Những dấu ấn lịch sử của các cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ (2 kỳ)

Những dấu ấn lịch sử của các cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ (kỳ 1)

QUANG HUYỀN22/06/2021 13:50

Baoquocte.vn. Trong gần 80 năm qua, các cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ đều diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt, và mỗi cuộc họp đều tạo nên những bước ngoặt lịch sử.

Vậy là Hội nghị thượng đỉnh Nga-Mỹ giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Mỹ Joe Biden đã kết thúc vào ngày 16/6 tại Geneva, Thụy Sỹ. Theo giới chuyên gia, cuộc gặp đã diễn ra trong không khí thẳng thắn, xây dựng, không khiêu khích và thực tế.

Tuy nhiên, kết quả cuộc gặp lại được đánh giá là không mang nhiều đột phá.

(06.16) Hai nhà lãnh đạo trong căn phòng tại biệt thự La Garange, nơi sẽ diễn ra cuộc họp dự kiến kéo dài 4 tiếng. (Nguồn: AP)
Thượng đỉnh Nga-Mỹ giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra ngày 16/6 tại Geneva, Thụy Sỹ. (Nguồn: AP)

Dù vậy, đây cũng là một cuộc họp quan trọng, thu hút được sự quan tâm của dư luận quốc tế. Moscow và Washington đã có thể gặp nhau, thu hẹp bất đồng, thăm dò khả năng hợp tác trong các vấn đề có lợi ích chung.

Họp báo sau cuộc gặp cho thấy cả hai đều hài lòng với kết quả. Ông Biden và ông Putin thảo luận về nhiều nội dung, từ các vấn đề song phương như ổn định chiến lược, dân chủ – nhân quyền, kinh tế-thương mại, Ukraine, hoạt động của Nga tại Bắc Cực, tới thách thức toàn cầu như đại dịch Covid-19 và an ninh mạng.

Đây không phải là lần đầu tiên lãnh đạo Nga và Mỹ gặp mặt. Thế nhưng, cuộc họp thượng đỉnh này diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước đang gặp phải nhiều trắc trở. Nó gợi nhớ lại chuỗi các cuộc họp thượng đỉnh căng thẳng và gây xôn xao dư luận giữa các nhà lãnh đạo của hai cường quốc từ Thế chiến II đến nay.

‘Sắp xếp’ thế giới thời hậu chiến

Ở một khía cạnh nào đó, căng thẳng giữa Mỹ và Liên Xô, khởi nguồn của Chiến tranh Lạnh, được sinh ra ngay từ cuộc gặp thượng đỉnh giữa các nhà lãnh đạo hai nước trước khi Thế chiến II thực sự kết thúc.

Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin cùng Thủ tướng Anh Winston Churchill (ngoài cùng bên trái) và Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt (giữa) dự Hội nghị Yalta tại Liên Xô năm 1945. (Nguồn: Getty)
Nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin (ngoài cùng bên phải), Thủ tướng Anh Winston Churchill (ngoài cùng bên trái) và Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt dự Hội nghị Yalta tại Liên Xô năm 1945. (Nguồn: Getty)

Khi đó, nhà lãnh đạo Liên Xô Josef Stalin đã gặp Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt hai lần, sau đó là Tổng thống kế nhiệm Harry Truman. Mỗi cuộc gặp đều khiến vận mệnh của thế giới rơi vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”.

Ông Roosevelt gặp ông Stalin vào năm 1943 và đầu năm 1945, cả hai lần đều có sự góp mặt của Thủ tướng Anh Winston Churchill.

Vào Hội nghị Tehran năm 1943, Đại diện Liên Xô tuyên bố sẽ không ký kết hiệp ước hòa bình với Đức, còn phía Anh-Mỹ cam kết sẽ thành lập một mặt trận thứ hai tại Pháp trong năm tới.

Vào tháng 2/1945, khi Thế chiến II bước vào giai đoạn kết thúc với việc Đức sắp thua cuộc, “Bộ ba” nước đồng minh đã cùng dự Hội nghị Yalta tại Cung điện Livadia bên bờ Biển Đen. Tại đây, Liên Xô cam kết cùng tham gia vào cuộc chiến tranh chống phát xít Nhật ở châu Á, nhưng lại không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về những vùng lãnh thổ tại châu Âu mà Hồng quân Liên Xô chiếm lại được từ tay Đức Quốc xã.

Vào tháng 7/1945, sau khi Đức đầu hàng vô điều kiện và Tổng thống Roosevelt qua đời, ông Harry S. Truman trở thành người kế nhiệm và thay mặt Mỹ tiếp tục tham dự Hội nghị Potsdam, gần Berlin, nơi đã bị san phẳng bởi bom đạn.

Trong quá trình diễn ra hội nghị, ông Truman được thông báo rằng, vụ thử bom hạt nhân đầu tiên ở New Mexico đã diễn ra thành công. Các nhà sử học vẫn còn tranh cãi rằng liệu ông Truman, người mới nhậm chức Tổng thống chưa đầy 4 tháng, có nên dùng thông tin này để gây áp lực về phía Liên Xô hay không.

 Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin cùng Tổng thống Mỹ Harry Truman tại Hội nghị Potsdam, Đức. (Nguồn: Getty)
Lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin cùng Tổng thống Mỹ Harry Truman tại Hội nghị Potsdam, Đức. (Nguồn: Getty)

Trong bối cảnh này, hai quốc gia mạnh nhất bước ra từ chiến tranh là Mỹ và Liên Xô đã gia tăng tranh giành khu vực ảnh hưởng trên thế giới.

Hội nghị Yalta, sau đó là Hội nghị Hòa bình Paris và Hội nghị Postdam, đã cho ra đời luật bất thành văn: Đông Âu, Mông Cổ và CHDCND Triều Tiên thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, phần còn lại của thế giới thuộc về phương Tây.

Nhờ những phát minh khoa học kỹ thuật trỗi dậy mạnh mẽ, 2 siêu cường thế giới lúc bấy giờ là Mỹ và Liên Xô đều có điều kiện để gia tăng sức mạnh về quân sự, vũ khí… và trở thành đối trọng lẫn nhau.

Nếu không có sự tồn tại (về mối đe dọa hủy diệt) của vũ khí hạt nhân, xung đột giữa hai siêu cường có thể leo thang và dẫn đến một cuộc chiến thật sự, tương tự như hai cuộc chiến đã diễn ra trong thế kỷ XX. Do đó, có thể nói hai siêu cường thường xuyên bị đặt trong tình trạng “bên miệng hố chiến tranh”.

Chiến tranh Lạnh và thời Tổng thống Eisenhower

Ngày 12/3/1947, Tổng thống Harry S. Truman cho ra đời Học thuyết Truman, trong đó lần đầu tiên khẳng định Liên Xô là địch thủ và Mỹ sẵn sàng chống Liên Xô, cũng như trợ giúp những nơi bị Liên Xô đe đọa. Nhiều chuyên gia cho rằng, đây chính là khởi điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh.

Dưới con mắt của những chính trị gia bảo thủ Mỹ, hai Hội nghị Yalta và Potsdam là thắng lợi lớn của ông Stalin và chủ nghĩa cộng sản. Họ đổ lỗi cho sự yếu kém trong bộ máy chính quyền của ông Roosevelt và ông Truman, những người theo đảng Dân chủ.

Những căng thẳng trên đã lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953). Tận dụng điều này, ứng cử viên đảng Cộng hòa Dwight D. Eisenhower đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1952.

Một năm sau, ông Stalin đột ngột qua đời. Không lâu sau đó, ông Nikita Khrushchev được bầu làm Tổng Bí thư. Mặc dù được xem là “ôn hòa” hơn so với người tiền nhiệm, nhưng ông Khrushchev vẫn muốn cạnh tranh với phương Tây.

Lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev trò chuyện cùng Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower tại Nhà Trắng năm 1959. Đồng hành với họ là hai phu nhân Nina Khrushcheva và Mamie Eisenhower. (Nguồn: AP)
Nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev trò chuyện cùng Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower tại Nhà Trắng năm 1959. Đồng hành với họ là hai phu nhân Nina Khrushcheva và Mamie Eisenhower. (Nguồn: AP)

Vào năm 1955, tại Geneva, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã cùng nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev tham gia cuộc họp thượng đỉnh song phương lần đầu tiên, cùng với đó là sự góp mặt của các nhà lãnh đạo Anh và Pháp. Cuộc họp tập trung vào các vấn đề về thương mại, kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân.

Năm 1959, trong chuyến thăm đầu tiên đến Mỹ với tư cách là lãnh đạo Liên Xô, ông Khrushchev đã tham quan trang trại tại bang Iowa và tham gia Hội nghị thượng đỉnh David nhằm cải thiện quan hệ song phương Xô – Mỹ. Hai bên đồng thời quyết định sẽ tiến hành một cuộc họp thượng đỉnh tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ tại Paris vào năm sau đó.

Nhưng mọi nỗ lực hàn gắn đều tiêu tan khi chiếc máy bay tình báo U-2 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ Liên Xô. Khi cuộc họp 4 bên được tổ chức vào tháng 5/1960, ông Khrushchev đã đột ngột rời hội nghị, mối quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô tiếp tục rơi vào tình trạng căng thẳng

Thời Tổng thống Kennedy và Johnson: Nhiều vấn đề đan xen

Vào năm 1961, Tổng Bí thư Nikita Khrushchev và Tổng thống thứ 35 của nước Mỹ John F. Kennedy gặp nhau tại Thượng đỉnh Vienna. Lần này, phía Liên Xô vẫn đang chiếm ưu thế. Ông Kennedy vẫn còn cảm thấy “nhức nhối” vì thất bại trong kế hoạch lật đổ chính phủ Cuba.

Trong khi đó, ông Khrushchev lại coi đây là một yếu điểm của vị Tổng thống trẻ (khi đó ông Kennedy mới 44 tuổi). Ông Khruschev dường như không bị ảnh hưởng bởi những lời cảnh báo về một cuộc chiến tranh hạt nhân của ông Kennedy. Mùa Hè năm đó, bức tường Berlin đã được dựng lên.

Lãnh đạo Liên Xô Khrushchev bắt tay Tổng thống Mỹ John F. Kennedy khi gặp gỡ tại hội nghị thượng đỉnh kéo dài hai ngày ở Vienna (Áo) năm 1961. (Nguồn: Getty)
Nhà lãnh đạo Liên Xô Khrushchev bắt tay Tổng thống Mỹ John F. Kennedy tại hội nghị thượng đỉnh kéo dài hai ngày ở Vienna (Áo) năm 1961. (Nguồn: Getty)

Nhưng trọng tâm của cuộc đối đầu sớm chuyển hướng sang Cuba.

Vào năm 1962, máy bay do thám của Mỹ phát hiện các bệ phóng tên lửa và tên lửa của Liên Xô được lắp đặt ở Cuba. Ngay lập tức, ông Kennedy đã hạ lệnh phong tỏa đường biển và tuyên bố rằng nước Mỹ sẵn sàng tham chiến.

Nguy cơ về một cuộc chiến tranh hạt nhân giữa hai cường quốc lớn nhất thế giới lúc bấy giờ rõ ràng hơn bao giờ hết.

May mắn thay, ông Khrushchev đã suy nghĩ lại, thu hồi các tên lửa và rút các bệ phóng. Sau đó, hai nước đàm phán và ký kết Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân ngày 5/8/1963, mà không cần đến bất kỳ cuộc gặp thượng đỉnh nào.

Tuy nhiên, hai lãnh đạo không bao giờ gặp lại nhau. Tháng 11/1963, ông Kennedy bị ám sát. Không có một hội nghị thượng đỉnh chính thức nào giữa hai nước được tổ chức trong 6 năm tiếp theo.

Khi ông Khrushchev bị lật đổ, ông Alexei Kosygin đã trở thành lãnh đạo mới của Liên Xô. Ông Kosygin quan tâm đến chính trị nội bộ của và muốn tận dụng trường quốc tế để nâng cao vị thế của chính mình cũng như uy tín của đất nước.

Tại Mỹ, sau khi người tiền nhiệm John F. Kennedy bị ám sát, ông Lyndon B. Johnson đã kế vị chức Tổng thống và tiếp tục nhiệm kỳ tiếp theo với chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử năm 1964, một phần nhờ chính sách chống cộng quyết liệt.

Tổng thống Johnson muốn tiếp tục lệnh cấm thử hạt nhân, nhưng mong muốn lớn nhất của ông vẫn là có được sự giúp đỡ của Liên Xô để kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam.

Chiến tranh Việt Nam là một vấn đề bị bỏ lửng, nhưng ông Johnson đã tự cho mình quyền quyết định việc tăng cường đánh bom miền Nam Việt Nam. Điều này càng làm chia rẽ nội bộ nước Mỹ, đồng thời gây áp lực lên chức vụ Tổng thống của ông.

Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson (phải) và lãnh đạo Liên Xô Alexei Kosygin gặp nhau tại Trường Cao đẳng Glassboro. (Nguồn: AP)
Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson (bên phải) và nhà lãnh đạo Liên Xô Alexei Kosygin gặp nhau tại Trường Cao đẳng Glassboro. (Nguồn: AP)

Vào tháng 6/1967, Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson và ông Kosygin cùng gặp nhau tại khuôn viên của Trường Cao đẳng Glassboro (nay là Đại học Rowan) ở New Jersey, trong một hội nghị thượng đỉnh kéo dài ba ngày, nhân dịp ông Kosygin đến Mỹ để tham dự và phát biểu tại một phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc.

Tuy rằng việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh ở một trường đại học là khá bất thường, nhưng địa điểm này được chọn bởi đây là trung điểm giữa Washington và New York.

Cuối cùng, ông Johnson quyết định không tham gia tranh cử cho nhiệm kỳ thứ 2 vào năm 1968. Ông Richard Nixon đắc cử vào năm đó và hứa rằng sẽ có một “kế hoạch bí mật” giúp Mỹ giành thắng lợi ở chiến trường Việt Nam.

Tổng thống Nixon mở ra thời kỳ ‘hòa hoãn

Khi ông Richard Nixon nhậm chức tổng thống vào năm 1969, công chúng Mỹ đã mệt mỏi với cuộc chiến ở Việt Nam hơn bao giờ hết. Do vậy, vị Tổng thống thứ 37 dành phần lớn thời gian để tái định hình quan hệ Mỹ-Liên Xô và Mỹ-Trung Quốc, xây dựng một thế cân bằng quyền lực và lấy vấn đề rút quân khỏi Việt Nam làm đòn bẩy.

Ông Nixon (trái) và ông Brezhnev hội ngộ tại Moscow năm 1974. (Nguồn: AP)
Ông Nixon (trái) và ông Brezhnev hội ngộ tại Moscow năm 1974. (Nguồn: AP)

Nhưng thời điểm quan trọng trong chiến lược của ông Nixon đến vào năm 1972 khi ông đến thăm cả Moscow và Bắc Kinh, trở thành Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên được tiếp đón tại Điện Kremlin và tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh.

Dù phần nào bị lu mờ bởi cuộc gặp mặt với Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, nhưng cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Nixon với Nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev được đánh giá là có kết quả tích cực hơn.

Sự việc đó đã khiến Trung Quốc buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với Mỹ. Nó cũng khiến cho ông Nixon tưởng rằng rằng mình có thể chiến thắng ở Việt Nam bằng các chiến dịch ném bom tàn bạo và các cuộc xâm nhập bí mật vào các nước láng giềng như Campuchia.

Ông Nixon coi các cuộc gặp với ông Brezhnev như một cách để kìm hãm cuộc Chiến tranh Lạnh. Hai nhà lãnh đạo đã ký Hiệp ước Giới hạn Vũ khí Chiến lược đầu tiên (SALT I), nhằm hạn chế vũ khí hạt nhân và tên lửa chống tên lửa đạn đạo.

Tổng thống Nixon cũng tin rằng ông đã mở ra một kỷ nguyên mới, khi chiến thắng được đối thủ trên bàn đàm phán, cũng như khiến Liên Xô “run sợ” trước một mặt trận thống nhất của các cường quốc phương Tây, trong bối cảnh Bắc Kinh cũng không còn quá “mặn mà” để hỗ trợ Moscow.

(còn tiếp)

***

Những dấu ấn lịch sử của các cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ (kỳ 2)

QUANG HUYỀN24/06/2021 13:46

Baoquocte.vn. Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, Tổng thống Mỹ nào cũng mong muốn cải thiện quan hệ với Nga nhưng thực tế cho thấy, điều đó không phải đơn giản…

Những dấu ấn lịch sử của các cuộc họp thượng đỉnh Nga-Mỹ (kỳ 1)

Những ‘cú hích’ thời Tổng thống Ford và Carter

Năm 1974, ông Gerald Ford trở thành Tổng thống thứ 38 của nước Mỹ sau khi ông Nixon buộc phải từ chức vì vụ Watergate. Trong 2 năm cầm quyền, Tổng thống Ford đã có 2 cuộc gặp với Nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev.

Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (trái) và lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev ký kết Hiệp ước hạt nhân SALT II, ngày 18/6/1979. (Nguồn: AP)
Tổng thống Mỹ Jimmy Carter (trái) và lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev ký kết Hiệp ước hạt nhân SALT II, ngày 18/6/1979. (Nguồn: AP)

Hai nước lúc đó vẫn cam kết thực hiện lệnh cấm thử hạt nhân và nỗ lực ngăn chặn các nước khác sở hữu vũ khí hạt nhân. Cả hai mục tiêu đều được tái khẳng định tại các cuộc gặp thượng đỉnh Ford-Brezhnev tại Vladivostok năm 1974 và tại Helsinki năm 1975.

Tuy nhiên, ông Ford lại thất bại trong chiến dịch tranh cử trước ứng cử viên Đảng Dân chủ Jimmy Carter trong cuộc bầu cử năm 1976.

Việc Mỹ có một tân tổng thống chưa có quá nhiều kinh nghiệm về đối ngoại đã mở ra cơ hội mới cho Liên Xô. Năm 1979, Carter và Brezhnev đã ký Hiệp ước Giới hạn Vũ khí Chiến lược thứ hai (SALT II) sau khi trải qua nhiều năm đàm phán.

Nhưng vào cuối năm đó, Liên Xô đã đưa quân vào Afghanistan và hỗ trợ thành lập một chính phủ mới ở Kabul. Phía Mỹ đã đáp trả bằng cách tẩy chay Thế vận hội Mùa hè tại Moscow năm 1980.

Thời Tổng thống Reagan và Bush: Bước đột phá với ông Gorbachev

Nếu Tổng thống Carter phải đối mặt với những hành vi tồi tệ nhất của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thì người kế nhiệm của ông, Tổng thống Ronald Reagan có lẽ đã khai thác được những mặt sáng nhất trong quan hệ với Liên Xô.

Tổng thống Reagan từng công khai gọi Liên Xô là “Đế chế quỷ dữ” và đã vận động chống lại quốc gia này trong suốt sự nghiệp chính trị của mình. Đồng thời, ông Reagan vô cùng ám ảnh về khả năng xảy ra một cuộc chiến tranh hạt nhân và muốn chấm dứt mối đe dọa đó.

Điều này được chứng tỏ qua bức thư mà ông Reagan tự tay viết cho ông Brezhnev, ngay trước khi nhà lãnh đạo Liên Xô qua đời. Hành động này được nhiều trợ lý thân cận của ông đánh giá là có chút ngây thơ.

Tổng thống George H.W. Bush cùng đi dạo cùng lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev và cựu Tổng thống Ronald Reagan tại New York năm 1988. (Nguồn: AP)
Tổng thống George H.W. Bush đi dạo cùng lãnh đạo Liên Xô Mikhail Gorbachev và cựu Tổng thống Ronald Reagan tại New York năm 1988. (Nguồn: AP)

Nhưng vào thời kỳ đầu tại nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông Reagan đã tìm được “tiếng nói chung” với Tổng Bí thư Mikhail Gorbachev. Hai nhà lãnh đạo tổ chức hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tại Geneva vào tháng 11/1985. Tuy rằng, hai bên không đạt được thỏa thuận nào, nhưng mối quan hệ giữa hai nước ít nhiều đã có sự thay đổi.

Hai người đồng cấp gặp lại nhau tại Reykjavik, Iceland vào tháng 10/1986 và thực sự thảo luận về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân song phương, mặc dù vấp phải trở ngại mang tên Chương trình phòng thủ “Chiến tranh giữa các vì sao”.

Tháng 12/1987, hai nhà lãnh đạo đã gặp nhau tại Washington để ký kết các hạn chế về tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung. Năm 1988, họ gặp nhau hai lần nữa, một lần tại Điện Kremlin và lần thứ hai tại Thành phố New York với sự góp mặt của tổng thống mới đắc cử George H.W. Bush.

Sau đó, Tổng thống Bush còn gặp ông Gorbachev 7 lần nữa, với những thành tựu nổi bật là Công ước Vũ khí Hóa học được ký kết tại Washington vào năm 1990 và Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược (START I) ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Moscow năm 1991. Cuộc gặp cuối cùng giữa hai bên diễn ra ở Madrid (Tây Ban Nha) vào tháng 10/1991.

Nhưng những cuộc gặp mặt liên tục và thân thiện này giữa hai nhà lãnh đạo bị lu mờ bởi các sự kiện có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tháng 11/1989, bức tường Berlin chính thức bị kéo sập, một dấu mốc mang tính biểu tượng và là khởi đầu cho chuỗi sự kiện lịch sử, bao gồm sự thống nhất của nước Đức và Liên Xô sụp đổ.

Sau đó, trong cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên giữa hai lãnh đạo, được tổ chức ngoài khơi bờ biển Malta, ông Bush và ông Gorbachev cùng đưa ra một tuyên bố mang tính biểu tượng rằng, Chiến tranh Lạnh đã đi đến hồi kết.

Thời Tổng thống Bill Clinton: Mùa xuân nước Nga

Sau sự kiện Liên Xô sụp đổ, Chiến tranh Lạnh kết thúc, Liên bang Nga được thành lập và ông Boris Yeltsin trở thành tổng thống đầu tiên.

Tổng thống Bill Clinton (trái) và Tổng thống Nga Boris Yeltsin đi dạo qua khu rừng tại Đại học British Columbia ở Vancouver (Canada) ngày 3/4/1993. (Nguồn: AP)
Tổng thống Bill Clinton (trái) và Tổng thống Nga Boris Yeltsin đi dạo qua khu rừng tại Đại học British Columbia ở Vancouver (Canada) ngày 3/4/1993. (Nguồn: AP)

Ông Yeltsin đã tổ chức hai cuộc gặp thượng đỉnh với Tổng thống Mỹ Bill Clinton, lần đầu vào tháng 4/1993 tại Nhà Trắng. Sau đó, hai lãnh đạo đã tiếp tục gặp nhau ở Vancouver (Canada). Tại đây, giới chuyên gia nhận định, hai nhà lãnh đạo đã không còn thể hiện sự thù địch như trước đây nữa.

Tháng 3/1997, ông Clinton và ông Yeltsin gặp nhau một lần nữa ở Helsinki. Khi đó, cả hai nhà lãnh đạo đều tái cử thành công, nhưng liên tục vấp phải sự phản đối chính trị trong nước. Cả hai bị luận tội nhưng không bị cách chức.

Năm 1999, khi ông Yeltsin và ông Clinton gần kết thúc nhiệm kỳ, căng thẳng giữa Mỹ và Nga một lần nữa leo thang, liên quan đến vai trò của Mỹ trong cuộc chiến Kosovo tại vùng Balkans và về việc Nga đàn áp những người bất đồng chính kiến và phiến quân ở Chechnya.

Trong năm cuối cùng trên cương vị tổng thống, ông Yeltsin đã lần thứ 4 sa thải Nội các của mình và bổ nhiệm một thủ tướng mới là Vladimir Putin. Khi đó, ông Putin chưa được nhiều người biết nhưng đã sớm được coi là người kế vị ưa thích của ông Yeltsin. Ông Putin đã có những buổi trò chuyện ngắn với ông Clinton tại hai cuộc họp quốc tế năm 1999 và 2000.

Kỷ nguyên Putin: Hai thập kỷ Nga-Mỹ rối ren

Khi chính thức trở thành Tổng thống Nga, ông Vladimir Putin tiếp tục thông lệ của những người tiền nhiệm. Tháng 6/2001, ông Putin là một trong những lãnh đạo đầu tiên gặp mặt tân Tổng thống Mỹ George W. Bush ở Ljubljana, Slovenia.

Nhà lãnh đạo Nga Putin và Tổng thống Mỹ George W. Bush tại Crawford, Texas năm 2001. (Nguồn: AFP)
Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Mỹ George W. Bush tại Crawford, Texas năm 2001. (Nguồn: AFP)

Tuy nhiên, cuộc gặp mặt đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo được coi là khởi đầu không mấy suôn sẻ cho quan hệ song phương nói chung. Tuy nhiên, hai lãnh đạo đã xây dựng được ấn tượng ban đầu khá nổi bật.

Tại cuộc họp báo sau đó, Tổng thống Bush chia sẻ rằng, ông đã “nhìn thẳng vào mắt người đối diện. Tôi thấy ông ấy là người rất thẳng thắn và đáng tin cậy.” Trong khi đó, ông Putin đã sử dụng từ “đối tác” để ám chỉ Mỹ.

Tháng 11/2001, hai tháng sau vụ tấn công 11/9, ông Putin đến thăm ông Bush tại trang trại gần Crawford, Texas, cũng như đến thăm một trường trung học địa phương.

Không lâu sau khi ông Bush tái đắc cử, cuộc gặp thượng đỉnh Nga-Mỹ được tổ chức tại Bratislava, Slovakia vào tháng 2/2005. Các chủ đề được bàn luận trong cuộc họp bao gồm nền dân chủ ở Nga và châu Âu, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên và vấn đề Iran. Hai bên cũng đã nói chuyện tại các Hội nghị G8 và có một cuộc họp riêng tại khu nhà của gia đình Bush ở Kennebunkport, Maine, vào năm 2007.

Năm 2009, khi ông Barack Obama nhậm chức tổng thống thì ông Putin giữ vị trí Thủ tướng Nga do giới hạn nhiệm kỳ. Nhưng ông Obama đã đến thăm ông Putin ở ngoại ô Moscow vào tháng 7 năm đó, bày tỏ sự lạc quan về mối quan hệ giữa hai nước.

Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga ký Hiệp ước Cắt giảm vũ khí chiến lược mới (New START) tại CH Czech năm 2010. (Nguồn: Getty)
Tổng thống Mỹ Barack Obama và Tổng thống Nga ký Hiệp ước Cắt giảm vũ khí chiến lược mới (New START) tại CH. Czech năm 2010. (Nguồn: Getty)

Ông Dmitry Medvedev, tổng thống đương nhiệm bấy giờ đã không có cuộc gặp thượng đỉnh chính thức với ông Obama cho đến tháng 4/2010, khi cả hai lần đầu gặp nhau ở Prague. Tại đó, hai bên đã ký Hiệp ước START mới nhằm hạn chế kho vũ khí hạt nhân. Hai nhà lãnh đạo cũng đã tuyên bố sẽ không triển khai hệ thống vũ khí mới, bất luận vì tấn công hay phòng thủ.

Năm 2014, ông Putin chính thức trở lại làm tổng thống và khi đó, quan hệ Mỹ-Nga lại quay về guồng căng thẳng thường thấy. Kể từ đó, ông Obama và ông Putin không có cuộc gặp thượng đỉnh nào, mà chỉ là những cuộc gặp mặt bên lề các sự kiện lớn.

Tháng 6/2013, hai nhà lãnh đạo đã có buổi họp mặt bên lề tại Thượng đỉnh G8 ở Bắc Ireland. Hai bên được cho là đã thảo luận về cuộc nội chiến ở Syria và các chương trình hạt nhân ở Iran và Triều Tiên.

Ngoài ra, hai nhà lãnh đạo cũng đã lên kế hoạch về một cuộc họp thượng đỉnh vào cuối năm 2013, nhưng sau đó không tổ chức được. Nguyên nhân là do Nga đã đồng ý cho cựu nhân viên CIA Edward Snowden, người đã rò rỉ tài liệu tối mật của Cơ quan An ninh quốc gia (NSA) tị nạn.

Năm 2014, ông Obama đã thúc đẩy việc loại bỏ Nga khỏi nhóm các cường quốc công nghiệp G8. Đây là đòn đáp trả của phương Tây do Nga sáp nhập Crimea. Sau đó, hai nhà lãnh đạo đã có cuộc nói chuyện ngắn tại lễ kỷ niệm 40 năm ngày D-Day vào tháng 6/2014 về căng thẳng Nga-Ukraine.

Ông Obama và ông Putin cũng đã gặp nhau bên lề thượng đỉnh G20 ở St.Petersburg vào năm 2013, trước cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc ở New York vào tháng 9/2015 và tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Bắc Kinh vào mùa thu năm 2016. Tại đây, Tổng thống Mỹ được cho là đã nói với người đồng cấp Nga rằng, ông biết về sự can thiệp của Nga vào chiến dịch bầu cử năm đó và yêu cầu “dừng ngay hành động đó”.

Nếu ông Obama coi người Nga là “nhân vật phản diện” trên trường quốc tế, thì thái độ của Tổng thống Donald Trump là hoàn toàn ngược lại. Ông Trump luôn dành cho Nga, đặc biệt là ông Putin những lời khen ngợi có cánh.

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, ông Trump đã có một số cuộc gặp mặt với ông Putin, với lần đầu tiên là tại thượng đỉnh họp G20 ở Hamburg (Đức), diễn ra hồi tháng 7/2017. Một cuộc gặp “nhanh chóng” khác đã diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào tháng 11 tại Đà Nẵng. Tại đây, ông Trump nói rằng, ông Putin khẳng định “hoàn toàn không can thiệp vào cuộc bầu cử.”

Tổng thống Nga Putin trao quà tặng là quả bóng đá chính thức của World Cup 2018 cho Tổng thống Mỹ Donald Trump, sau khi 2 nhà lãnh đạo kết thúc cuộc họp thượng đỉnh ở Helsinki. (Nguồn: Getty)
Tổng thống Nga Putin trao quà tặng là quả bóng đá chính thức của World Cup 2018 cho Tổng thống Mỹ Donald Trump, sau khi 2 nhà lãnh đạo kết thúc cuộc họp thượng đỉnh ở Helsinki. (Nguồn: Getty)

Năm 2018, hai nhà lãnh đạo Nga-Mỹ đã tổ chức cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên và duy nhất tại Helsinki (Phần Lan). Hội nghị tập trung vào việc cải thiện quan hệ song phương giữa hai nước đã xuống cấp kể từ khi Nga sáp nhập Crimea và đánh giá của cộng đồng tình báo Mỹ rằng Nga đã cố gắng can thiệp vào kết quả cuộc bầu cử năm 2016.

Đây cũng là vấn đề mà thế giới quan tâm nhất. Tuy nhiên, tại cuộc họp báo, Tổng thống Donald Trump đã đưa ra một thông báo gây chấn động thế giới: Ông ủng hộ tuyên bố của ông Putin rằng, Nga không can thiệp bầu cử Mỹ năm 2016, bất chấp phát hiện từ các quan chức tình báo của chính ông.

Đặc biệt hơn, Tổng thống Trump và Tổng thống Putin đã có một cuộc họp riêng trong vòng 2 tiếng mà không có bất cứ trợ lý hay người lập biên bản. Trong căn phòng họp đó chỉ có 2 nhà lãnh đạo cùng phiên dịch viên của mỗi bên. Cuộc họp được lên kế hoạch 90 phút nhưng kéo dài hai tiếng.

Có thể nói, quan hệ Nga-Mỹ là mối quan hệ rất phức tạp. Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, Tổng thống Mỹ nào cũng mong muốn cải thiện quan hệ với Nga nhưng thực tế cho thấy, điều đó không phải đơn giản.

Tuy nhiên, dù không mang lại nhiều đột phá, nhưng cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Vladimir Putin và người đồng cấp Joe Biden vẫn đem lại một “tia hy vọng” về một quan hệ Nga-Mỹ ổn định và ôn hòa hơn trong tương lai.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s