Tác động của nhiệt điện than đối với môi trường, sức khỏe cộng đồng và giải pháp cho Việt Nam

GREENID

  1. Hiện trạng và định hướng phát triển nhiệt điện than ở Việt Nam

Theo Quy hoạch điện VII Điều chỉnh (QHĐ VII Điều chỉnh), đến năm 2030 nhiệt điện than sẽ chiếm tỷ trọng gần 50% trong cơ cấu nguồn điện của Việt Nam. Lượng than dự báo cần tiêu thụ cho điện là 120 triệu tấn mỗi năm, trong đó khoảng hơn 80 triệu tấn phải nhập khẩu. Hướng đi này sẽ mang lại rủi ro rất lớn cho an ninh năng lượng quốc gia và sức khỏe của người dân.

h1

Hình 1: Cơ cấu sản lượng điện theo dạng nhiên liệu

2. Tác động của nhiệt điện than

2.1 Ô nhiễm không khí

Các nhà máy nhiệt điện than là nguồn phát thải lớn nhất trong lĩnh vực năng lượng và là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Tất cả các giai đoạn trong vòng đời sản xuất điện than từ khai thác, chế biến, vận chuyển, đốt và xử lý tro xỉ đều thải ra các chất gây ô nhiễm không khí bao gồm các loại bụi, khí độc (SO2, NOx, CO …) và các loại khí nhà kính (CO2, CH4 …). Bảng dưới đây cho biết hiện trạng tỷ lệ các chất gây ô nhiễm không khí từ nhiệt điện than:

Khí thải CO2 NOx PM10 PM2.5 SO2
NĐ than 26% 35% 16% 7% 48%
Nguồn khác 74% 65% 84% 93% 52%

Mỗi ngày nhiệt điện Vĩnh Tân II thải ra khoảng 4.000 tấn tro xỉ. Tháng 4 năm 2015, việc vận chuyển tro xỉ không có biện pháp che đậy cùng với tình hình thời tiết gió mạnh đã gây ra ô nhiễm tro bụi than ở xã Vĩnh Tân và các xã lân cận. Trước tình hình đó, người dân xã Vĩnh Tân đã biểu tình chặn đường quốc lộ 1A để yêu cầu nhà máy xử lý vấn đề.

Khu vực tiếp nhận nước thải của quá trình làm mát của nhiệt điện Quảng Ninh có nhiệt độ cao, dao động từ

38,1 – 38,9°C; nhiệt độ này cao hơn từ 7,9-12,9°C so với nhiệt độ nước trước khi vào nhà máy. Phần lớn người dân chài ở đây phải bỏ nghề.[2]

Trong các chất gây ô nhiễm, hạt mịn PM2.5 là loại bụi không thể nhìn bằng mắt thường nhưng lại có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe lớn nhất. Mức độ ô nhiễm PM2.5 do nhiệt điện than gây ra được cảnh báo ở mức độ nghiêm trọng vào năm 2030[1].h2

Hình 2: Nồng độ PM­2.5 từ các nhà máy nhiệt điện than hiện tại và trong tương lai

Vấn đề tro và xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện than là bài toán chưa có lời giải. Hiện nay các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam thải ra khoảng 15 triệu tấn tro xỉ hàng năm. Việc vận chuyển và lưu giữ tro xỉ gây ảnh hưởng đáng kế đến chất lượng không khí.

2.2 Ô nhiễm nguồn nước

Nhà máy nhiệt điện than cần một lượng nước lớn cho hệ thống làm mát. Trung bình cứ mỗi 3,5 phút một nhà máy nhiệt điện than 500MW sẽ hút lên một lượng nước đủ để chứa trong một bể bơi tiêu chuẩn Olympic (2.500 m3).  Sau quá trình làm mát nước được xả trở lại hồ, sông hoặc biển với nhiệt độ cao hơn nước đầu vào từ 5,6 – 11oC, phá hủy môi trường sống của cá và các loài thủy sinh.

2.3 Ô nhiễm từ các kim loại nặng và các độc tố khác.

Các chất thải của quá trình sản xuất điện than như bùn than, tro xỉ chứa nhiều kim loại nặng như chì, thủy ngân, niken, thiếc, cadmium, antimon, asen cũng như các đồng vị phóng xạ của thori và strontium. Những chất này có thể gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính. Một khi các chất độc này xâm nhập vào hệ sinh thái sông, chúng có thể đi vào chuỗi thức ăn và tích lũy trong các sinh vật sống, gây thiệt hại nghiêm trọng đến đời sống thủy sinh, cũng như đe dọa tính mạng con người.Phần lớn người dân sống gần các nhà máy nhiệt điện than cho rằng nhiệt điện than góp phần đáng kể gây ô nhiễm nguồn nước tại địa phương họ.[3]

h3

Hình 3: Tỷ lệ người dân được hỏi cho rằng nhiệt điện than gây ô nhiễm nguồn nước

2.4 Tác động sức khỏe

Những vấn đề ô nhiễm môi trường do nhiệt điện than gây ra tác động trực tiếp tới sức khỏe con người. Ô nhiễm không khí là nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh không lây nhiễm như đột quỵ, bệnh tim do thiếu máu cục bộ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm đường hô hấp dưới và ung thư phổi. Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất là trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai và người cao tuổi. Theo một nghiên cứu của đại học Harvard (2015), nhiệt điện than gây ra 4.300 ca chết yểu ở Việt Nam vào năm 2011và dự báo con số này sẽ tăng lên 21.100 vào năm 2030 nếu tất cả các nhà máy nhiệt điện than trong QHĐ VII được xây dựng.Phần lớn người dân sống gần các nhà máy nhiệt điện khẳng định nhiệt điện than có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.[4]h4

Hình 4: Tỷ lệ người dân được hỏi cho biết nhiệt điện than ảnh hưởng tới sức khỏe của họ

3. Giải pháp – Khuyến nghị

  • Giám sát chặt chẽ và bắt buộc tuân thủ kế hoạch quản lý môi trường của các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành đồng thời công khai thông tin cho người dân và chính quyền địa phương cùng giám sát.
  • Cập nhật các tiêu chuẩn phát thải của Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế.
  • Đánh giá tác động sức khỏe phải bắt buộc thực hiện trong quá trình đánh giá tác động môi trường xã hội của dự án.
  • Cần dừng lại các dự án nhiệt điện than trong quy hoạch chưa xây dựng để xem xét kỹ lưỡng lợi ích và tác động, nghiên cứu lựa chọn phương án phát triển sạch hơn.
  • Ưu tiên thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để giảm nhu cầu điện.[4]
  • Tái cơ cấu mô hình phát triển kinh tế: ưu tiên những ngành sử dụng ít năng lượng, cấm, hạn chế các ngành tiêu tốn nhiều năng lượng và tài nguyên như thép, xi măng…
  • Tạo môi trường phát triển thuận lợi cho năng lượng tái tạo để thay thế nhiệt điện than.[5]

[1] Báo cáo của đại học Harvard, 2015

[2] Báo cáo khảo sát tác động của nhiệt điện than tới nguồn nước (Cewarec, 2015)

[3],4 Báo cáo khảo sát tình hình hoạt động của các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam (GreenID, 2015).

[4] Quản lý nhu cầu có thể giúp cắt giảm 30.000 – 42.000 MW, tiết kiệm 45 – 50 tỷ USD từ việc không phải đầu tư cho xây dựng nhà máy điện than mới.

[5] Theo “Chiến lược Phát triển Năng lượng Tái tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” được Thủ tướng phê duyệt năm 2015, Việt Nam có bức xạ mặt trời ở mức từ 3.000 đến 5.000Kcal/m2.ngày. Giá điện từ NLTT ngày càng cạnh tranh hơn với điện than. Trên thế giới cứ khoảng 4 đến 5 năm, giá điện măt trời giảm đi còn một nửa. Giá điện sản xuất từ năng lượng mặt trời ở Dubai hiện chỉ còn xấp xỉ 3 cent Mỹ/1kWh (tương đương 670 đồng/1KWh, theo tỷ giá đô la hiện hành), bằng phân nửa so với giá thành sản xuất kinh doanh điện (1.539,35 đồng/kWh)3 được công bố ở Việt Nam đầu năm nay.Email: info@greenidvietnam.org.vn .Website: greenidvietnam.org.vn

TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO XANH (GREENID)

Phòng 707, tầng 7 tòa nhà D11 khu đô thị mới  Cầu Giấy, Hà Nội.,

Điện thoại: (+84) 379 563 72. Fax: (+84) 4 379 563 72

Advertisements

3 thoughts on “Tác động của nhiệt điện than đối với môi trường, sức khỏe cộng đồng và giải pháp cho Việt Nam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s