Phân tích các yếu tố đảm bảo công bằng trong chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam

Báo cáo nghiên cứu của GreenID (Bản thảo – Draft version)

Bản chính thức được công bố sau hội thảo:

Nghiên cứu phân tích yếu tố đảm bảo công bằng trong chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam” được tổ chức vào  8:30 – 12:30 ngày 22-1-2019 tại Hội trường 2, Tầng 1, Nhà J, Khách sạn La Thành, 226 Vạn Phúc, Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội.

TÓM TẮT
Chuyển dịch sang năng lượng tái tạo đã trở thành xu hướng phát triển ở quy mô toàn cầu. Quá trình chuyển dịch đang diễn ra ở nhiều quốc gia đã đưa lại những kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Tương lai năng lượng Việt Nam đang đứng trước nhiều ngã rẽ. Và giờ đây, câu hỏi lớn với Việt Nam là làm như thế nào để có thể chuyển dịch từ mô hình năng lượng của thế kỷ 20 dựa vào nhiệt điện than và thủy điện lớn sang phát huy lợi thế của nguồn năng lượng tái tạo dồi dào, chi phí ngày càng thấp hơn để đảm bảo một tương lai năng lượng tự chủ, độc lập, đồng thời giữ gìn môi trường không khí, nguồn nước sạch, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ Trái đất mà vẫn phát triển kinh tế, tạo ra các công ăn việc làm có chất lượng. Năm 2020 là một thời điểm quan trọng với ngành năng lượng Việt Nam vì đây là thời điểm quyết định hình hài của ngành điện quốc gia cho giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn cho mấy thập kỷ kế tiếp.

Để đóng góp cho lộ trình chuyển dịch sang năng lượng sạch của Việt Nam, GreenID đã
nghiên cứu và đưa ra đề xuất về bản thiết kế năng lượng sạch cho Việt Nam vào năm 2030 với các
kịch bản gia tăng năng lượng tái tạo (B&RE) và tích hợp phát triển năng lượng tái tạo với sử dụng
năng lượng tiết kiệm hiệu quả (EE&RE) vào tháng 6 năm 2018. Trong nỗ lực cung cấp thông tin
đa dạng và cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách năng lượng, khí hậu thời gian tới
đảm bảo phát triển Xanh, bền vững và không bỏ lại ai ở phía sau, GreenID hợp tác cùng viện FES
thực hiện nghiên cứu “Chuyển dịch năng lượng đảm bảo công bằng cho Việt Nam”. Nghiên cứu
này giới thiệu khái niệm chuyển dịch công bằng, tập trung vào đánh giá tác động và so sánh về
việc làm, môi trường, và xem xét các yếu tố kinh tế và xã hội của ba kịch bản nguồn điện: QHĐ
VII điều chỉnh, B&RE và EE&RE từ đó phân tích cơ hội, thách thức và đưa ra đề xuất để thực
hiện chuyển dịch năng lượng công bằng ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy chuyển dịch năng lượng từ Nâu sang Xanh sẽ mang
lại nhiều cơ hội lớn cho Việt Nam về cả kinh tế, xã hội và môi trường. Đồng thời, nghiên cứu
cũng chỉ ra một số thách thức đòi hỏi nỗ lực liên ngành, liên cấp để có thể tháo gỡ những rào cản
trong quá trình chuyển dịch, đảm bảo công bằng xã hội ở Việt Nam.
Những cơ hội và lợi ích mà các kịch bản phát triển điện sạch có thể mang lại cho Việt Nam
bao gồm:
1. Tạo ra việc làm mới: số lượng việc làm về Xây lắp cũng như việc làm về Vận hành
và bảo dưỡng mới được tạo ra trong các ngành năng lượng tái tạo gồm: điện gió, điện mặt trời và
sinh khối hoàn toàn có thể thay thế cho việc làm trong ngành nhiệt điện (than và khí gas) trong dài
hạn. Cụ thể, cùng đáp ứng nhu cầu điện vào năm 2030 nhưng việc làm xây lắp trực tiếp theo kịch
bản B&RE cao hơn kịch bản QHĐ VII ĐC với tổng số việc làm mới ước tính tạo ra trong giai
đoạn 2026-2030 lên đến 425.700 tương đương 85.200 việc làm/năm và bình quân cao hơn gần
31.400 việc làm/năm so với QHĐ VII ĐC. Việc phát triển các loại năng lượng tái tạo của kịch bản
này trong dài hạn dự báo sẽ đem lại cơ hội việc làm gần tương đương kịch bản QHĐ VII ĐC cho lao động về Vận hành, bảo dưỡng, khoảng 82.600 việc làm. Số lượng việc làm theo kịch bản
EE&RE tạo ra thấp hơn song do chưa tính được đầy đủ công việc tạo ra từ triển khai các công
việc, hoạt động về tiết kiệm năng lượng.
2. Cải thiện chất lượng công việc: chuyển dịch năng lượng mang lại lợi ích lớn về môi
trường làm việc trong lành, ít bụi bẩn và ít rủi ro hơn cho sức khỏe người lao động. Bên cạnh đó,
mức lương của người lao động trong ngành mới này cũng được đánh giá là cạnh tranh và xếp hạng
tốt. Đây là hai tiêu chí vô cùng quan trọng trong các tiêu chuẩn việc làm chất lượng được khuyến
cáo bởi tổ chức lao động quốc tế ILO.
3. Giảm tác động môi trường và sức khỏe cộng đồng: Kịch bản EE&RE do GreenID
đề xuất ước tính giảm tới 48% tổng phát thải các loại bụi (TSP, PM10 và PM2.5) vào năm 2030
so với kịch bản QHĐ VII ĐC. Còn kịch bản B&RE ước tính giảm 17% tổng phát thải bụi so với
QHĐ VII ĐC. Hơn thế nữa, phát thải TSP, PM10 và PM2.5 của kịch bản EE &RE tăng không
đáng kể, năm 2030 chỉ tăng khoảng 8% so với năm 2020. Trong khi đó với kịch bản QHĐ VII ĐC,
phát thải PM2.5 năm 2020 là 12.155 tấn, năm 2025 là 22.516 tấn, tăng 85%, năm 2030 là 26.165
tấn tăng 115%. Về nhu cầu sử dụng nước, trong tất cả các kịch bản, nhu cầu nước chủ yếu là cho
việc làm mát, đặc biệt là nhiệt điện đốt than chiếm khoảng 63% trong tổng nhu cầu nước. Năm
2030, tổng nhu cầu nước kịch bản QHĐ VII ĐC là 4,3 tỷ m3/năm, kịch bản B&RE là 3,6 tỷ m3,
kịch bản EE&RE là 2,5 tỷ m3/năm. Nhu cầu nước của kịch bản EE&RE chỉ bằng khoảng 58% so
với nhu cầu của QHĐ VII ĐC, còn kịch bản B&RE chỉ dùng lượng nước bằng khoảng 84%, so
với nhu cầu nước của kịch bản QHĐ VII ĐC. Như vậy, kịch bản chuyển dịch năng lượng có đóng
góp quan trọng vào cải thiện môi trường không khí và nguồn nước và do vậy có đóng góp rất lớn
đối với việc giảm thiểu rủi so sức khỏe cho cộng đồng. Theo ước tính sơ bộ, kịch bản EE&RE có
thể giúp tránh được 7,600 ca tử vong sớm hàng năm vào năm 2030 so với kịch bản QHĐ VII ĐC1
.
4. Giảm đáng kể phát thải khí nhà kính và nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong
cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, tích cực thực hiện mục tiêu của Hiệp định Paris: Theo kết
quả tính toán, kịch bản EE&RE sẽ có lượng phát thải thấp hơn 126,6 triệu tấn CO2tđ, tương đương
40,5% so với kịch bản QHĐ VII ĐC vào năm 2030. Phát thải khí nhà kính của phương án B&RE
thấp hơn phương án QHĐ VII ĐC 44,6 triệu tấn CO2tđ, tương đương 14,3%. Nếu kịch bản chuyển
dịch được thực hiện sẽ đưa Việt Nam vào một tâm thế mới trở thành quốc gia đi tiên phong trong
nỗ lực giảm khí thải vừa tạo thêm động lực thúc đẩy cộng đồng quốc tế hành động và mở rộng cơ
hội hợp tác thu hút các dòng tài chính khí hậu cho phát triển Xanh
5. Chuyển dịch năng lượng sẽ tạo động lực phát triển mới và giúp thu hẹp khoảng
cách cho các địa phương có tiềm năng ở vùng sâu xa. Sự hình thành các nhà máy điện tái tạo
tại các khu vực xa xôi hẻo lánh sẽ tạo điều kiện cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin của
các khu vực này. Việc làm mới được tạo ra tại chỗ sẽ giúp giữ chân lực lượng lao động trẻ ở lại
địa phương, giúp gỡ bỏ những rào cản đối với người dân tộc thiểu số để tiếp nhận và phát triển khoa học công nghệ cho các vùng nông thôn. Địa phương có nhiều cơ hội kinh tế hơn nhờ thu hút
vốn đầu tư tư nhân cho phát triển điện sạch, từ đó tăng thêm nguồn thuế từ hoạt động đầu tư này.
Phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam còn có lợi thế lớn do nguồn tiềm năng này ở gần với nơi
có nhu cầu phụ tải điện cao. Nếu thực hiện thành công sẽ giúp giảm áp lực cho hệ thống truyền tải
quốc gia hiện đang phải nỗ lực truyền tải điện từ miền Bắc, Trung vào miền Nam.
6. Tăng cơ hội tiếp cận điện và cải thiện điều kiện sống cho nhóm hộ chưa có điện ở
các vùng sâu xa, hẻo lánh: Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo nhất là công nghệ điện mặt
trời quy mô lớn ở các địa phương cũng giúp giảm giá công nghệ nhanh đối với hệ thống điện mái
nhà. Từ đó các hộ gia đình thu nhập thấp và các cộng đồng vùng sâu xa được hưởng lợi khi triển
khai các giải pháp tại chỗ về cấp điện. Trong điều kiện khó huy động được đủ nguồn vốn để mở
rộng lưới điện tới các vùng sâu vốn rất tốt kém cộng với nợ công cao, ngân sách công hạn hẹp thì
triển khai các giải pháp năng lượng tái tạo phi tập trung được xem là giải pháp tối ưu để giúp đạt
mục tiêu tiếp cận điện cho hầu hết các hộ gia đình vào năm 2020. Năng lượng tái tạo có ưu thế
phân tán, có thể tách thành các dự án nhỏ theo từng cụm, khả năng thi công nhanh, chủ động cung
cấp nguồn điện tại chỗ, người dùng điện chỉ phải tốn chi phí đầu tư nguồn phát điện, không phải
chi trả tiền điện hàng tháng, dễ dàng điều chỉnh công suất lắp đặt tùy thuộc vào nhu cầu của từng
hộ gia đình và cụm dân cư.

7. An ninh năng lượng được đảm bảo tốt hơn: Xét ở cả ba tiêu chí mức độ đa dạng của
nguồn cung năng lượng, tỷ trọng năng lượng nhập khẩu và tỷ trọng năng lượng hóa thạch, hai
phương án phát triển nguồn điện theo hướng chuyển dịch do GreenID xây dựng luôn có tính ưu
việt hơn so với kịch bản QHĐ VII ĐC trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Hai kịch bản này
đặc biệt phương án EE&RE có mức độ đa dạng hóa nguồn năng lượng tốt hơn của QHĐ VII ĐC
do cơ cấu giữa các nguồn cân bằng hơn. Tỷ lệ điện sản xuất từ nguồn năng lượng sơ cấp phải nhập
khẩu hoặc nhập điện trực tiếp của hai phương án B&RE và EE&RE đều thấp hơn phương án QHĐ
VII ĐC. Điều này có nghĩa 2 phương án này sẽ ít rủi ro hơn phương án QHĐ VII ĐC về nguồn
cung cấp cũng như về giá cung cấp năng lượng. Mức độ phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa
thạch của 2 phương án của GreenID thấp hơn so với phương án của QHĐ VII ĐC ở tất cả các giai
đoạn. Nếu tính theo mốc 2030, kịch bản EE&RE có mực độ phụ thuộc vào nguồn hóa thạch để
phát điện là 57,3%, thấp hơn kịch bản B&RE 7,5% và thấp hơn kịch bản QHĐ VII ĐC 18,5%. Tỷ
trọng điện được sản xuất từ nguồn năng lượng hóa thạch thấp sẽ có ít rủi ro về biến động giá, bao
gồm biến động tỷ giá. Mức giảm phụ thuộc này là do các phương án của GreenID phát triển NLTT
mạnh mẽ hơn. Tỷ lệ điện gió và mặt trời của phương án B&RE là 14% và ở phương án EE&RE là
17% trong khi tỷ lệ này ở phương án QHĐ VII ĐC là 5%.

8. Nhu cầu vốn đầu tư theo kịch bản chuyển dịch ít tốn kém hơn: tổng nhu cầu đầu tư
quy về hiện tại của 3 kịch bản cho thấy phương án QHĐ VII ĐC có nhu cầu đầu tư cao hơn cả hai
phương án chuyển dịch do GreenID xây dựng. Mức chênh lần lượt là 5293 triệu USD tương đương
15,4% so với phương án B&RE và 3624 triệu USD tương đương 10,6% so với phương án EE&RE.

9. Chi phí sản xuất điện của hai kịch bản chuyển dịch rẻ hơn: Kết quả tính toán tổng
chi phí của 3 phương án cho giai đoạn 2016-2030 quy theo giá năm 2015 cho thấy phương án
QHĐ VII ĐC có chi phí cao nhất với 107.4 tỷ USD, cao hơn phương án B&RE 15,6% và phương
án EE&RE 43%. Tất cả các hạng mục chi phí của phương án QHĐ VII ĐC đều cao hơn. Đó là
còn chưa kể chi phí ngoại sinh có thể làm mức chênh lệch lớn hơn nữa. Do đó, phương án QHĐ
VII ĐC có chi phí sản xuất điện cao hơn, với mức 9,56 US cent/kWh, cao hơn phương án B&RE
36% nhưng chỉ cao hơn phương án EE&RE 10% do nhu cầu của phương án này thấp hơn là nguyên
nhân chính cho chênh lệch chi phí.

10. Chuyển dịch năng lượng không dẫn tới mất việc làm cho người lao động của
ngành than hay của các nhà máy nhiệt điện than. Các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam đa
phần mới xây dựng và vận hành trong khoảng 10 năm trở lại đây vì thế chuyển dịch năng lượng
không ảnh hưởng tới việc phải đóng cửa các nhà máy này. Chỉ có 02 nhà máy nhiệt điện đến hạn
ngừng hoạt động và theo trao đổi với lãnh đạo của nhà máy và Tập đoàn điện lực Việt Nam thì
người lao động không gặp khó khăn vì chế độ công đoàn rất tốt. Những lực lượng lao động trẻ
được bố trí vào các nhà máy nhiệt điện mới đang xây dựng cho tới 2020, con số này nhiều hơn số
lượng nhà máy đóng cửa. Những người cận hoặc ở tuổi nghỉ hữu được bố trí nghỉ chế độ. Lao
động trong ngành than nếu suy giảm không phải do chuyển dịch năng lượng mà là do thay đổi
trong việc sử dụng công nghệ khai thác (từ lộ thiên sang hầm lò) và lượng than nội địa sử dụng
cho nhiệt điện than trong cả ba kịch bản hầu như không thay đổi. Ngược lại, dự báo số lượng việc
làm gia tăng nhờ phát triển năng lượng tái tạo nhiều hơn có khả năng bù đắp vào số lượng việc
làm mất đi so với kịch bản thông thường
Nghiên cứu cũng chỉ ra một số thách thức mà quá trình chuyển dịch năng lượng cần chú
trọng xem xét ngay khi bắt đầu để đảm bảo công bằng bao gồm:

1. Nhu cầu sử dụng đất lớn có thể dẫn tới rủi ro xung đột đất đai nếu không có giải pháp căn cơ: theo kết quả dự báo, diện tích đất cần cho phát triển điện vào năm 2030 của kịch
bản QHĐ VII ĐC là 538km2, của kịch bản B&RE là 735km2, lớn hơn 36%, kịch bản EE&RE là
688 km2, lớn hơn 28% so với kịch bản QHĐ VII ĐC. Kịch bản B&RE và RE&EE đòi hỏi diện
tích đất lớn hơn kịch bản QHĐ VII ĐC do diện tích chiếm đất của điện gió và mặt trời nhiều hơn.
Kịch bản RE&EE có diện tích chiếm đất nhỏ hơn so với B&RE do sử dụng các biện pháp hiệu quả
năng lượng nên công suất nguồn nhỏ hơn so với B&RE. Từ thực tế phức tạp trong công tác thu
hồi đất cho các dự án điện thời gian qua nhất là những mâu thuẫn gần đây ở Bình Định, Bình
Thuận cho thấy cần đặc biệt chú trọng để tránh tạo ra những xung đột, mâu thuẫn về sử dụng đất
khi phát triển năng lượng tái tạo. Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy rủi ro này có thể quản lý được
nếu các giải pháp phát triển tích hợp, đa mục tiêu, đa lợi ích được nghiên cứu, thảo luận và triển
khai với sự tham gia tích cực của các bên liên quan và người dân.
2. Đảm bảo sinh kế, việc làm cho người dân của các cộng đồng địa phương bị ảnh
hưởng bởi các dự án điện là một thách thức lớn. Tác động quan trọng nhất đối với sinh kế của người dân địa phương là do việc thu hồi đất và tái định cư. Tái định cư và đền bù đất đai cho
người dân trong các dự án đầu tư như điện ở Việt Nam luôn là một công việc phức tạp và tồn tại
nhiều bất cập do công tác thực thi và kiểm tra chưa tốt dẫn tới những bức xúc trong cộng đồng xã
hội. Bên cạnh đó, việc đào tạo, hỗ trợ việc làm thay thế chưa hiệu quả. Những bức xúc này khi
không được giải quyết kịp thời và triệt để đã trở thành căn nguyên dẫn tới sự bất ổn và mất lòng
tin của người dân. Bài học kinh nghiệm từ các trường hợp trên cho thấy nếu không thực hiện
nghiêm túc các quy định của pháp luật về công khai thông tin, tham vấn đối thoại với cộng đồng,
đảm bảo công bằng quyền lợi của người dân, và đạt được sự đồng thuận của cộng đồng thì việc
triển khai các dự án điện cũng như quá trình chuyển dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Người dân sẽ
chỉ ủng hộ khi quyền lợi của họ được đảm bảo. Một cộng đồng thành công trong chuyển dịch năng
lượng cần hội đủ các yếu tố: chính sách phát triển dài hạn với mục tiêu cụ thể rõ ràng, có sự tham
gia chủ động và hợp tác giữa người dân và chính quyền để thực hiện các mục tiêu đề ra.
3. Việc đào tạo nghề và chuẩn bị nguồn nhân lực cho quá trình chuyển dịch, nhất là
ở các địa phương còn chậm chạp, chưa theo kịp xu thế. Hiện đang có khoảng trống khá lớn
trong đào tạo nguồn nhân lực cho ngành năng lượng tái tạo ở Việt Nam. Các trường đại học ở Việt
Nam chỉ mới bắt đầu chương trình đào tạo về lĩnh vực này, chưa có đủ khả năng đào tạo chuyên
sâu về kiến thức và kỹ năng về vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa các thiết bị chuyên dụng như
(turbin, generator, module, inverter). Lao động hầu hết được đào tạo tại công ty thông qua quá
trình chuyển giao công nghệ từ các chuyên gia nước ngoài. Tại các địa phương có nhiều dự án
điện tái tạo, gần như ngành giáo dục cơ sở và ngành lao động cũng chưa có định hướng rõ ràng về
việc đào tạo nguồn nhân lực, lao động địa phương để tham gia vào chuỗi sản xuất này. Do đó, để
tránh được các nút thắt trong vấn đề thiếu hụt lao động thì ở cả cấp trung ương và địa phương, Việt
Nam cần quan tâm đầu tư và chuẩn bị các điều kiện để sẵn sàng triển khai đào tạo nguồn nhân lực
để kịp thời nắm bắt cơ hội đóng góp vào thị trường NLTT.
4. Việc đảm bảo chế độ phúc lợi cho người lao động trong các doanh nghiệp năng lượng
ngoài nhà nước cần có nhiều cải thiện để đảm bảo việc tuân thủ Luật lao động, quyền và chế độ
phúc lợi cho người lao động và đảm bảo chất lượng việc làm.

Từ những kết quả nêu trên, nhóm nghiên cứu khuyến nghị:

1. Các cơ quan Nhà nước có liên quan nên dành quan tâm xem xét tích hợp các lợi ích đa
chiều về kinh tế, xã hội, môi trường mà các kịch bản chuyển dịch năng lượng đề cập trong nghiên
cứu này mang lại trong quá trình xây dựng các chính sách của quốc gia về phát triển điện, phát
triển năng lượng, biến đổi khí hậu, tăng trưởng Xanh giai đoạn tới để đảm bảo sự đồng bộ và nhất
quán hướng tới nền kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và phát triển bền vững, đồng thời chuyển
dịch năng lượng không gây ra bất công xã hội.
2. Chính phủ nên ưu tiên lựa chọn kịch bản chuyển dịch năng lượng, ưu tiên đầu tư phát
triển ngành năng lượng tái tạo và thúc đẩy hiệu quả năng lượng, hạn chế việc đầu tư thêm các nhà
máy sản xuất điện than để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, an ninh năng lượng, giảm chi phí sản xuất điện, không tạo thêm các việc làm 3D. Đầu tư vào năng lượng tái tạo là cơ hội đầu tư đổi mới, tập
trung vào chất lượng công việc an toàn hơn và ít nguy hiểm hơn, điều này sẽ tạo ra công ăn việc
làm với kỹ năng cao hơn, giúp Việt Nam nâng cao mức sống của gia đình người lao động. Tạo
thêm việc làm xanh là hướng đi đúng, phù hợp với xu thế, để góp phần thực hiện chiến lược “tăng
trưởng, tạo việc làm có chất lượng” vì sự phát triển bền vững trong tương lai.
3. Các cơ quan truyền thông và các tổ chức khoa học công nghệ, tổ chức chính trị xã hội
tích cực tham gia phổ biến thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức cho công chúng về những
lợi ích, cơ hội cũng như thách thức từ chuyển dịch năng lượng.

4. Ngành giáo dục, khoa học- công nghệ, ngành lao động, công đoàn và chính quyền địa
phương có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy hiện thực hóa cơ hội việc làm mới tạo
ra từ chuyển dịch năng lượng. Đào tạo phát triển kỹ năng là chìa khóa để hỗ trợ áp dụng các công
nghệ mới và đẩy mạnh thay đổi trong công nghiệp. Các cơ quan này nên chủ động phát triển và
thực hiện các kế hoạch chiến lược và giải pháp đồng bộ, hiệu quả về công tác đào tạo nhân lực,
chuyển giao kiến thức, kỹ năng, công nghệ để chuẩn bị lực lượng lao động tiếp cận với những cơ
hội mới mở ra trong chuyển dịch năng lượng ở Việt Nam.

5. Gia tăng phát triển năng lượng sạch cần đặc biệt chú trọng đảm bảo công bằng nhất là
sinh kế của người dân và các nhóm cộng đồng bị ảnh hưởng để không bỏ lại ai ở phía sau. Để
tránh xung đột về đất đai, các cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng các tiêu chí lựa chọn quy hoạch
đất cho phát triển năng lượng tái tạo theo nguyên tắc ưu tiên sử dụng đất hoang hóa, cằn cỗi, bỏ
hoang, hiệu quả canh tác thấp, tránh việc phá rừng hay lấy đất canh tác nông nghiệp có hiệu quả.
Các địa phương cần có các kế hoạch đa dạng hóa phát triển kinh tế địa phương để hỗ trợ công việc
làm và sự ổn định cho cộng đồng trong quá trình chuyển dịch. Không thể để cộng đồng phải tự đối
mặt với những tác động của chuyển dịch vì điều này sẽ không dẫn tới sự phân chia công bằng chi
phí và lợi ích. Bên cạnh đó, cần tiến hành các nghiên cứu kinh nghiệm thành công của quốc tế để
áp dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam các phương thức phát triển tích hợp, sáng tạo, các mô
hình hợp tác để không chỉ giảm thiểu thiệt hại, đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ dân bị ảnh
hưởng mà còn hướng tới mang lại lợi ích cho người dân để họ trở thành một chủ thể quan trọng
tham gia tích cực vào quá trình chuyển dịch. Các mô hình đối tác, hợp tác, liên doanh giữa các bên
nông dân và nhà đầu tư điện cũng cần được nghiên cứu, thử nghiệm và nhân rộng khi có thành
công.

6. Cần hình thành kế hoạch chuyển đổi công bằng hướng tới “tăng trưởng tạo việc làm có
chất lượng”, và kế hoạch cần được Chính phủ thông qua và ban hành, dựa trên Nguyên tắc của
ILO về chuyển đổi công bằng hướng tới nền kinh tế bền vững về xã hội và môi trường.2 Một cuộc khảo sát chất lượng việc làm trong ngành năng lượng tái tạo hiện tại của Việt Nam là cần thiết để
tạo ra một cơ sở cho việc phát triển kế hoạch chuyển đổi thực tế và khả thi. Kế hoạch chuyển đổi
công bằng cần xác định thời gian thực hiện và nêu rõ vai trò của các bộ ngành liên quan trong lĩnh
vực lao động và môi trường để thực hiện có hiệu quả. Kế hoạch chuyển đổi công bằng cần được
xem xét thông qua tham vấn nhiều bên liên quan trong cả quá trình phát triển và thực hiện. Cần có
sự tham gia của người lao động, tổ chức đại diện người lao động và cộng đồng địa phương (ở
những nơi quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo và hoặc đóng cửa điện than) vào quá trình hoạch
định và thực hiện chính sách về phát triển năng lượng tái tạo để đảm bảo sự chuyển đổi công bằng.
Đối thoại xã hội và thương lượng tập thể rất quan trọng để đảm bảo chất lượng việc làm trong quá
trình chuyển đồi. Bảo trợ xã hội cần phải được thực hiện trong quá trình chuyển đổi. Cần có các
chính sách ngăn chặn mất việc làm, hỗ trợ thu nhập và năng cao khả năng có việc làm của người
lao động trong các lĩnh vực dễ bị tổn thương.3 Giúp người lao động có kỹ năng để tìm được việc
làm tốt hơn và bền vững hơn là chìa khóa tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi. Điều cơ bản là
đảm bảo cho người lao động có các kỹ năng phù hợp với yêu cầu của ngành năng lượng tái tạo và
các ngành tham gia vào phát triển kinh tế khác đã có kế hoạch khai thác than, đặc biệt đối với
những người hiện đang làm việc trong lĩnh vực sản xuất năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch, nhằm
duy trì khả năng làm việc của họ và ngăn chặn sự bất bình đẳng trong quá trình chuyển đổi.
7. Chuyển dịch công bằng không thể tự nhiên diễn ra. Nhà nước cần đóng một vai trò
quan trọng trong định hướng phát triển, xây dựng khuôn khổ pháp luật để đảm bảo một quá trình
chuyển đổi tạo ra các công việc có chất lượng, mang lại lợi ích cho nhà đầu tư, cho người dân,
người lao động và nền kinh tế. Với vai trò điều tiết đảm bảo hài hòa lợi ích của các thành phần
trong xã hội, chính phủ cần quan tâm tới việc đảm bảo một mức giá phải chăng và khả năng tiếp
cận điện tới tất cả dân cư, đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa. Đồng thời, Nhà nước cần tăng cường
giám sát thực thi pháp luật để bảo vệ quyền lợi có việc làm chính đáng và chất lượng của người
lao động. Ngoài ra, cần quan tâm xây dựng kế hoạch quản lý tái chế chất thải năng lượng tái tạo
như pin rác. Đặc biệt cần chú ý đến việc nhập khẩu các loại pin có công nghệ bảo vệ môi trường.
8. Nhà nước cần cần cân nhắc đầu tư thích đáng vào các lĩnh vực và công nghệ các bon
thấp phục vụ cho kế hoạch nội địa hóa các thiết bị và chuỗi sản xuất phục vụ ngành năng lượng tái
tạo và tiết kiệm năng lượng.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s