung Quốc đã học được bài học của mình, đầu tư 180 tỷ đô la để triển khai mạng 5G trong năm năm tới và giao các dải tần số không dây cho ba nhà mạng nhà nước. Ở Mỹ, các dải tần số như vậy phần lớn không được dùng cho mục đích thương mại vì nó được ưu tiên sử dụng bởi chính phủ liên bang. Các công ty Mỹ đang thử nghiệm trên các dải tần số có một số lợi thế nhất định trong điều kiện phòng thí nghiệm nhưng dễ bị chặn bởi các tòa nhà và cây cối. Vì lý do này, bất chấp áp lực của Mỹ đối với các đồng minh, phần lớn thế giới có thể sẽ chọn các thiết bị cầm tay, chip và tiêu chuẩn của Trung Quốc, ủy ban cố vấn của Lầu Năm Góc kết luận. Vì các lực lượng vũ trang Mỹ cần hoạt động trên toàn thế giới, họ sẽ phải chuẩn bị gửi dữ liệu thông qua một thế giới công nghệ không dây “hậu phương Tây” và thông qua các mạng “không tin cậy”, được lắp đặt với các thành phần do các công ty Trung Quốc như Huawei cung cấp. Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ phải tập trung nhiều hơn vào mã hóa và bảo mật.

Mạng internet bị chia rẽ

Một số cuộc ganh đua công nghệ sẽ bớt tàn khốc hơn. Khi Trung Quốc và Mỹ tách khỏi thị trường kỹ thuật số của nhau, mỗi bên sẽ tìm kiếm tăng trưởng ở phần còn lại của thế giới. Một thế giới mạng bị chia cắt, hay còn gọi là “splinternet”, đã trở thành hiện thực, khi mạng internet ở Trung Quốc phát triển đằng sau một bức tường lửa kiểm duyệt. Các công ty lớn của Mỹ như Amazon đang quảng bá dịch vụ thanh toán ở Ấn Độ. Dịch vụ Alipay của Trung Quốc đang tích cực hoạt động tại Brazil. Trung Quốc đang xuất khẩu các hệ thống giám sát và thuật toán kiểm duyệt cho các quốc gia độc tài từ Ethiopia đến Venezuela. Với một sự thay đổi đường hướng, Mỹ có thể giúp thúc đẩy một mạng internet tôn trọng sự riêng tư. Các công ty y sinh và các phòng thí nghiệm chỉnh sửa gen phương Tây có thể giúp tiêu chuẩn đạo đức trở nên nghiêm ngặt hơn.

Thật đáng lo khi ông Trump là một người không thân thiện với công nghệ. Ông đã đề xuất giảm ngân sách cho các quỹ nghiên cứu khoa học, mặc dù Quốc hội đã bác bỏ điều đó. Sau hai vụ tai nạn máy bay của Boeing 737 Max gần đây, ông đã tweet rằng “máy bay giờ trở nên quá phức tạp để vận hành”. Tuy nhiên, năm ngoái ông Trump cũng đã ký một dự luật lưỡng đảng cho phép chi 1,3 tỷ đô la cho nghiên cứu máy tính lượng tử. Mục đích là để dẫn trước Trung Quốc trong ngành máy tính khai thác các định luật vật lý lượng tử để đạt được tốc độ xử lý vốn chỉ thấy trong các bộ phim khoa học viễn tưởng. Nước Mỹ vẫn đang dẫn đầu lĩnh vực này, nhưng Tập Cận Bình coi đó là ưu tiên quốc gia, thu hút các nhà khoa học trở về từ các phòng thí nghiệm lượng tử ở Mỹ và Châu Âu. Nếu Trung Quốc thành công, họ có thể phát triển các liên lạc vệ tinh và radar lượng tử gần như không thể hack được để phát hiện các máy bay và tàu ngầm có khả năng tàng hình cao nhất.

Một thành công như vậy sẽ biến một cuộc ganh đua công nghệ thành một cuộc chạy đua vũ trang. Lúc đó Mỹ sẽ phải quyết định liệu một Trung Quốc như thế còn có thể răn đe được hay không, hay liệu một ngày nào đó nó có thể sử dụng các năng lực mới (để chống lại Mỹ).

 

Nguồn: “America’s military relationship with China needs rules”, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

5. Quan hệ quân sự Mỹ – Trung cần có quy tắc

Bíp, bíp, bíp… và Sputnik 1, vệ tinh đầu tiên đã được phóng lên quỹ đạo Trái đất vào năm 1957. Việc nó không có công dụng gì mấy chẳng quan trọng. Việc những người cộng sản Liên Xô giành chiến thắng trong cuộc chạy đua vũ trụ đầu tiên đã gây ra một cuộc khủng hoảng niềm tin cho người Mỹ. Điều này đã có tác dụng hữu ích. Ở nước ngoài, Mỹ tăng cường các liên minh như NATO. Ở trong nước, những khoản tiền lớn đã được đổ vào nghiên cứu khoa học. Cuộc khủng hoảng Sputnik tạo cảm giác sự vô tư không còn nữa: kẻ thù đã ở trên đầu. Nhưng mối đe dọa thực tế của Liên Xô đã không thay đổi nhiều. Liên Xô, như trước đây, vẫn là một kẻ thù được trang bị vũ khí hạt nhân đang cố gắng truyền bá một hệ tư tưởng đối địch.

Bây giờ Mỹ cũng đang có một cuộc khủng hoảng niềm tin về Trung Quốc, và nguyên nhân không phải là một khoảnh khắc Sputnik mà là nhiều khoảnh khắc nhỏ hơn liên tiếp. Nói chuyện với các chiến lược gia ở Mỹ và Trung Quốc, các sĩ quan quân đội, chính trị gia, giới chủ doanh nghiệp và các học giả, người ta sẽ thấy sốc khi nhiều người nói rằng nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột hạn chế không nên bị đánh giá thấp.

Một phần là do lực lượng vũ trang của Trung Quốc đang bắt kịp rất nhanh. Nước Mỹ mất 17 năm để thành thạo trong việc gửi máy bay không người lái đi tìm diệt các nghi phạm khủng bố cách nửa vòng trái đất. Trong khi đó, Trung Quốc đã cho loại biên các vũ khí cũ kỹ của Liên Xô và mua sắm các máy bay chiến đấu và tàu chiến tiên tiến. Trung Quốc đã đầu tư các loại tên lửa chống hạm để tăng phí tổn cho sự can thiệp của Mỹ vào các vùng biển gần, cũng như đầu tư vào các biên đội tàu ngầm (mặc dù tàu ngầm của Trung Quốc vẫn ồn hơn so với tàu ngầm Mỹ). Trung Quốc còn củng cố các đảo đá và rạn san hô tại vùng biển tranh chấp ở Biển Đông với tên lửa, radar vòm và đường băng (trong hình). Chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi hải quân phát triển tư duy biển, khi giờ đây các mối quan hệ thương mại và an ninh đã gắn Trung Quốc – trong hàng thiên niên kỷ là một cường quốc nông nghiệp hướng nội – với biển cả. Trung Quốc có ưu thế dẫn đầu về vũ khí lượn siêu âm, những tên lửa di chuyển với tốc độ một dặm một giây chống lại các tàu sân bay mà hiện không có hệ thống phòng thủ nào đủ tin cậy để chống lại. Nếu hỏi về những điểm yếu của Trung Quốc, các sĩ quan Mỹ sẽ đề cập đến các chuỗi chỉ huy cứng nhắc, ít trao quyền tự chủ cho các sĩ quan cấp dưới. Họ cũng không rõ các nhánh khác nhau của quân đội Trung Quốc có thể phối hợp với nhau trong các nhiệm vụ phức tạp như xâm lược Đài Loan, hòn đảo dân chủ mà Trung Quốc tuyên bố là lãnh thổ của mình, hay không.

Chiến tranh toàn diện liên quan đến Đài Loan không phải là điểm nóng khẩn cấp nhất. Báo cáo Sức mạnh Quân sự Trung Quốc mới nhất, được Lầu Năm Góc gửi cho Quốc hội hàng năm, “không nhận thấy dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc đang mở rộng đáng kể lực lượng tàu đổ bộ cần thiết cho một cuộc tấn công đổ bộ vào Đài Loan”. Thay vào đó, các nhà hoạch định đang lo lắng hơn về những nỗ lực của Trung Quốc nhằm đẩy Mỹ ra khỏi các vùng biển gần và ra ngoài “chuỗi đảo đầu tiên”, bao gồm Nhật Bản và Đài Loan. Các tàu và máy bay Mỹ thường xuyên khẳng định quyền đi qua Biển Đông theo luật quốc tế, gây ra những phản ứng từ Trung Quốc vốn có thể leo thang một cách khó lường.

Cuộc cạnh tranh trong vũ trụ

Kỷ nguyên của sự ngờ vực hiện nay cũng có một vệ tinh mang tính biểu tượng của Trung Quốc, đó là Shijian 17. Dù chính thức là một tàu thử nghiệm chuyên kiểm tra các hệ thống đẩy và thiết bị chụp ảnh mới để phát hiện rác vũ trụ, các nhà khoa học Mỹ và các lãnh đạo quân sự đã chứng kiến SJ-17 thực hiện các thao tác đáng chú ý kể từ khi ra mắt vào năm 2016, ví dụ như di chuyển giữa ba vệ tinh khác nhau của Trung Quốc trên không gian và tự dừng lại cách các vệ tinh khác trong khoảng cách vài trăm mét. Trung Quốc, giống như Mỹ, cũng đang trở nên thành thạo nghệ thuật tác chiến chống vệ tinh. Trung Quốc thử nghiệm tên lửa phá hủy vệ tinh lần đầu tiên vào năm 2007, tạo ra các mảnh vỡ trong không gian, và được cho là đã thử nghiệm các thiết bị laser và gây nhiễu chống vệ tinh. Năm ngoái, Phó Tổng thống Mike Pence đã nêu các hoạt động vệ tinh “rất tinh vi” của Trung Quốc như là một trong những lý do để thành lập “Lực lượng Không gian”, một quân chủng mới với sự tham gia của rất nhiều chuyên gia.

Các nhà chiến lược nói về sự khác biệt giữa khả năng và ý định. Cảm giác lo lắng về Trung Quốc đang làm xói mòn sự khác biệt đó. Khi Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Trung Quốc, một ủy ban giám sát của Quốc hội Mỹ, tổ chức một phiên điều trần về các chương trình không gian của Trung Quốc vào tháng trước, đại diện Lầu Năm Góc, William Roper (trợ lý bộ trưởng không quân phụ trách mua sắm, công nghệ và hậu cần), đã lưu ý rằng ủy ban đang thực sự đặt câu hỏi liệu Mỹ có đang cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc trong không gian hay không. “Tôi hy vọng ủy ban kết luận là có”, ông nói trước ủy ban. Dù nhắc đến vị trí dẫn đầu với khoảng cách xa của Mỹ trong không gian, khi Mỹ triển khai hơn một nửa số vệ tinh gián điệp được tuyên bố trên thế giới – Roper khẳng định rằng “các quốc gia như Trung Quốc đã thể hiện ý định đưa sự thù địch lên vũ trụ”.

Tổng thống Donald Trump rất nghiêm túc với ý tưởng rằng Trung Quốc là một thách thức trong không gian, theo lời Michael Pillsbury, một cố vấn theo hợp đồng của Nhà Trắng. “Lực lượng Vũ trụ là nhằm vào Trung Quốc”. Ông thể hiện sự bất an trước 38 lần phóng vệ tinh của Trung Quốc trong năm 2018, vượt qua 34 lần của Hoa Kỳ (xem biểu đồ). “Chuyện đó không nên (được phép) xảy ra”.

Tâm trạng lo lắng bao trùm lưỡng đảng. Một đánh giá về các mối đe dọa trong không gian được công bố vào tháng Tư bởi Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một viện nghiên cứu ở Washington, DC, đã mở đầu với một cảnh báo từ Jim Cooper (bang Tennessee), một đảng viên Dân chủ và là chủ tịch tiểu ban Hạ viện giám sát chương trình vũ trụ: “Nguy cơ về một trận Trân Châu Cảng trong không gian đang tăng lên mỗi ngày… Nếu không có các vệ tinh, chúng ta sẽ rất khó khăn khi tái tập hợp và chiến đấu chống trả. Chúng ta thậm chí có thể không biết ai đã tấn công chúng ta, chúng ta sẽ bị điếc, câm, mù và bất lực”.

Các chuyên gia Trung Quốc nghi ngờ sự hoảng sợ đó. Rốt cuộc, Mỹ đã thử nghiệm vũ khí chống vệ tinh đầu tiên vào năm 1959 và hầu hết các thành tích trong không gian của Trung Quốc, từ các chuyến bay có người lái đến việc tạo ra một mạng lưới các vệ tinh định vị, đã được Mỹ tiến hành nhiều thập niên trước.

Một chiến lược gia biển hàng đầu, Hu Bo tại Đại học Bắc Kinh, phàn nàn rằng người Mỹ có thói quen xấu là coi các ý định và khả năng của Trung Quốc là một và giống nhau, có lẽ vì Mỹ coi sức mạnh của Trung Quốc “là xấu xa một cách cố hữu”. Ngay khi Trung Quốc có một tên lửa có tầm bắn đủ vươn tới đảo Guam, Mỹ đã buộc tội Trung Quốc “đang đe dọa đảo Guam”, ông nói thêm. Nếu theo logic tương tự thì Bắc Kinh đang gặp nguy hiểm, vì nó nằm trong tầm tấn công của máy bay ném bom và tên lửa của Mỹ. “Nhưng Trung Quốc không đi khắp nơi tuyên bố rằng Hoa Kỳ đang đe dọa Bắc Kinh”. Ông Hu thấy một nước Mỹ đã quen với cảm giác “không thể bị đe dọa”.

Một bất bình phổ biến trong giới làm về an ninh quốc gia của Trung Quốc là tâm trạng của Mỹ có thể thay đổi rất đột ngột, mặc dù các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, từ các yêu sách lãnh thổ đối với Đài Loan tới việc bảo vệ hệ thống độc đảng, đã không thay đổi trong nhiều thập niên qua.

Nước Mỹ đã thay đổi, rất nhiều. Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm 2006 tuyên bố rằng Mỹ “tìm cách khuyến khích Trung Quốc đưa ra những lựa chọn chiến lược đúng đắn cho người dân của họ, trong khi chúng tôi phòng bị các khả năng khác”. Bản NSS năm 2017 gọi chính sách can dự nhìn chung là một thất bại và cáo buộc rằng “Trung Quốc đang tìm cách thay thế Hoa Kỳ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, mở rộng ảnh hưởng của mô hình kinh tế do nhà nước chỉ huy và sắp xếp lại trật tự khu vực theo hướng có lợi cho Trung Quốc”.

Các chuyên gia an ninh Trung Quốc cho rằng lời giải thích là rất đơn giản, nằm ở sức mạnh quân sự và kinh tế đang gia tăng của Trung Quốc, theo Zhao Tong, chuyên gia tại Trung tâm Carnegie- Tsinghua về Chính sách Toàn cầu, một viện nghiên cứu có trụ sở tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, ông nhìn thấy lỗ hổng trong lập luận đó. Sự thay đổi thái độ của Mỹ là rất nhanh, trong khi sự trỗi dậy của Trung Quốc diễn ra từ  từ. Ông Zhao có một lời giải thích khác. Không chỉ là Trung Quốc mạnh hơn, mà Trung Quốc còn trở nên sẵn sàng hơn trong việc thể hiện sức mạnh đó – một sự quyết đoán liên quan đến việc nhấn mạnh hơn yếu tố ý thức hệ trong chính trị nội bộ Trung Quốc. Điều đó khiến thế giới nhận ra rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì giống với các giá trị phương Tây, ông Zhao lập luận.

Những sự hiểu lầm khác cũng còn đó. Khi các nước láng giềng nhỏ hơn phàn nàn rằng Trung Quốc đang đe dọa họ, các quan chức an ninh Trung Quốc lại tin chắc rằng Mỹ đang kích động các nước đó. Cách họ nói lên điều đó, rằng Trung Quốc hành động cứng rắn là nhằm tự vệ, cho thấy Trung Quốc không muốn bị bắt nạt. Zhao nói ông rất lo lắng “vì Trung Quốc chưa có khả năng xem xét các vấn đề từ quan điểm của người khác”.

Các học giả quan hệ quốc tế gọi hình thức hiểu lầm nguy hiểm nhất là thế “lưỡng nan an ninh”. Nó có thể phát sinh khi một quốc gia thực hiện các hành động phòng thủ nhưng bị nước khác hiểu nhầm là một hành động gây hấn, khiến cho tất cả các bên đều cảm giác bất an. Hiện tại Mỹ và Trung Quốc có nguy cơ gặp phải thế lưỡng nan an ninh như vậy, đặc biệt là trong các lĩnh vực cạnh tranh mới.

Nếu các chiến lược gia dành thời gian đếm các tên lửa chống hạm và nghiên cứu các đơn vị chiến đấu trên biển mới của Trung Quốc, thì họ cũng dành nhiều thời gian để suy nghĩ về các tài sản và vũ khí không thể nhìn thấy và không có quy tắc chiến tranh nào điều chỉnh, từ vũ khí mạng đến các chuỗi cung ứng bị mất an ninh. Không nơi nào xác thực điều đó hơn trong lĩnh vực chiến tranh mạng, một lĩnh vực còn thiếu minh bạch đến nỗi Trung Quốc và Mỹ thậm chí còn không đồng ý về các định nghĩa cơ bản, đâu là những hành vi không thể chấp nhận được. Một số nghe có vẻ gợi nhớ tới các học thuyết khắc nghiệt nhưng quen thuộc trong cuộc đối đầu hạt nhân Đông-Tây trong cuộc Chiến tranh Lạnh thế kỷ 20.

Suy nghĩ về những điều không tưởng

Bên cạnh các tiêu đề báo chí hàng ngày về chiến tranh thương mại và mâu thuẫn thuế quan, các nỗ lực kín đáo vẫn đang được tiến hành để xác định Mỹ và Trung Quốc có thể đồng ý về một số quy chuẩn và nguyên tắc cơ bản nhằm tránh các cuộc đụng độ hoặc tính toán sai trong lĩnh vực không gian mạng hay không. Những nỗ lực này rõ ràng lấy các cuộc đàm phán vũ khí hạt nhân trong lịch sử làm mô hình, làm sống lại những cụm từ Chiến tranh Lạnh đã bị lãng quên phần nào như “các biện pháp xây dựng lòng tin” và cam kết “không sử dụng đầu tiên”.

Các viện nghiên cứu Mỹ và Trung Quốc đã âm thầm tổ chức các cuộc hội thảo để nói về những hành động thảm khốc đến mức cả hai nước có thể sẵn sàng từ bỏ chúng. Viện Carnegie Endowment, có trụ sở tại Washington, DC, đã đề xuất lệnh cấm các cuộc tấn công chống lại các hệ thống chỉ huy và kiểm soát các lực lượng hạt nhân, và “hết sức kiềm chế” việc làm suy yếu niềm tin vào các luồng dữ liệu tài chính quan trọng đối với sự ổn định toàn cầu. Một nhóm các chuyên gia chính phủ do Liên Hợp Quốc triệu tập đã đề xuất một tiêu chuẩn chống lại việc tấn công vào các cơ sở hạ tầng quan trọng, như đập thủy lợi hoặc lưới điện. Các công ty công nghệ lớn và các lãnh đạo doanh nghiệp đã bắt đầu tranh luận về danh sách các hành động có thể bị cấm tương tự như sử dụng khí mù tạc hoặc phát tán bệnh than trong thế giới thực, như thử nghiệm vũ khí mạng trong các mạng máy tính kết nối với thế giới bên ngoài.

Niềm tin đã chứng minh là một trở ngại đối với việc thiết lập các hiệp ước kiểu Chiến tranh Lạnh để loại bỏ những công cụ như vậy. Không giống như đầu đạn hạt nhân, vũ khí không gian mạng không thể đếm được, và sự tiêu hủy của chúng không bao giờ có thể xác minh được. Đến nay, các chuyên gia và quan chức Trung Quốc đã tỏ ra miễn cưỡng khi nói về cách các “chiến binh mạng” của Trung Quốc hoạt động ra sao. Mỹ không đồng ý với Trung Quốc về những hình thức gián điệp mạng nào, mặc dù gây khó chịu cho các đối thủ, là thứ có thể chấp nhận được. Nước Mỹ xác định đó là những hoạt động gián điệp của chính phủ nhằm đánh cắp bí mật thương mại và trao chúng cho các công ty được nhà nước ưu tiên. Trung Quốc hứa sẽ ngăn chặn các hoạt động gián điệp như vậy trong một thỏa thuận năm 2015 giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Barack Obama, nhưng các quan chức Mỹ khẳng định rằng cam kết đó đã bị phá vỡ, và Trung Quốc đã cố gắng hơn để không bị bắt quả tang bằng cách đưa các hoạt động sang cho Bộ An ninh Quốc gia quản lý.

Vận hành một thế giới mới ngay nay với các cuộc tấn công biết được lẫn khó biết có thể yêu cầu cả hai bên phải đưa ra những nhượng bộ đau đớn. Vào tháng 10 năm 2018, một đại tá đã nghỉ hưu của Giải phóng Quân Nhân dân (PLA), Liu Jinghua, và một cựu quan chức năng lượng nguyên tử của Israel, Ariel Levite, đã công bố đề xuất về một thỏa thuận lớn về không gian mạng trong tạp chí Khoa học quân sự Trung Quốc, một tạp chí học thuật của PLA. Bài viết gợi ý rằng Mỹ nên công nhận quyền của Trung Quốc trong việc giám sát và kiểm duyệt mạng internet của chính họ một cách gắt gao, ngừng cho rằng internet nên là nơi tồn tại tự do ngôn luận, tự do khám phá trên toàn thế giới. Đổi lại, bài viết cũng đề xuất rằng cảnh sát mạng Trung Quốc sẽ sử dụng sức mạnh ghê gớm của họ để ngăn chặn và trừng phạt các cuộc tấn công mạng được phát động từ lãnh thổ Trung Quốc.

Những đề xuất như vậy không có sự kịch tính như phản ứng của Mỹ trước cú sốc Sputnik, một cuộc chạy đua không gian đưa con người lên mặt trăng và thúc đẩy các phát minh quan trọng đối với cuộc sống hiện đại. Nhưng cuộc đối đầu Trung – Mỹ phải được quản lý. Có thể cho rằng nó đã lên tới hình thức một cuộc chiến tranh mạng không được công bố. Cả hai bên có những lợi ích lớn có thể được liệt kê ra và so sánh. Có thể một ngày nào đó, những danh sách đó sẽ trở thành một hiệp ước, làm cho thế giới trở nên an toàn hơn. Nhưng than ôi, ngày đó vẫn còn xa.

 

Nguồn: The trouble with putting tariffs on Chinese goods”, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

6. Tại sao đánh thuế hàng Trung Quốc không hiệu quả?

Donald Trump không phải là tổng thống Mỹ đầu tiên hứa hẹn một đường lối cứng rắn hơn đối với Trung Quốc, nhưng ông là người đầu tiên tiến hành một cuộc chiến tranh thương mại mà nghe giống như một cuộc thương lượng lại tiền thuê nhà. “Tôi là một Người đánh thuế”, ông đã tweet vào tháng 12 năm ngoái, khoe rằng nước Mỹ đang thu được hàng tỷ đô la nhờ thuế nhập khẩu mà ông đã áp đặt (ông quên mất thuế nhập khẩu chủ yếu là do người tiêu dùng Mỹ gánh). Ông Trump làm cho thị trường Mỹ nghe giống như một mảnh bất động sản có giá trị mà người nước ngoài phải trả nhiều tiền hơn nếu muốn tiếp cận. Hay như ông Trump nói: “Khi người dân hoặc các quốc gia khác đến để lợi dụng sự giàu có của Quốc gia chúng ta, tôi muốn họ phải trả tiền cho đặc quyền đó”.

Khi Trung Quốc phát triển, các chính trị gia thường cáo buộc họ “không chơi theo cùng một quy tắc”. Ông Trump thì khác. Ông không quá băn khoăn về các quy tắc. Ông nói rằng ông không đổ lỗi cho việc Trung Quốc đặt lợi ích của mình lên hàng đầu và đánh cắp các công ăn việc làm của người Mỹ. Ông chỉ đổ lỗi cho những người tiền nhiệm đã cho phép hành vi trộm cắp đó xảy ra.

Khi giới doanh nghiệp và hoạch định chính sách của Trung Quốc suy ngẫm về cuộc chiến thương mại, không hiếm khi chúng ta nghe ông Trump được họ mô tả là một doanh nhân thực dụng bị kiểm soát bởi một nhóm những người theo chủ nghĩa dân tộc kinh tế điên cuồng. Trên thực tế, thương mại là một trong số ít các vấn đề chính sách mà ông Trump có niềm tin cố định khi lên nắm quyền, một niềm tin được tạo ra từ những năm 1980 lúc xảy ra căng thẳng thương mại với Nhật Bản và Đức. Ngược lại, các nhân sự nội bộ của ông đã phải mất nhiều thời gian để tranh cãi về chính sách thương mại, đôi khi lọt vào cả tai của các nhà đàm phán Trung Quốc đang sững sờ. Các quan chức ở Trung Quốc hơi bị ám ảnh về cố vấn thương mại chính của ông Trump, Peter Navarro, một học giả hiếu chiến muốn tách rời nền kinh tế Trung Quốc và Mỹ. Trên thực tế, ảnh hưởng của Navarro khá hạn chế. Sức mạnh chính của ông đến từ việc ông đại diện cho quan điểm về thế giới của các đảng viên Dân chủ tham gia công đoàn, những người có lá phiếu mà ông Trump cần nếu muốn tái đắc cử.

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, Robert Lighthizer, lớn lên tại một thị trấn đường sắt ở vành đai công nghiệp Đông Bắc và coi việc chiến đấu để bảo vệ các công nhân ngành chế tạo là một mục tiêu cần thiết của chính phủ. Thời trẻ ông từng tham gia đàm phán với Nhật dưới thời chính quyền Reagan. Điều hợp nhất nhóm quan chức kỳ lạ này là một câu chuyện chung: rằng Trung Quốc đã âm mưu và lừa dối để đánh cắp công ăn việc làm của người Mỹ và những công việc đó có thể được kéo về Mỹ bằng cách sử dụng sức ép đủ lớn, giống như những gì đã xảy ra với Nhật Bản hai thế hệ trước.

Hồi đó, Nhật Bản và Đức đã xoa dịu Mỹ bằng cách đồng ý tăng giá đồng yên và đồng D-mark so với đồng đô la, khiến hàng hóa của Mỹ có sức cạnh tranh hơn một chút. Nhật Bản bị ép phải tự nguyện hạn chế xuất khẩu mọi thứ từ hàng dệt may cho đến ô tô. Với thái độ xây dựng hơn, các công ty Nhật Bản cũng đã mở các nhà máy sản xuất xe hơi ở Mỹ, mang theo cả các nhà quản lý chất lượng từ Nhật.

Tuy nhiên các giải pháp áp dụng cho Nhật Bản không thể áp dụng được cho Trung Quốc, và lịch sử sẽ không lặp lại. Thứ nhất, Trung Quốc sẽ không chấp nhận để đồng tiền của mình tăng giá 50% hoặc hơn so với đồng đô la Mỹ. Hơn nữa, các nhà sản xuất ô tô hoặc đại gia viễn thông Trung Quốc như Huawei không được hoan nghênh nếu đầu tư vào Mỹ, nơi họ bị buộc tội ăn cắp công nghệ và đe dọa an ninh quốc gia.

Nhóm Trump cũng từ chối thừa nhận logic của chuỗi cung ứng toàn cầu. Quan điểm lịch sử phổ biến về quá trình việc làm của người Mỹ bị chuyển sang Trung Quốc đã nhấn mạnh sự “xảo quyệt” của các quan chức Trung Quốc và xem nhẹ vai trò của các công ty đa quốc gia của châu Á và các khu vực khác. Trong nhiều ngành công nghiệp chế tạo cấp thấp, lực đẩy của toàn cầu hóa đã đưa các công việc này đến Trung Quốc khi nước này đưa ra mức lương thấp, đất rẻ và ưu đãi thuế. Các công ty nước ngoài đào tạo các nhà quản lý Trung Quốc để vận hành các nhà máy đạt chất lượng xuất khẩu.

Giờ đây, khi tiền lương của Trung Quốc đang tăng lên và thuế quan của ông Trump đang tạo ra những rủi ro chính trị không thể kiểm soát được, các việc làm ngành chế tạo lại rời Trung Quốc sau thời gian 30 năm, hướng tới Đông Nam Á và các khu vực khác. Hiểu đúng lịch sử trở thành vấn đề quan trọng bởi vì lý lẽ thương mại của ông Trump quá nhìn vào quá khứ. Douglas Paal, người nắm giữ các chức vụ hàng đầu về châu Á dưới chính quyền Reagan và Bush cha, nhận thấy khiếm khuyết trong mọi cuộc chiến dựa trên luật thương mại: “Cấu trúc không tính đến tiếng nói của các ngành công nghiệp trong tương lai”.

Đôi khi số phận của một ngành công nghiệp có thể tổng kết cả một thời đại. Những năm 1970, các nhà máy Mỹ sản xuất hơn 15 triệu xe đạp mỗi năm. Ngày nay, hơn 95% xe đạp được bán ở Mỹ được nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc. Các nhà máy Mỹ sử dụng công nghệ hàng chục năm tuổi, nhưng chính quyền Trump vẫn sử dụng các quyền hạn đặc biệt theo “Mục 301” (Đạo luật Thương mại Mỹ), vốn có mục đích bảo vệ các tài sản trí tuệ quý giá nhất, để áp thuế 10% đối với xe đạp Trung Quốc vào tháng 9 năm ngoái, tăng lên 25% vào ngày 10 tháng 5 vừa qua.

Tôi muốn đạp đến nơi nào tôi thích

Đối với bất kỳ ai muốn tìm kiếm bằng chứng cho thấy cuộc chiến thương mại là tốt cho công nhân Mỹ, quầy bán xe đạp của Walmart Supercentre ở Moline, Illinois, có vẻ là nơi phù hợp. Bên cạnh xe đạp do Trung Quốc sản xuất từ ​​các thương hiệu như Huffy hay Kent, các giá đỡ cũng trưng bày những chiếc xe khuấy động lòng yêu nước của người Mỹ: xe đạp địa hình mang logo hình khiên của Tập đoàn Xe đạp Mỹ (BCA) và được gắn thẻ thông tin sản phẩm có màu cờ Mỹ với khẩu hiệu “Đưa việc làm trở lại nước Mỹ!”. Thẻ cho thấy địa chỉ nhà máy nằm ở Nam Carolina.

Quầy hàng Walmart đó khiến người ta hiểu lầm. Arnold Kamler là giám đốc điều hành của Kent International, một công ty gia đình có trụ sở tại New Jersey bán khoảng 3 triệu chiếc xe đạp mỗi năm cho Walmart, Target và các cửa hàng khác. Ông nhớ lại, vào cuối những năm 1980, những chiếc xe đạp do Trung Quốc sản xuất được bán ở Mỹ với giá không tưởng và sau đó lại tiếp tục giảm thêm 5-10% mỗi năm. Kent đã phải đóng cửa nhà máy ở New Jersey vào năm 1991. Vài năm sau, các nhà sản xuất xe đạp Mỹ còn lại đã phải nộp đơn xin áp thuế chống bán phá giá đối với xe đạp nhập khẩu từ Trung Quốc. Cơ quan quản lý thương mại của chính phủ từ chối giúp đỡ. “Hồi đó Hoa Kỳ đang cố gắng gây thiện cảm với Trung Quốc”, ông Kamler buộc tội. Đó nghe có vẻ như là một trong những câu chuyện ông Trump hay kể về sự gian lận của Trung Quốc và sự thụ động của người Mỹ. Tuy nhiên, cuộc sống thực tế lại không đơn giản như vậy, và một chuyến đi đến đồng bằng sông Dương Tử cho thấy điều đó.

Hầu hết các xe đạp của Kent được sản xuất tại Côn Sơn, gần Thượng Hải, bởi một nhà thầu tên là Shanghai General Sports. Công ty này được điều hành bởi Ge Lei, một người đàn ông 43 tuổi dễ gần. Người sáng lập công ty là cha của ông, ông Ge Yali, người điều hành một nhà máy sản xuất xe đạp quốc doanh vào những năm 1980. Theo lời kể của ông Ge Yali, sự phát triển ở Côn Sơn có được là nhờ các nhà đầu tư Đài Loan và Nhật Bản, những người đã giúp thay đổi các tiêu chuẩn sản xuất. Nếu những người ủng hộ ông Trump vào phòng họp của gia đình Ge ở Côn Sơn, được trang trí với những chiếc xe đạp trẻ em của Kent mang các nhãn hàng Walmart, họ có thể khao khát những chiếc xe của BCA từ Nam Carolina có thể thay thế chúng.

Nhưng thực tế thì BCA là một công ty con của Kent. Công ty này đã được ông Kamler mở vào năm 2014 khi Walmart phát động chiến dịch mua hàng Mỹ. Và thay vì làm xe đạp từ đầu, BCA lắp ráp và sơn khung xe và các bộ phận nhập khẩu, chủ yếu là từ Côn Sơn. Vài năm trước, gia đình Ge đã mua 49% cổ phần của Kent. Nói cách khác, những chiếc xe đạp BCA kích động lòng yêu nước kia có một nửa thuộc sở hữu của người Trung Quốc.

Có những tin xấu hơn dành cho những người ủng hộ chính sách “Nước Mỹ trên hết”. Bởi vì thuế nhập khẩu của ông Trump được áp dụng đối với xe đạp thành phẩm cũng như linh kiện, chi phí sản xuất của Kent và BCA đã bị tăng thêm 20 triệu đô la mỗi năm. Trong khi đó, một loạt mức thuế riêng biệt của Trump dành cho sản phẩm thép và nhôm cũng đã gây xáo động thị trường đến mức các kế hoạch mở rộng BCA đang bị trì hoãn, làm mất việc làm của người Mỹ.

Hồi năm 2015, Thống đốc bang Nam Carolina lúc đó là Nikki Haley đã đón tiếp các nhà sản xuất phụ tùng Trung Quốc và Đài Loan tại nhà máy BCA, kêu gọi họ mở chi nhánh ở Nam Carolina để tạo ra một cụm nhà máy sản xuất xe đạp. Ông Kamler kêu gọi các nhà cung cấp Trung Quốc nhận ra rằng các ngành sản xuất công nghệ thấp có thể có lợi nhuận ở Mỹ. “Tiếc là nỗ lực đó không thành công”, ông thở dài. BCA chỉ lắp ráp được 310.000 xe đạp vào năm ngoái và ông Kamler tin rằng sản lượng thấp như vậy đã khiến các nhà đầu tư Trung Quốc không mặn mà. Ge Lei thì thấy một vấn đề sâu hơn. Ngay cả khi bỏ qua chi phí lao động, ông nghĩ rằng người Mỹ đã quên cách điều hành các nhà máy thâm dụng lao động. Anh ta quá khéo léo nên không gọi công nhân Mỹ là “lười biếng”, chỉ nói rằng họ “di chuyển chậm hơn”.

Thay vào đó, ông Ge đang xây dựng một nhà máy ở Campuchia nhằm tiết kiệm tiền lương. Xe đạp sản xuất ở đó sẽ tránh được các khoản thuế chống Trung Quốc của ông Trump khi chúng được xuất đến Moline và siêu thị Walmart ở các nơi khác. Các công nhân ở Campuchia của ông sẽ học được một điều mà ông Trump không muốn công nhận: thuế quan hiếm khi có được tác dụng như dự tính.

 

Nguồn: America and China must manage their rivalry or risk disaster”, The Economist, 16/05/2019.

Biên dịch: Phan Nguyên

Mỹ và Trung Quốc phải quản lý sự cạnh tranh nếu muốn tránh thảm họa

Nếu hỏi các chuyên gia Mỹ cuộc cạnh tranh nước lớn với Trung Quốc có thể kết thúc ra sao, thì người ta sẽ thấy các tình huống tốt nhất mà họ đưa ra đều rất giống nhau. Họ mô tả một tương lai gần trong đó Trung Quốc sẽ dàn trải sức mạnh quá mức và vấp ngã. Họ tưởng tượng một Trung Quốc bị trừng phạt bởi tăng trưởng chậm lại ở trong nước và sự phản ứng gay gắt chống lại sự quyết đoán của mình ở nước ngoài. Họ hy vọng Trung Quốc có thể nhìn lại trật tự toàn cầu và tìm kiếm một vai trò lãnh đạo trong trật tự đó thay vì tìm cách thiết lập một trật tự mới.

Các chuyên gia Trung Quốc cũng có vẻ giống nhau khi giải thích tình huống tốt nhất theo quan điểm của họ. Nói một cách thẳng thắn là Mỹ nên ngừng nghĩ mình quan trọng hơn người khác. Còn nói  cách lịch sự hơn thì các chuyên gia Trung Quốc bày tỏ hy vọng rằng trong một thập niên nữa, Mỹ sẽ học được sự khiêm nhường để chấp nhận vai trò của Trung Quốc như một đối tác bình đẳng, và có được sự khôn ngoan để tránh kích động Trung Quốc ở khu vực sân sau châu Á của nước này.

Thật đáng mừng khi không ai trong số các chuyên gia này dự đoán một tương lai trong đó cả Mỹ và Trung Quốc đều cảm thấy mình như là người chiến thắng. Điều đó sẽ cho tất cả các bên một thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng hơn. Cuộc Chiến tranh Lạnh thế kỷ trước với Liên Xô đã kết thúc với chiến thắng của người Mỹ. Nhưng trong một cuộc chiến tranh lạnh Trung-Mỹ mới, cả hai nước đều có thể thua.

Evan Medeiros, trước đây là cố vấn hàng đầu về châu Á của Barack Obama, lo ngại rằng Trung Quốc đang tập trung vào chính sách ngoại giao gây xáo trộn của ông Trump cũng như những lợi ích hẹp về thương mại. Medeiros, hiện đang làm việc tại Đại học Georgetown, nhận thấy Trung Quốc đang thiếu thiếu hiểu biết về việc tâm trạng của nước Mỹ đã thay đổi như thế nào. Người Trung Quốc “tập trung vào vấn đề chu kỳ, tôi không nghĩ rằng họ đã hiểu được các vấn đề về mặt cấu trúc [trong chính trị Mỹ]”, ông nói.

Một sự can dự lâu dài

Đối với Mỹ, cần nhớ rằng việc can dự cùng với Trung Quốc không phải là một hành động từ thiện. Giờ người ta thường chế giễu những người Mỹ ủng hộ sự can dự với Trung Quốc khi Trung Quốc mở cửa ra thế giới là ngây thơ. Trong thực tế, nhiều người trong số đó là những nhà hiện thực chủ nghĩa khó tính. Podcast “Đối thoại Mỹ-Trung”, một dự án lịch sử qua lời kể tại Đại học Georgetown, đang phỏng vấn các chuyên gia kỳ cựu về 40 năm quan hệ ngoại giao Mỹ – Trung. Dự án đưa ra một lời nhắc nhở gợi mở về việc Trung Quốc mong manh và nguy hiểm như thế nào cách đây chưa lâu. Trong một bản ghi âm, Jeffrey Bader, cựu cố vấn trưởng của Obama về chính sách châu Á, hiện làm việc tại Viện Brookings, nhắc lại việc trong những năm 1980, Mỹ không có vấn đề gì khác chiếm tâm trí bằng việc Trung Quốc sẵn sàng cung cấp bí mật vũ khí hạt nhân cho Pakistan và các thiết kế tên lửa đạn đạo cho “mọi chế độ bất hảo ở Trung Đông”. Sau nhiều năm chịu áp lực ở cấp độ cao, Trung Quốc hiện kiên quyết chống phổ biến hạt nhân. Sau khi Trung Quốc đàn áp tàn bạo các cuộc biểu tình do sinh viên dẫn dắt ở Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989, Mỹ vẫn giữ quan hệ thương mại mở, không phải vì hy vọng vào một Trung Quốc nhân từ hơn, mà vì sợ rằng nước này có thể quay trở lại chính sách tự cung tự cấp bài ngoại thời Mao, ông Bader lưu ý.

Mỹ cần suy nghĩ kỹ về những gì họ muốn từ Trung Quốc. Một số người ở Washington coi sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một rào cản không thể vượt qua đối với niềm tin. Trừ khi họ muốn chứng kiến đảng sớm bị lật đổ, còn không thì sẽ là khôn ngoan hơn nếu chỉ tập trung vào các hành vi của Trung Quốc. Như Oriana Skylar Mastro tại Đại học Georgetown nói: “Nếu chúng ta tập trung vào bản chất của chính Trung Quốc, thì chúng ta sẽ không thể cho họ một lối thoát”.

Mỹ phải tránh bẫy. Nếu các chiến lược gia Trung Quốc tin vào những gì họ nói, rằng Mỹ đã mệt mỏi và sẵn sàng rút lui, thì bước tiếp theo là có thể dự đoán được. Trung Quốc sẽ mang đến cho Mỹ một cuộc sống dễ dàng bề ngoài, trong đó Trung Quốc được trao một phạm vi ảnh hưởng ở Tây Thái Bình Dương và Mỹ quay vào chu kỳ suy tàn hướng nội.

Bà Mastro thừa nhận có một logic lạnh lùng đối với chủ nghĩa biệt lập, mặc dù bà phản đối nó. Nếu nước Mỹ sẵn sàng chấp nhận một thế giới trong đó Mỹ không còn kề vai sát cánh cùng các đồng minh châu Á, thì “sẽ không còn sự tranh chấp quân sự nào khác giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ”. Nhưng cái giá rất cao: đó là một minh chứng cho thấy Mỹ cảm thấy không còn bị ràng buộc bởi các cam kết hiệp ước với các đồng minh cũng như các giá trị của nó.

Cách đây không lâu, Mỹ và Trung Quốc đã làm giảm căng thằng bằng cách hứa hẹn mở rộng thương mại. David Dollar tại Viện Brookings, và là đại diện của Bộ Tài chính Hoa Kỳ tại Bắc Kinh, cho rằng giờ đã quá muộn để làm việc đó. Ông nhớ lại việc Chủ tịch Tập Cận Bình từng nói với các vị khách Mỹ đến thăm rằng “quan hệ kinh tế là nền tảng của mối quan hệ chúng ta”. Ông Dollar nghi ngờ điều đó. Một số đồng minh phương Tây của Mỹ, như Đức, có quan hệ sâu sắc hơn với Trung Quốc so với Mỹ thông qua các trao đổi kinh tế trực tiếp. Trong số các điểm đến cho đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài, Trung Quốc chỉ đứng thứ bảy. Một lập luận thuyết phục hơn để Mỹ hợp tác với Trung Quốc liên quan đến khả năng độc nhất vô nhị của Mỹ và Trung Quốc trong việc cung cấp hàng hóa công toàn cầu, chẳng hạn như các chính sách để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, ông nói.

Henry Paulson, cựu bộ trưởng tài chính, kêu gọi Trung Quốc và Mỹ đạt thỏa thuận về các dự án hữu hình mà công chúng có thể thấy, từ các kế hoạch môi trường đến đầu tư vào các lĩnh vực mới nhằm tạo ra công ăn việc làm: “Để xây dựng niềm tin, điều quan trọng là cần cùng giành được một số chiến thắng”.

Báo cáo này đã xem xét nhiều trở ngại đối với niềm tin. Trung Quốc là một loại siêu cường khá đặc biệt: họ được ngưỡng mộ vì các thành tích của mình nhưng thiếu bạn bè thực sự. Trung Quốc chỉ biến các quốc gia khác thành người phụ thuộc, thu hút họ nhờ nhiều tiền, công nghệ và thị trường. Trung Quốc không nên bị chỉ trích vì trở nên lớn hơn. Nhưng Trung Quốc đã quá lớn để duy trì một thế giới quan tự lợi, cơ hội chủ nghĩa và yếm thế vốn đã từng giúp nước này vươn lên. Nếu Trung Quốc không thay đổi, nó có thể phá vỡ toàn cầu hóa, chia cắt thị trường thế giới thành các khối do Trung Quốc và Mỹ lãnh đạo. Ở Biển Đông và các vùng biển gần khác, chủ nghĩa dân tộc hung hăng của Trung Quốc đang làm tăng nguy cơ xảy ra đụng độ vô tình với máy bay hoặc tàu chiến Mỹ. Và Trung Quốc cũng đã xây dựng một nhà nước cảnh sát phân biệt chủng tộc ở Tân Cương, có thể đã giam giữ một triệu người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi trong các “trại cải tạo” và tiến hành giám sát hàng triệu người khác. Điều đó sẽ trở thành một lực cản lớn hơn bao giờ hết đối với uy tín của nó, đặc biệt là nếu Trung Quốc muốn xuất khẩu mô hình chuyên chế dựa trên công nghệ đó sang các nước khác.

Nước Mỹ cũng vậy, có rất nhiều thứ để mất. Các lãnh đạo Mỹ đang chịu khuất phục trước một cuộc khủng hoảng niềm tin có nguy cơ chứng minh rằng những người Trung Quốc khinh miệt Mỹ đã nói đúng. Để cạnh tranh với Trung Quốc, Mỹ phải đầu tư vào tương lai của mình, với ngân sách dành cho giáo dục công và khoa học cấp cao, đồng thời có các chính sách nhập cư hợp lý để thu hút nhân tài. Ở nước ngoài, điều đó có nghĩa là cần xây dựng lại các liên minh đã bị suy yếu và nhớ rằng các quốc gia phương Tây khác không muốn lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Không có quy tắc nào tồn tại trong cuộc cạnh tranh quyền lực nước lớn này. Lịch sử hiện đại chưa từng chứng kiến một cuộc cạnh tranh ý thức hệ nào như vậy giữa hai đối tác thương mại khổng lồ. Đồng ý làm thế nào để làm cho cuộc cạnh tranh đó an toàn và mang tính xây dựng sẽ khó khăn. Nhưng hòa bình và thịnh vượng của thế kỷ này phụ thuộc vào điều đó./.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s