Sáng 4-9, một lễ khai giảng vô cùng đặc biệt đã được tổ chức tại nóc Ông Bình – điểm trường được bao quanh bởi rừng già Ngọc Linh ở xã Trà Dơn, huyện Nam Trà My, Quảng Nam. Lễ khai giảng này có những điều “lần đầu tiên” thật cảm động.
Hai giáo viên phụ trách ở điểm trường nóc Ông Bình dẫn học sinh vào dự lễ khai giảng – Ảnh: B.D.
“Âm thanh mà các con đang nghe là tiếng trống trường, nơi các con ngồi là lễ khai giảng mà có lẽ chưa một lần các con được thấy” – giọng thầy Hiệu trưởng Trường phổ thông Dân tộc bán trú tiểu học xã Trà Dơn (Nam Trà My) Trương Công Một cất lên bùi ngùi trong khoảnh sân bùn đất.
Khai giảng của “những điều đầu tiên”
Thầy Một nhìn về những ánh mắt tròn xoe, những cái đầu khét nắng đang hướng về mình. “Các con có vui không?” – thầy hỏi. Lũ trẻ ống chân lấm lem, đứa quay ngang, đứa nhìn dọc rồi đồng thanh trả lời: “Dạ vui!”.
Để đương đầu với nhiều thách thức có thể xảy ra trong tương lai, nhân loại thấy được giáo dục là một vốn quý không thể thiếu trong nỗ lực để đạt được những lý tưởng của hòa bình, tự do và công bằng xã hội. Điều này được kết luận của báo cáo, Hội đồng Ủy ban [UNESCO] khẳng định niềm tin của Ủy Ban rằng giáo dục đóng một vai trò cơ bản trong phát triển cá nhân và xã hội. Ủy Ban không xem giáo dục như là một phép lạ chữa lành hay như một công thức ma thuật mở ra cánh cửa cho một thế giới mà trong đó tất cả những lý tưởng sẽ đạt được. Mà Giáo dục là một trong những phương cách chủ yếu sẵn có để nuôi dưỡng một hình thức sâu sắc hơn và hài hòa hơn của phát triển con người và từ đó để giảm sự nghèo đói, sự thanh trừ, sự thiếu hiểu biết, áp bức và chiến tranh.
Vào thời điểm khi các chính sách giáo dục đang bị chỉ trích gay gắt hoặc đang bị đẩy xuống dưới đáy của chương trình nghị sự – vì lý do kinh tế và tài chính, Ủy Ban mong muốn chia sẻ niềm tin này với đối tượng khán giả rộng nhất có thể, thông qua các phân tích của mình, các cuộc thảo luận và các kiến nghị.
Mục đích có cần phải được nhấn mạnh? Ủy Ban đã suy nghĩ chủ yếu về các trẻ em và người trẻ, những người sẽ tiếp quản từ thế hệ hôm nay của người lớn, thế hệ mà đang có khuynh hướng chỉ tập trung vào các vấn đề của riêng họ. Giáo dục cũng là một biểu hiện của tình cảm dành cho trẻ em và thanh thiếu niên, những người mà chúng ta cần chào đón vào xã hội, cung cấp không hạn chế không gian cho họ bằng cách đặt họ vào đúng vị trí – một vị trí trong hệ thống giáo dục, chắc chắn rồi, mà còn trong gia đình, cộng đồng địa phương và quốc gia. Nhiệm vụ cơ bản này cần phải được liên tục gợi nhớ, để sự quan tâm nhiều hơn được dành cho nó, ngay cả khi phải lựa chọn giữa chính trị, kinh tế và tài chính. Theo lời của một nhà thơ: “Trẻ em là cha của nhân loại” (‘The Child is father of the Man’).
Thế kỷ của chúng ta cũng chứng kiến những tiến bộ dữ dội và mạnh mẽ cả về kinh tế và xã hội – tiến bộ trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được phân phối đồng đều. Vào buổi bình minh của thế kỷ mới với viễn cảnh đó gợi lên cả nỗi thống khổ và hy vọng, nó là điều cần thiết mà tất cả mọi người với một ý thức trách nhiệm chuyển sự chú ý của họ vào cả mục đích và phương tiện giáo dục. Đó là quan điểm của Ủy Ban rằng, trong khi giáo dục là một quá trình liên tục của việc nâng cao kiến thức và kỹ năng, Giáo dục cũng là – có lẽ chủ yếu là – một phương tiện đặc biệt để mang đến sự phát triển cá nhân và xây dựng mối quan hệ giữa các cá nhân, các nhóm và các quốc gia.
Quan điểm này đã được thông qua một cách rõ ràng bởi các thành viên của Ủy ban khi họ chấp nhận nhiệm vụ của mình. Ủy Ban mong hơn nữa, bởi những lập luận viện dẫn, nhấn mạnh vai trò quan trọng của UNESCO, một vai trò mà bắt nguồn trực tiếp từ những ý tưởng mà từ đó UNESCO được thành lập, dựa trên niềm hy vọng cho một thế giới trở thành một nơi tốt hơn để sinh sống, nơi mà người dân sẽ học được cách tôn trọng các quyền của nữ giới và nam giới, thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau, và sử dụng những tiến bộ trong kiến thức để thúc đẩy phát triển con người chứ không để tạo ra thêm sự phân biệt giữa mọi người.
Ủy ban của chúng tôi có nhiệm vụ có lẽ là bất khả thi về việc vượt qua những trở ngại do sự đa dạng bất thường của bối cảnh thế giới và cố gắng để đi đến các phân tích có giá trị phổ quát và là các kết luận có thể thỏa đáng cho tất cả mọi người.
Tuy thế, Hội đồng Ủy ban đã làm hết sức mình để phản ánh tư duy của mình về một tương lai được chi phối chủ yếu bởi sự toàn cầu hoá, để lựa chọn những câu hỏi mà tất cả mọi người đang yêu cầu và để thiết lập một số hướng dẫn có thể được áp dụng trong cả bối cảnh quốc gia và trên phạm vi toàn thế giới.
Hết năm học năm học 2022-2023, cả nước ghi nhận thiếu tới 118.253 giáo viên, nhưng vẫn còn hơn 74.000 chỉ tiêu biên chế được giao cho các địa phương chưa tuyển dụng được. Vậy giải bài toán vừa thiếu vừa thừa giáo viên này như thế nào?
Việc không tuyển đủ giáo viên giảng dạy ảnh hưởng không nhỏ đối với việc thực hiện chương trình GDPT 2018. nhiều trường thiếu giáo viên dạy môn học chương trình GDPT 2018 như: âm nhạc, mỹ thuật, lịch sử và địa lý, khoa học tự nhiên, giáo dục địa phương, hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp nhưng lại thừa giáo viên dạy đơn môn.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thừa-thiếu giáo viên
Để giải quyết tận gốc vấn đề thừa, thiếu giáo viên cục bộ này, ngành giáo dục cần xác định nguyên nhân chủ quan và khách quan, từ đó mới có giải pháp phù hợp.
Tình trạng thiếu giáo viên chủ yếu là ở vùng miền núi, hải đảo vì điều kiện đời sống khó khăn, công tác xa nhà nhưng chế độ đãi ngộ chưa tương xứng đảm bảo nhu cầu cuộc sống nên nhiều giáo viên nghỉ việc đó là lý do chính.
Một số thầy cô lớn tuổi không theo kịp với sự đổi mới của chương trình, công nghệ, áp lực công việc về hồ sơ sổ sách, vô số phong trào cuộc thi đã chiếm nhiều thời gian giảng dạy của thầy cô nên không ít giáo viên đã xin nghỉ việc.
Author Pete HolmesSenior Lecturer in Sport Coaching, Nottingham Trent University
Football coach Sarina Wiegman training the Netherlands team at the 2019 Women’s World Cup in France. Pro Shots/Alamy Live News
As the 2020 American NFL season drew to a close with Tom Brady winning his record seventh Super Bowl, it was interesting to note another sporting first: the three women involved in the game – two coaches and one official.
With eight women currently coaching in the NFL, there’s still a long way to go when it comes to parity, but it does seem that women are finally breaking into elite men’s sports coaching in the US.
Sadly, the same cannot be said about most major team sports in the UK. Many elite sports, including rugby and cricket have a poor record in this regard. But perhaps the most high profile sport yet to embrace female coaches is professional football (soccer).
One contributing factor may be that when experienced top flight female coaches are linked to men’s football, the expectation seems to be that they should start at the bottom. Consider the case of Emma Hayes, the manager of Chelsea – the reigning Women’s Super League champions. Despite this leading position, Hayes was recently linked with the vacant manager’s job at the men’s side AFC Wimbledon – a team which is currently struggling to clear the relegation zone of the third tier of English football in League One.
Báo cáo của Liên Hợp Quốc khuyến nghị cấm thiết bị trong trường học để giải quyết tình trạng mất tập trung trong lớp, cải thiện học tập và giúp bảo vệ trẻ em tránh bị bắt nạt qua mạng.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), có sự ‘liên kết tiêu cực’ giữa sử dụng điện thoại di động quá mức với chất lượng học tập. Tiếp xúc với màn hình quá nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định cảm xúc của trẻ.
Kêu gọi cấm smartphone trong trường học của UNESCO gửi đi thông điệp rõ ràng rằng công nghệ số, bao gồm cả trí tuệ nhân tạo (AI), luôn phải dựa trên tầm nhìn giáo dục “lấy con người làm trung tâm” và không bao giờ thay thế được tương tác trực tiếp với giáo viên.
UNESCO cảnh báo các nhà hoạch định chính sách về suy nghĩ không thấu đáo với công nghệ số. Tác động tích cực của nó đến kết quả học tập và hiệu quả kinh tế có thể bị phóng đại, cái mới không phải lúc nào cũng tốt hơn. “Không phải tất cả thay đổi đều tạo nên tiến bộ”, báo cáo kết luận.
Tác giả: Nam Sơn Trần Văn Chi – Published: 08 Tháng Ba 2019
Trích bài 3 – Lớp Dự bị – Đi học để làm gì
“Bác hỏi tôi đi học để làm gì. Tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc những thư từ người ta gởi cho tôi và viết những thư từ tôi gởi cho người ta. Tôi đi học để biết đọc sách, đọc nhật báo, thấy điều gì hay thì bắt chước. Tôi đi học để biết tính toán, biết mọi sự vật và biết phép vệ sinh mà giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh.
Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo và người dân lương thiện.
Bài 1: Thân phận lạc loài
Những ai, trong chúng ta, ở độ tuổi 60 trở về trước, hẳn còn nhớ bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ( QVGKT); Có thể đã từng đọc qua hoặc đã nghe đâu đó kể, hoặc đọc qua một vài đoạn, vài bài trong đó. Ðã nửa thế kỷ qua đủ để chúng ta quên nó. Và đủ để chúng ta nhớ nó; nhưng dù thế nào nay đọc lại cũng gây cho chúng ta ít nhiều hoài niệm về thời thơ ấu. Thời mà ngày hai buổi cấp sách đến trường, thời ăn chưa no, lo chưa tới của tuổi học trò.
Trong buổi sơ khai của chữ quốc ngữ (không phải chữ Hán, chữ Tây), bộ QVGKT là bộ sách giáo khoa, do nhà nước Pháp, mà trực tiếp là Nha Học Chánh Ðông Pháp, giao cho quí ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng biên soạn. Bộ QVGKT gồm có 3 quyển:
– Quyển dành cho lớp Ðồng Ấu ( Cours Enfantin) là quyển dạy về luân lý (Morale) qua các bài tập đọc và tập viết.
– Quyển dành cho lớp Dự Bị ( Cours Préparatoire)
– Và quyển dành cho lớp Sơ Ðẳng ( Cours Elementaire).
Hai quyển Dự Bị và Sơ Ðẳng gồm các bài tập đọc (lecture), chứa đựng nội dung bao gồm: Sử ký, Ðịa Dư, Cách trí, Vạn vật, Vệ Sinh, Ðạo Ðức, Gia Ðình…
Chưa có dịp tìm một cách chính xác xem coi bộ QVGKT xuất bản đầu tiên năm nào, nhưng theo bản mà chúng tôi đọc, xuất bản năm 1939 thì đã in lần thứ mười ba. Như vậy án chừng sách xuất bản đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ 20.
The 2023 GPT report is the 11th edition of the report. It is a continuation of the 2020 Global Philanthropy Tracker, published by the Indiana University Lilly Family School of Philanthropy, and the Index of Global Philanthropy and Remittances, initiated and conducted by the Center for Global Prosperity at the Hudson Institute. First published in 2006, the report provides comprehensive information on international philanthropy from developed and emerging economies to developing countries for development purposes. It documents the magnitude of cross-border financial flows from public and private sources. The report was among the first comprehensive research endeavors to present a more complete picture of the total economic engagement with developing countries through official development assistance, philanthropic giving, remittances, and private capital investment.
Starting from the 2020 GPT, the report introduces a more inclusive approach and expands the scope of the philanthropic outflows to include contributions made to all countries in support of all charitable causes, when data are available. It captures charitable contributions from private sources, including individuals, corporations, foundations, and a wide range of other philanthropic organizations. This series of reports provides unique baseline data on cross-border philanthropy for future research and serves as a useful tool for practitioners and policy makers in philanthropy and international development.
Trends & Themes
What is Covered in the 2023 Global Philanthropy Tracker (GPT)?
danviet.vn Thứ hai, ngày 13/03/2023 16:39 PM (GMT+7)
Sau hơn một năm thí điểm ở trung tâm quận 1 (TP.HCM), xe đạp công cộng đã thu hút hơn 300.000 tài khoản đăng ký sử dụng. Mô hình này nhận nhiều phản hồi tích cực và mong muốn nhân rộng từ người dân.
Hơn 300.000 tài khoản đã đăng kí, TP.HCM dự kiến mở rộng mô hình xe đạp công cộng trong năm 2023
Xe đạp công cộng thu hút người dân TP.HCM
Thời gian qua, nhiều người dân đi lại khu vực trung tâm TP.HCM đã quen thuộc với hình ảnh dãy xe đạp cộng cộng được bố trí trên vỉa hè nhiều tuyến đường, có màu xanh đẹp mắt. Để sử dụng xe đạp, người dân chỉ cần tải ứng dụng, quét mã code mở khóa.
Chị Võ Thị Mai Hoa (28 tuổi, nhân viên văn phòng, ngụ Bình Thạnh), cho biết là công việc văn phòng, làm việc với máy tính nên chị ít có thời gian vận động. Bởi vậy, dịp cuối tuần chị Hoa thường vào quận 1 để cà phê với bạn bè sẽ thỉnh thoảng lại ghé thuê xe. Đây là hình thức vừa tập thể dục, vừa có thể ngắm phố phường, giúp thư thái đầu óc sau thời gian làm việc căng thẳng.
Chính phủ vừa đồng ý phương án các trường đại học thực hiện lộ trình tăng học phí phù hợp theo nghị định 81. Việc tăng học phí là bất khả kháng nhưng vẫn khiến không ít người lo ngại.
Học sinh đang tìm hiểu về chương trình đào tạo, học phí tại gian tư vấn của một trường đại học trong Ngày hội tư vấn tuyển sinh – hướng nghiệp năm 2023 của báo Tuổi Trẻ – Ảnh: DUYÊN PHAN
Nghị định 81 cho phép từ năm học 2022 – 2023 các cơ sở giáo dục công lập được tăng học phí theo lộ trình, nhưng do ảnh hưởng của dịch COVID-19, Chính phủ đã yêu cầu giữ ổn định học phí trong hai năm học vừa qua.
Việc này đã gây khó khăn cho các trường trong cân đối nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục trong điều kiện đầu tư hạn chế, ngân sách chi thường xuyên bị cắt giảm hằng năm.
Nếu chương trình không được thiết kế tinh giản, lược bớt những môn học không giúp cải thiện cơ hội việc làm cho sinh viên mà vẫn hạch toán tính vào chi phí đào tạo là không công bằng.
Ông Hoàng Ngọc Vinh
Băn khoăn học phí các chương trình “đạt kiểm định”
TS Hoàng Ngọc Vinh – nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT) – cho rằng thực hiện tự chủ đại học mà Nhà nước cắt giảm đầu tư, các trường không tăng học phí thì không thể đảm bảo chất lượng giáo dục.
People who use drugs in Thailand are receiving more help to reduce the harm caused by their habit thanks to a change in formerly punitive drug laws and support from the UN Office on Drugs and Crime (UNODC).
“I first started taking drugs when I was 15,” says 49-year-old Prapat Sukkeaw. “I smoked marijuana, but it was laced with heroin. I felt like I was floating, and it meant that I could forget about all the problems that I faced as a teenager. It was a beautiful feeling.”
Prapat Sukkeaw is one of an estimated 57,000 people who currently injects drugs in Thailand. His drugs of choice, marijuana and heroin, reflect a period in Thailand’s recent history when both illegal narcotics were the main stimulants being trafficked out of the storied Golden Triangle, a remote and somewhat inaccessible region which includes northern Thailand as well as Myanmar and Laos.
UN News/Daniel Dickinson
49-year-old Prapat Sukkeaw has used drugs since the age of 15.
Employed by a non-governmental organization (NGO), he has on occasion wanted to give up heroin due to pressure from family and friends. Now, he has recognized that, even if he admits to being addicted, taking drugs “is my preference and my right”. He has now started taking the synthetic drug methamphetamine, as heroin has become progressively more expensive.
Mường Nhé District has transformed its learning environment from cramped classrooms to spacious schools. The local authorities and organisations have helped create better conditions for children to thrive.
Equipped with better facilities and resources, these classrooms inspire quality education, attracting more students to school. A testament to unity and determination, Mường Nhé is building brighter futures for its children.
It understands the value of education and manages its teachers well
They’re on the ball image: alamy
Jun 29th 2023 | SINGAPORE
Ho chi minh, the founding father of Vietnam, was clear about the route to development. “For the sake of ten years’ benefit, we must plant trees. For the sake of a hundred years’ benefit, we must cultivate the people,” was a bromide he liked to trot out. Yet despite years of rapid economic growth, the country’s gdp per person is still only $3,760, lower than in its regional peers, Malaysia and Thailand, and barely enough to make the average Vietnamese feel well-nurtured. Still, Ho Chi Minh was alluding to a Chinese proverb extolling the benefits of education, and on that front Vietnam’s people can have few complaints.
Their children go through one of the best schooling systems in the world, a status reflected in outstanding performances in international assessments of reading, maths and science. The latest data from the World Bank show that, on aggregate learning scores, Vietnamese students outperform not only their counterparts in Malaysia and Thailand but also those in Britain and Canada, countries more than six times richer. Even in Vietnam itself, student scores do not exhibit the scale of inequality so common elsewhere between the genders and different regions.
A child’s propensity to learn is the result of several factors—many of which begin at home with parents and the environment they grow up in. But that is not enough to explain Vietnam’s stellar performance. Its distinctive secret lies in the classroom: its children learn more at school, especially in the early years.
In a study in 2020, Abhijeet Singh of the Stockholm School of Economics gauged the greater productivity of Vietnam’s schools by examining data from identical tests taken by students in Ethiopia, India, Peru and Vietnam. He showed that between the ages of five and eight Vietnamese children race ahead. One more year of education in Vietnam increases the probability that a child can solve a simple multiplication problem by 21 percentage points; in India the uplift is six points.
This paper examines the nature and drivers of Vietnam’s paradoxical performance in the Program for International Student Assessment (PISA) – consistently high student achievement despite being the poorest of all participating countries and a centralized education system. The authors first document ‘Vietnam advantage’ in a wide-range of supply and demand-related indicators such as school participation rate, educational inequality, inputs and expenditure in cross-country regression models. They then estimate an augmented educational production function to show that these supply and demand-side advantages don’t explain away Vietnam’s positive deviance in PISA when compared to other participating developing and developed countries. The authors then conduct student-level analysis to examine Vietnam’s performance in PISA 2012 in a regional context, vis-a-vis three high-spending but low-performing ASEAN member countries (Malaysia, Indonesia and Thailand) and two high performing Asian countries (South Korea and Singapore). Pooled regression estimates show that, holding differences in various indices of socioeconomic background, the gap in average student test scores between Vietnam and South Korea in Reading and Science becomes statistically insignificant. Moreover, once school-specific differences are also accounted for, Vietnamese students do just as well as Singaporean across all subjects – equalizing for existing socioeconomic differences between countries would give Vietnam an even better advantage in the PISA. A similar gain in PISA scores is absent in the case of Malaysia, Indonesia and Thailand. The paper concludes by offering a cultural explanation for the significant variation in educational performance among high-spending East Asian countries.
Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng.
12 tập phim hoạt hình “Hành trình của Mỷ” được đông đảo các em chờ đón theo dõi.
“Ở trường tôi có em Cháng T.G 14 tuổi là một học sinh năng động, học tập tốt, ngoan và được các bạn trong trường bầu làm liên đội trưởng. Vậy mà chỉ sau dịp nghỉ tết Nguyên Đán, em G đã bỏ học để lấy chồng, một thanh niên cùng xóm. Nhà trường đã báo cáo chính quyền xã can thiệp nhưng em nhất quyết không đi học nữa để ở nhà lấy chồng. Một buổi chiều đầu năm, chúng tôi đến vận động em G đi học. Trước mái nhà em nhỏ bé, sân vườn ướt không có nổi một chỗ khô ráo để bước chân vào… Tôi hỏi ‘sao em không đi học’, em đáp ‘em cũng muốn học nhưng gia đình em bắt em lấy chồng’ vì con gái học nhiều làm gì, vì học thì cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô’”…
“Lấy chồng từ thuở mười ba”, câu chuyện của giáo viên trong một xã của huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang kể lại cho chúng ta thấy, kết hôn trẻ em là một thực tế phổ biến ở nhiều tỉnh miền núi trong cả nước. Thậm chí, tỉ lệ tảo hôn ở một số tộc người như người H’mông, Cơ Lao, Mảng… vẫn lên tới 50%, các em đều rời bỏ ghế nhà trường sau khi kết hôn.
TTCT – Năm 1998, lần đầu tiên Luật Giáo dục được thông qua (có hiệu lực năm 1999), cũng là lần đầu có quy định sinh viên sư phạm, người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm không phải đóng học phí.
Bỏ một chính sách nhiều bất cập
Giáo viên dạy học trực tuyến trong giai đoạn đại dịch COVID bùng phát Ảnh: Chu Hà Linh
Vào thời điểm đó, chính sách này được đánh giá cao, bởi người ta tin rằng nó sẽ khuyến khích các học sinh giỏi nhưng có điều kiện khó khăn lựa chọn ngành sư phạm. Tuy nhiên sau 20 năm, chính sách này đã bộc lộ nhiều bất ổn.